CHƯƠNG 15
Những sự kiện từng đe dọa đánh đòn chí tử vào thị trấn Macônđô đã bắt đầu lộ rõ khi người ta mang đứa con trai của Mêmê Buênđya tới nhà. Tình hình chung lúc ấy hết sức mơ hồ, đến mức chẳng một ai quan tâm tới những chuyện rắc rối của riêng từng gia đình, vì thế mà Phecnanđa có điều kiện thuận lợi để giấu kín thằng bé đi, làm như thể chẳng bao giờ có nó cả. Bà phải nhận, bởi khi người ta mang nó đến nhà, hoàn cảnh không cho phép bà từ chối. Bà đành phải chấp nhận việc nuôi nấng nó trong suốt những năm còn lại của đời mình bởi vì vào lúc cần phải ra tay thì bà đã không có đủ dũng cảm để thực hiện ý định thầm kín, là sẽ dìm ngập nó ngay trong bể nước nhà tắm. Bà nhốt nó trong xưởng kim hoàn cũ của đại tá Aurêlianô Buênđya, và làm cho Santa Sôphia đê la Piêđat tin rằng bà đã bắt được nó nằm trong chiếc làn bềnh bồng nổi trên mặt nước. Có lẽ Ucsula đến chết vẫn không biết được gốc gác thằng bé. Cô bé Amaranta Ucsula có lần vào xưởng đúng lúc Phecnanđa đang cho cháu ăn, và cũng tin vào câu chuyện chiếc làn trôi sông kia. Do hoàn toàn xa lánh vợ nhằm phản đối cái lối vô lý mà bà áp dụng để xử lý tấn bi kịch của Mêmê, tận ba năm sau khi người ta mang nó đến nhà, Aurêlianô Sêgunđô mới biết có sự tồn tại của đứa cháu ngoại. Ông biết được do có một hôm Phecnanđa sơ suất, để thằng bé thoát khỏi sự giam cầm, tự bước ra hành lang, dù chỉ trong khoảnh khắc. Nó để truồng, với mớ tóc xoăn và "con chim" có cái mỏ như mỏ gà tây, như thể nó không phải là trẻ em mà là một kẻ ăn thịt đồng loại theo đúng như bộ từ điển bách khoa toàn thư đã miêu tả.
Phecnanđa chả đếm xỉa đến số phận phũ phàng không cách sửa đổi của mình. Thằng nhỏ cứ như là sự trở về của một nỗi nhục nhã mà bà ta muốn mãi mãi tống khứ nó ra khỏi nhà mình. Hầu như người ta vừa khiêng Maurixiô Babilônia bị gẫy cột sống đi khỏi nhà thì Phecnanđa đã thai nghén đến từng chi tiết nhỏ một kế hoạch nhằm xóa sạch mọi dấu vết nhuốc nhơ đó. Không hỏi ý chồng, ngay hôm sau, bà chuẩn bị hành lý, nhét vào va li nhỏ ba bộ quần áo mà cô con gái cần dùng để thay đổi, rồi trước khi tàu tới ga độ nửa giờ bà đến phòng ngủ tìm con gái, bảo:
- Ði thôi, Rênata.
Bà không nói thêm gì, cũng chẳng giải thích gì. Về phần mình, Mêmê không đợi và cũng không muốn có lời thêm bớt hay giải thích nào cả. Chẳng những cô không cần biết mẹ đưa mình đi đâu, kể dẫn luôn đến lò sát sinh cô cũng không phản đối. Cô sẽ không mở miệng trong phần đời còn lại của mình, kể từ lúc nghe thấy tiếng súng nổ ở sân sau, tiếp đó là tiếng kêu đau đớn của Maurixiô Babilônia. Khi mẹ lệnh cho ra khỏi giường ngủ, cô không chải đầu cũng không rửa mặt, vật vờ bước lên tàu hỏa như một kẻ mộng du mà không hề biết ngay đến cả đàn bướm vàng vẫn bay theo mình. Phecnanđa không bao giờ hiểu, và cũng không chịu tìm hiểu xem sự im lặng như đá của con gái có phải là do cô tự nguyện quyết định vậy, hay là cô bị câm do ảnh hưởng tai hại của tấn bi kịch.
Mêmê dường như không hay biết con tàu đang chạy qua cái vùng mình thích thú nhất trước đây. Cũng không nhìn những đồng chuối um tùm và ngút ngàn hai bên đường ray. Cô không nhìn những ngôi nhà sơn trắng của người Mỹ, không nhìn những vườn hoa héo úa vì bụi và hơi nóng, càng không nhìn những người đàn bà mặc quần đùi và áo sơ mi kẻ sọc xanh đang đánh bài ở ngoài cửa. Cô không nhìn những chiếc xe bò chở chuối trên những con đường lầm bụi. Không nhìn những cô gái trẻ như những chú cá măng nhảy tung tăng trong dòng sông trong vắt đã khiến du khách trên tàu tê tái lòng trước những bộ ngực căng mọng lộng lẫy của họ. Không nhìn những túp lều tồi tàn của người lao động, nơi đàn bướm vàng của Maurixiô Babilônia đang bay lượn. Không nhìn những em nhỏ xanh tái và bẩn thỉu, và cả những người đàn bà chửa đang gào lên những lời tục tĩu mỗi khi đoàn tàu chạy qua... Cái quang cảnh thoáng qua ấy đối với cô thường là vui như hội mỗi bận từ trường về nhà, thì nay nó chẳng hề làm cô rung động. Cô không thèm nhìn ra cửa sổ ngay cả khi con tàu đang qua vùng đồng bằng trồng thuốc phiện, nơi vẫn còn mạn chiếc tàu thủy Tây Ban Nha đã hóa thành than, để rồi ngay sau đó nó chạy tới vùng không khí thoáng đãng kề ngay bên cái biển ngầu bọt và bẩn tưởi, nơi cách đây gần đúng một thế kỷ những ý tưởng đẹp đẽ của cụ Hôsê Accađiô Buênđya đã phá sản.
Vào lúc năm giờ chiều, khi con tàu đến ga cuối cùng thuộc miền đầm lầy, Mêmê theo mẹ xuống tàu. Hai mẹ con trèo lên chiếc xe giống như con dơi khổng lồ, do một chú ngựa hen kéo, và đi qua một thành phố hiu quạnh, nơi trên những con đường dài vô tận nứt nẻ vì hơi diêm sinh vẫn vang lên bản nhạc tập đàn pianô y hệt bài tập mà Phecnanđa từng nghe vào giờ ngủ trưa trong thời xuân trẻ. Họ lại lên con tàu thủy chạy trên sông có chiếc bánh lái bằng gỗ kêu ầm ầm như tiếng động của một đám cháy lớn, và những tấm sắt bị gỉ thủng lỗ chỗ phản chiếu ánh mặt trời như miệng những chiếc lò nấu. Mêmê tự giam mình trong một phòng ngủ riêng trên tàu. Một ngày hai lần, Phecnanđa đặt cạnh giường cô khay thức ăn và cũng một ngày hai lần bà lại mang nguyên xi nó ra, không phải vì Mêmê đã quyết chí chết đói mà bởi chỉ hơi cơm thôi cũng đủ làm cô phát sợ và khiến cho cái dạ dày cô cứ thắt lại rồi nôn ra những nước là nước. Chính Mêmê cũng không biết rằng mùi thuốc cao lá mù tạc không còn tác dụng ngừa thai nữa, và Phecnanđa càng không biết điều này mãi cho đến một năm sau, khi người ta mang đến cho bà một thằng bé. Vì ở trong phòng ngủ riêng ngột ngạt, lại bị tiếng rung của thành tàu và mùi bùn nồng nặc khó chịu do bánh lái khuấy lên, Mêmê nằm mê man không còn biết đến điều gì khác, kể cả ngày giờ đang trôi đi. Ðã qua lâu rồi khi Mêmê nhìn thấy con bướm vàng cuối cùng bị cánh quạt nghiền nát và cô cảm thấy nó như một sự thật hiển nhiên: Maurixiô Babilônia đã chết rồi. Tuy nhiên cô quyết không để cho sự cam chịu chiến thắng mình. Cô vẫn nghĩ tới anh trong suốt cuộc hành trình qua thảo nguyên mênh mông mà xưa kia Aurêlianô Sêgunđô từng bị lạc khi đi tìm người con gái đẹp nhất trần gian, và khi họ trèo lên đỉnh đèo men theo những lối mòn của người Anhđiêng để rồi vào một thành phố buồn tẻ, nơi trên những con đường đá chật hẹp vẫn vang vang tiếng chuông đồng rè rè buồn bã của ba mươi hai nhà thờ. Ðêm ấy mẹ con cô ngủ lại trong một ngôi nhà thờ thời thuộc địa đang bị bỏ hoang, nằm trên những tấm ván mà Phecnanđa trải lên sàn căn buồng um tùm cỏ dại, và đắp lên người những mẩu rèm cửa sổ mà cứ mỗi bận cựa mình chúng toàng toạc rách ra. Mêmê biết rõ cô đang ở đâu, bởi trong cơn mất ngủ đầy sợ hãi cô đã nhìn thấy, vừa đi qua đây một công tử vận đồ đen mà trong đêm trước lễ Noel xa xưa người ta mang ngài đến nhà trong chiếc hòm bằng chì. Hôm sau, làm lễ misa xong, Phecnanđa dẫn cô tới một tòa lâu đài rợp bóng cây. Mêmê nhận ra nó ngay, nhờ đám hồi ức mẹ cô thường kể, về cái tu viện mà bà đã được giáo dưỡng để trở thành hoàng hậu, và Mêmê hiểu mình đã đi hết cuộc hành trình. Trong lúc Phecnanđa nói chuyện với một người nào đó trong phòng bên, cô ở lại phòng khách treo những bức tranh sơn dầu vẽ các đức giám mục thời thuộc địa, người run lên vì rét, bởi cô vẫn chỉ mặc một bộ quần áo bằng vải da thêu hoa đen và đi đôi ủng ướt trương lên vì ngấm băng tuyết vùng thảo nguyên. Cô đứng ngay giữa phòng khách, dưới luồng ánh sáng vàng lọt qua những tấm kính màu, để mà nghĩ tới Maurixiô Babilônia, cho đến khi một nữ tu vừa trẻ vừa đẹp mang theo chiếc va li nhỏ của cô đựng ba bộ quần áo từ phòng bên bước ra. Khi ngang qua trước mặt Mêmê, không dừng bước, cô ta chìa tay cho cô, và nói:
- Chúng ta đi thôi, Rênata.
Mêmê cầm lấy bàn tay chìa ra đó và để cô ta đưa mình đi. Lần cuối cùng Phecnanđa nhìn thấy con gái là lúc cô sánh bước với người nữ tu ấy, là lúc phía sau cô cánh cửa sắt của nhà tu kín từ từ đóng lại. Cô vẫn nghĩ tới Maurixiô Babilônia, tới mùi dầu mỡ và những con bướm vàng hóa thân, nghĩ tới anh trong suốt cả cuộc đời cô, một cuộc đời với những cái tên luôn bị thay đổi, và không hề hé một lời cho đến buổi sáng sớm mùa thu mai sau cô chết già trong một bệnh viện ở Cracôvia.
Phecnanđa trở về Macônđô trên chuyến tàu được cảnh sát có vũ trang bảo vệ. Trong suốt hành trình bà nhận ra nỗi lo lắng căng thẳng của hành khách, nhận ra những biện pháp quân sự được áp dụng ở các làng dọc đường xe lửa và cái không khí sợ hãi do tin rằng sẽ xảy ra một sự kiện nghiêm trọng, nhưng bà vẫn không được biết tin tức gì khi chưa về đến Macônđô. Tới nhà, bà được người ta kể cho hay rằng Hôsê Accađiô Sêgunđô đang xúi giục những người lao động thuộc Công ty chuối biểu tình. "Ôi, đây là cái duy nhất mà chúng ta còn thiếu” Phecnanđa nói với chính mình, "Một tên vô chính phủ ở ngay trong nhà". Hai tuần lễ sau đó, cuộc đình công đã nổ ra, nhưng không gây nên những hậu quả bi thương như người ta đã sợ. Những người lao động chỉ đòi không phải chặt chuối và chở chuối vào ngày chủ nhật, và đòi hỏi này hợp tình hợp lý đến mức ngay cả cha Antôniô Isaben cũng đã tham gia, vì thấy nó đúng với luật lệ của Thượng đế. Thắng lợi của cuộc đình công này cũng như một số hoạt động khác xảy ra trong những tháng sau đã khiến Hôsê Accađiô Sêgunđô, một người vô danh tiểu tốt mà thiên hạ vẫn thường bảo chẳng được tích sự gì ngoài việc làm cho làng đông nghịt bọn gái điếm tân thời, trở nên nổi tiếng. Cũng với chính cái quyết tâm dứt khoát mà ông đã có để giết hết bầy gà chọi của mình nhằm xây dựng một kế hoạch mở đường thủy từ Macônđô ăn thông với thế giới, ông đã cáo từ chức đốc công của Công ty chuối để đứng về phía những người lao động. Ngay lập tức ông bị tình nghi là phần tử thuộc một tổ chức quốc tế chống lại trật tự công cộng. Trong cái tuần lễ buồn bã trước những lời đồn bi quan, có một đêm ông đã thoát chết một cách tài tình trước bốn viên đạn súng lục do một kẻ lạ mặt nhắm bắn lúc ông vừa từ một cuộc họp kín bước ra. Không khí chính trị những tháng sau đó rất căng thẳng, đến mức Ucsula ngồi trong bóng tối cũng cảm nhận được nó, và cụ có cảm giác mình đang sống lại những ngày tháng bất hạnh mà con trai cụ, đại tá Aurêlianô Buênđya luôn luôn mang theo người những viên thuốc vi lượng đồng căn của một tổ chức nổi loạn. Cụ muốn gặp Hôsê Accađiô Sêgunđô để hiểu chuyện xảy ra trước đó nhưng Aurêlianô Sêgunđô cho cụ hay rằng kể từ đêm chết hụt ấy không ai biết ông ngụ ở đâu. "Nó y hệt cái thằng Aurêlianô Buênđya" cụ thốt lên, "cứ như thể thời gian đang quay vòng vậy".
Trong những ngày mơ hồ ấy, Phecnanđa thường xuyên sống cách ly với cuộc đời. Bà đã để mất liên hệ với thế giới bên ngoài kể từ vụ cãi lộn kịch liệt với chồng vì đã tự ý quyết định số phận Mêmê mà không có sự đồng tình của ông. Aurêlianô Sêgunđô đã sẵn sàng tìm bằng được con gái, kể cả phải nhờ đến cảnh sát ông cũng sẵn sàng, song Phecnanđa lại cho ông xem những giấy tờ xác nhận con gái ông đã tự nguyện vào tu ở nhà tu kín. Quả vậy, Mêmê đã ký vào đám giấy ấy khi cô đã ở bên trong cửa sắt của tu viện, và cô ký với chính sự hững hờ như cô đã để cho bà mẹ đưa mình đi. Thâm tâm, Aurêlianô Sêgunđô không tin rằng những giấy tờ này hợp pháp, cũng như không bao giờ tin rằng Maurixiô Babilônia lẻn vào sân sau trộm gà, nhưng dù sao vài ba tờ giấy này cũng giúp ông yên lòng và do đó, có thể thảnh thơi hưởng thụ dưới bóng Pêtra Côtêt. Ông lại tổ chức các cuộc vui ồn ĩ và ăn nhậu xả láng. Vì sống xa lạ với nỗi lo lắng của dân chúng, và cố tình không nghe những lời tiên đoán khủng khiếp của Ucsula, Phecnanđa siết lại lần cuối cùng các ốc vít của kế hoạch đã được tự mình hoàn chỉnh. Bà viết một bức thư dài cho cậu con trai Hôsê Accađiô, người đang chờ nhận một phẩm trật nhỏ mọn, và trong thư, bà cho biết cô em gái Mêmê của cậu đã về hầu Chúa do bị thổ ra máu đen. Sau đó, bà để bé Amaranta Ucsula cho Santa Sôphia đê la Piêđat chăm nom, quyết tâm nối lại quan hệ thư từ với các thầy thuốc không thể nhìn thấy, mà lòng tự dằn vặt trước nỗi bất hạnh của Mêmê. Việc đầu tiên mà bà làm là định ngày chắc chắn cho việc điều trị bằng thần giao cách cảm. Nhưng các thầy thuốc không thể nhìn thấy ấy đã trả lời bà rằng trong lúc Macônđô đang loạn thì việc làm đó là không phải lúc. Bà đang quá bối rối và không nắm được tình hình thực tế nên trong một bức thư khác bà giải thích cho họ rằng ở Macônđô không hề có tình trạng mất ổn định xã hội, rằng tất cả những việc ấy là kết quả của những việc điên rồ do người anh chồng mình gây nên, cũng như trước đây ông ấy đã đùng đùng giết hết lũ gà chọi và hộc tốc đi mở đường sông từ Macônđô ra thế giới. Thế là hai bên vẫn chưa thỏa thuận được với nhau. Ngày thứ tư nóng nực, có một nữ tu sĩ già tay khoác chiếc làn đến gọi cửa. Lúc cửa mở ra, Santa Sôphia đê la Piêđat đã nghĩ rằng đó là một món quà, và bà đã định ôm lấy chiếc làn có phủ một tấm khăn lụa quý giá. Nhưng nữ tu sĩ kịp ngăn lại, bởi vì đã được dặn trước là phải trao tận tay người nhận là bà Phecnanđa đen Cacpiô đê Buênđya. Vật trong làn chính là đứa con trai của Mêmê. Vị cha linh hồn cũ của Phecnanđa trong một bức thư dài đã giải thích cho bà rằng thằng bé chào đời hai tháng trước đây và rằng nó được đặt tên là Aurêlianô như tên gọi của ông ngoại nó, vì bà mẹ không chịu hé môi nói nguyện vọng cuối cùng của mình. Phecnanđa bực mình lắm trước sự nhạo báng ấy của số phận nhưng bà vẫn còn đủ sức lực để chống chế trước mặt nữ tu sĩ:
- Sẽ cùng loan tin rằng chúng ta bắt được thằng bé này nằm trong chiếc làn trôi trên sông nhé.
- Chẳng ai tin điều đó đâu, bà ạ - nữ tu sĩ nói.
- Nếu đã tin Kinh Thánh - Phecnanđa cãi - thì tại sao lại không tin tôi nói điều đó nhỉ?
Nữ tu sĩ ăn cơm trưa tại nhà trong lúc đợi con tàu trở lại, và đồng ý giữ một lời hứa mà mọi người đòi hỏi ở bà ta, là sẽ không bao giờ nhắc đến thằng nhỏ nữa, nhưng Phecnanđa đã khẳng định rằng nữ tu sĩ là một nhân chứng không mong đợi trong nỗi tủi hổ của bà và lấy làm tiếc tục lệ thời Trung cổ thường treo cổ những người đưa tin dữ đã bị bãi bỏ. Ðó cũng là lúc bà nhất định sẽ dìm thằng bé vào bể nước trong nhà tắm ngay sau khi nữ tu sĩ ra khỏi nhà mình, nhưng trái tim đã không cho phép và bà đành phải kiên nhẫn đợi cho đến lúc lòng lành vô biên của Thượng đế sẽ giải thoát bà khỏi cái tai ách này.
Cậu nhóc Aurêlianô vừa đầy tuổi tôi, tình hình xã hội bỗng trở nên căng thẳng. Hôsê Accađiô Sêgunđô và một số cán bộ công đoàn, thường vẫn hoạt động bí mật cho đến tận lúc này, đã xuất đầu lộ diện một cách không đúng lúc, để tổ chức nhiều cuộc biểu tình tại các làng thuộc Công ty chuối. Cảnh sát tuân lệnh cấp trên, ngày ngày theo dõi chặt chẽ bọn họ. Nhưng vào đêm hôm thứ hai các cán bộ công đoàn đã bị bắt ngay tại nhà họ, bị cùm chân bằng chiếc cùm nặng năm ki lô, rồi bị tống giam vào nhà lao tỉnh. Trong số người bị bắt có Hôsê Accađiô Sêgunđô và Lôrenxô Gavilan, một đại tá của cuộc cách mạng Mêhicô hiện đang lưu vong ở Macônđô, người vẫn thường tự hào nói rằng ông là chứng nhân của chủ nghĩa anh hùng Actêmiô Crut, bạn thân của ông. Tuy vậy, trong thời gian chưa đầy ba tháng bọn họ đều được tự do, bởi chính phủ và Công ty chuối đã không thể thống nhất với nhau rằng bên nào phải nuôi họ trong tù. Lần này sự phản đối của những người lao động đã dựa trên những yếu tố sau đây: nhà ở không bảo đảm sức khỏe cho công nhân, ngành phục vụ y tế thì giả nhân giả nghĩa, điều kiện lao động thì bất công. Ngoài ra họ còn khẳng định rằng Công ty đã không trả lương cho họ bằng tiền mặt mà bằng loại tem phiếu chỉ dùng để mua giăm bông Virginia trong những cửa hàng ủy thác của Công ty. Hôsê Accađiô Sêgunđô bị bắt vì đã chứng minh được rằng chế độ trả lương bằng tem phiếu chẳng qua chỉ là một thủ đoạn của Công ty nhằm nuôi những con tàu chở hoa quả của nó. Giả sử không có hàng hóa cho các cửa hàng ủy thác, những con tàu ấy sẽ phải chạy không tải từ Niu Oóclêăng đến các cảng để nhận chuối. Còn những tội trạng khác thì ai cũng biết. Như thầy thuốc Công ty không khám bệnh cho người ốm mà chỉ bắt họ xếp hàng một ngay trước bệnh xá để nữ y tá đặt vào lưỡi họ một viên thuốc có màu sunphát đồng bất kể họ bị bệnh sốt rét, bệnh lậu hay mắc chứng táo bón. Ðó là phương pháp trị bệnh hết sức phổ biến, đến mức bọn trẻ con có khi xếp hàng vài ba lượt và đáng lẽ phải uống các viên thuốc ấy thì chúng lại mang về nhà để chơi. Và nữa, công nhân sống chui rúc trong những căn lán tồi tàn. Và nữa, lẽ ra phải làm cầu tiêu công cộng thì vào những dịp lễ Noel bọn kĩ thuật của Công ty lại mang tới những chiếc cầu tiêu di động dùng cho năm mươi người và còn hướng dẫn cách sử dụng thế nào để dùng được lâu. Những luật sư già khụ mặc đồ đen, những kẻ mà hồi nào cứ bám lấy đại tá Aurêlianô Buênđya để làm phiền ngài, thì giờ đây là đại diện cho Công ty chuối, bằng những lời phán xử đổi trắng thay đen y như trò ảo thuật đang tìm cách gỡ bí cho nó. Khi những người lao động thống nhất chỉ thảo ra một lá đơn gồm những yêu sách chung thì trong suốt thời gian dài những yêu sách này vẫn không được chính thức đệ trình lên các ông chủ Công ty.
Khi ngài Brao biết tin có lá đơn mới của công nhân, lập tức mắc ngay toa xe lộng lẫy mái lợp thủy tinh của mình vào đoàn tàu vội vàng biến mất tăm khỏi Macônđô cùng với các đại diện thường trực của Công ty. Tuy vậy, công nhân đã túm được một trong số những đại diện ấy ngay tại một nhà thổ nọ và buộc ông ta phải ký vào tờ sao của lá đơn khi ông này còn đang trần như nhộng với một ả điếm. Thì ra ả đã tự nguyện làm mỹ nhân kế để dẫn ông ta vào bẫy. Trong một buổi phán xử, các luật sư buồn thảm nọ liền cãi rằng cái con người ấy không hề có liên quan gì với Công ty chuối, và để không ai nghi ngờ luận điệu của mình, họ liền đòi lệnh tống giam hắn vì tội mạo nhận. Sau đó ít lâu, ngài Brao đã bị thộp ngực trong một chuyến vi hành trên toa xe loại ba, và những người công nhân bắt ngài ký vào một tờ sao khác của lá đơn. Thế rồi ngài xuất hiện trước các vị quan tòa với mái tóc nhuộm đen và nói tiếng Tây Ban Nha rất lưu loát. Các luật sư liền giải thích rằng người này không phải là ngài Giăc Brao, Tổng quản trị của Công ty chuối, sinh tại Britvin, bang Êlơbêmơ mà chỉ là một người bán thuốc hiền lành, sinh tại Macônđô, và cũng chính tại đây ông được đặt tên là Đugôbectô Phônseca. Sau đó ít lâu để đối phó với những hành động mới của công nhân, tại những địa điểm công cộng, các luật sư đã trưng lên tờ cáo phó được viên lãnh sự và các nhà ngoại giao Mỹ chứng thực rằng ngài Brao đã bị xe cứu hỏa cán chết tại một đường phố ở Chicagô vào ngày mồng chín tháng Sáu vừa qua. Vì ngán ngẩm trước các trò quàng xiên ấy, những người lao động phớt lờ nhà chức trách ở Macônđô, kiện lên Tòa án tối cao. Chính tại đây, các vị quan tòa giỏi múa ba tấc lưỡi và biến báo pháp luật như những kẻ làm xiếc đã tuyên bố rằng những khiếu tố của công nhân là hoàn toàn không có giá trị, bởi rất đơn giản rằng Công ty chuối không có, chưa bao giờ có, cũng chẳng bao giờ sẽ có công nhân mà chỉ thuê người làm với tính chất tạm bợ mà thôi. Vậy là bằng cách đó, bọn luật sư đã đánh đổ lá đơn của công nhân tố giác cái trò lừa phỉnh về giăm bông Virginia, về những viên thuốc quái quỷ và những chuồng tiêu di động chỉ xuất hiện vào dịp Noel, còn Tòa án thì đã phán quyết và công bố trong những thông báo trang trọng khẳng định sự không tồn tại của những người lao động.
Tổng bãi công bùng nổ. Việc trồng trọt bị bỏ dở, chuối quả nằm ngay tại gốc và những đoàn xe lửa dài một trăm hai mươi toa dừng lại ngay giữa đường… Công nhân nghỉ việc tràn ra thị trấn. Phố Thổ Nhĩ Kỳ trở nên nhộn nhịp khác thường. Phòng chơi bi-a trong khách sạn Giacôp mở cửa suốt hơn bốn giờ liên tục để đón khách. Hôsê Accađiô Sêgunđô đã có mặt tại đây vào đúng cái ngày có tin nói rằng quân đội được lệnh lập lại trật tự công cộng. Dẫu không phải là người có linh cảm nhưng cái tin đó đối với ông là điềm báo trước của cái chết mà ông từng chờ đợi từ cái buổi sáng xa xưa khi đại tá Hêrinênđô Mackêt cho đi xem một cuộc hành hình. Song cái điềm gở ấy đã không làm ông lúng túng. Ông chơi bi-a và không hề để chệch cú nào bắn trúng nhiều viên. Sau đó, tiếng trống cà rình, tiếng kèn đồng, tiếng la thét và sự náo động của đám đông báo cho ông biết rằng cuối cùng mọi chuyện đã kết thúc, kể cả trò chơi bi-a lẫn cái trò chơi đơn độc và thầm lặng mà ông từng chơi với chính mình, kể từ buổi mai có cuộc hành hình. Ông bước ra đường và nhìn thấy bọn lính. Ðó là một đội quân gồm ba trung đoàn, theo nhịp trống cà rình, đang hành tiến làm rung chuyển cả mặt đất. Luồng xú khí toát ra từ đoàn quân ấy giống như hơi thở của con rồng nhiều khúc đã làm vẩn đục cả bầu trời trong veo lúc đang trưa. Cả đám lính ấy, đứa nào cũng thấp lùn, ục ịch và thô lỗ. Chúng mồ hôi nhễ nhại, hôi hám như mùi thịt ôi phơi ngoài nắng, và dữ tợn như những người vùng thảo nguyên. Dù đã diễu hành qua đây mất hơn một giờ, song người ta vẫn nghĩ rằng cái đoàn quân ấy chỉ vẻn vẹn vài đại đội đi theo kiểu đèn cù, bởi bọn lính giống nhau như tạc, chúng như những đứa con cùng một mẹ, với cùng vẻ ngu dại như nhau. Chúng mang ba lô và bi đông nặng trịch, mang những khẩu súng cắm lê trần trơ tráo, mang nỗi bực dọc chỉ biết có tuân lệnh một cách mù quáng và cái mặc cảm về lòng danh dự. Từ trên chiếc giường tối mù mịt của mình, Ucsula nghe thấy bọn lính diễu qua và cụ giơ tay làm dấu thánh. Bà Santa Sôphia đê la Piêđat đứng im hồi lâu, cúi mình xuống chiếc khăn vừa là, và nghĩ tới con trai bà, Hôsê Accađiô Sêgunđô, người mà bà vừa nhìn thấy đi qua cửa khách sạn Giacôp không hề run sợ trước những tên lính cuối cùng của đoàn quân ấy…
Lệnh thiết quân luật đã trao quyền cho quân đội thực hiện chức năng trọng tài trong vụ tranh chấp này, nhưng họ không hề tỏ ra có ý định hòa giải. Lính tráng nhanh chóng triển khai khắp Macônđô, đặt súng gọn vào một chỗ, rồi tỏa đi chặt chuối, xếp chuối lên toa và xê dịch các đoàn tàu. Những người lao động, mà cho đến tận lúc này vẫn yên lặng chờ đợi, đã ào lên núi không mang theo một thứ vũ khí nào khác ngoài con dao rựa, dụng cụ làm việc của họ, và cướp lại những cái họ đã bị cướp. Họ đốt cháy các nhà kho, các cửa hàng ủy thác của Công ty, phá các đường ray để chặn đứng việc qua lại của những đoàn tàu đã bắt đầu mở đường bằng hỏa lực súng máy, họ chặt đứt tung các đường dây điện tín và điện thoại. Các mương rãnh của cánh đồng chuối đã thẫm máu. Ngài Brao vốn sống trong một khu chung cư giống trại nuôi gà có mắc điện, cùng với gia quyến và một số đồng bào của ngài, đã được bí mật đưa đi khỏi Macônđô để đến nơi an toàn dưới sự che chở của quân đội. Tình hình căng thẳng đang đe dọa sẽ bùng phát thành một cuộc chiến tranh không cân sức và đẫm máu, nhất là khi các nhà cầm quyền ra lời kêu gọi những người lao động tập trung tại Macônđô. Lời kêu gọi cho biết rằng Quan tỉnh trưởng sẽ tới đây vào ngày thứ sáu, sẵn sàng giải quyết vụ xung đột này.
Hôsê Accađiô Sêgunđô đứng trong đám đông tụ tập trên sân ga từ sáng sớm ngày thứ sáu. Ông vừa tham dự cuộc họp của cán bộ công đoàn và được phân công cùng với đại tá Gavilan trà trộn vào khối quần chúng đông đảo để lãnh đạo họ tùy theo hoàn cảnh cụ thể. Ông đang không được khỏe lắm và hơn nữa, miệng ông đắng như ngậm bồ hòn khi biết quân đội đã đặt những ụ súng máy ở chung quanh sân ga, và ông còn biết rằng khu nhà lầu có rào thép gai của Công ty cũng đã được các khẩu pháo bảo vệ. Ðã gần mười hai giờ trưa, do phải chờ đoàn xe lửa không tới, hơn ba nghìn người, ngoài thợ thuyền còn có cả trẻ em và phụ nữ, đã đứng chật ních sân ga, và còn tràn xuống cả những con đường kế cận đã bị súng máy bịt lối ra. Quang cảnh ấy giống một hội chợ đông vui hơn là một đám tiệc tùng. Các quầy hàng ăn cũng như các quán giải khát trên đường phố Thổ Nhĩ Kỳ đã được chuyển đi nơi khác, và đám công chúng vẫn nhẫn nại chịu đựng nỗi phiền toái do phải chầu chực dưới trời nắng như đổ lửa. Lúc ba giờ kém một chút, có tin rằng cho đến tận ngày mai chuyến xe lửa chính thức vẫn chưa chắc tới. Ðám đông mệt mỏi thở dài ngao ngán. Giữa lúc ấy, có một trung úy quân đội trèo lên nóc nhà ga, nơi đã đặt sẵn bốn khẩu súng máy xếp hàng ngang hướng nòng ra phía đám đông. Một hồi kèn đồng rúc lên báo cho đám đông yên lặng. Ðứng bên cạnh Hôsê Accađiô Sêgunđô là một bà béo phị đi chân đất, mang theo hai đứa trẻ, một lên bốn và một lên bảy. Bà ta bế đứa nhỏ và dù không quen biết, vẫn nhờ ông bế đứa lớn để nó có thể nghe được cái điều người ta sắp nói. Hôsê Accađiô Sêgunđô công kênh cậu bé trên vai. Nhiều năm sau, cậu bé ấy kể đi kể lại, dù không ai tin, rằng đã nhìn thấy viên trung úy, qua chiếc loa máy tăng âm đọc bản Sắc Lệnh Số Bốn của Quan tỉnh trưởng do tướng Caclôt Cơrtêt Vacgat và thiếu tá Enrikê Gaxcia Ixaxa, thư ký của ngài, đã cùng ngài ký. Với ba điều khoản gồm khoảng tám mươi từ, bản Sắc Lệnh Số Bốn đã gọi những người đình công là một ổ cướp và do đó đã ra lệnh cho quân đội bắn giết họ.
Bản sắc lệnh đã đọc xong. Giữa tiếng huýt sáo và la ó của đám đông, một đại úy bước ra thay thế trung úy nọ. Hắn đứng trên nóc nhà ga, cầm lấy loa máy tăng âm ra hiệu muốn nói. Ðám đông trở lại im lặng.
- Thưa các ông các bà - viên đại úy nói với giọng trầm trầm, chậm chạp, có vẻ hơi mệt mỏi - Tôi ra lệnh cho các người phải giải tán sau năm phút.
Tiếng huýt sáo, tiếng la thét lại nổi lên inh ỏi dìm ngay tiếng kèn đồng được dùng để tính khoảng thời gian năm phút ấy. Tuy nhiên không một ai động đậy.
- Ðã quá năm phút - Viên đại úy nói vẫn bằng cái giọng vừa nói - Gia hạn thêm một phút nữa, và nếu các người không giải tán, quân đội sẽ nổ súng.
Hôsê Accađiô Sêgunđô toát mồ hôi lạnh. Ông thôi không kiệu cậu bé trên vai nữa, đưa trả nó cho bà mẹ, "Cái đám dê cụ này dám bắn lắm chứ chả chơi" bà mẹ nói nhỏ. Hôsê Accađiô Sêgunđô không kịp nói gì, vì vào lúc ấy ông chợt nhận ra tiếng nói của đại tá Gavilan đang khích lệ mọi người đồng thanh hô phản đối với chính những lời mà người phụ nữ vừa thốt ra xong. Vì xúc động mạnh trước tình huống căng thẳng, trước cái sâu lắng kì diệu của sự im lặng, và nhất là khi thấy rằng không một sức mạnh nào có thể lay chuyển được khối quần chúng đông đảo sẵn sàng đón nhận cái chết này, Hôsê Accađiô Sêgunđô kiễng chân cao hơn hẳn những cái đầu phía trước, và lần đầu tiên trong đời ông cất tiếng:
- Bớ bọn dê cụ! Chúng ta cóc cần cái phút ấy đâu!
Vào lúc ông thét xong, một sự kiện đã xảy ra, và cái sự kiện này đã không làm ông sợ mà chỉ mang đến cho ông một ảo giác. Tên đại úy ra lệnh phát hỏa, và thế là cả mười bốn ụ súng máy nổ vang đáp lời ông. Song ông cảm thấy tất cả những cái ấy chỉ là một trò hề. Hình như những khẩu súng kia đều bắn ra những viên đạn pháo hoa, bởi mặc dù những tiếng nổ rền vang nghe đến đứt hơi đã được mọi người nghe thấy, mặc dù những viên đạn nóng bỏng đỏ lừ tới tấp bay ra đã được mọi người trông thấy, ấy thế mà vẫn không thấy đám đông có lấy một phản ứng dù chỉ là hơi thở dài hay tiếng kêu la, đám đông cứ trơ ra như đá. Bỗng nhiên, ở bên cạnh nhà ga có một tiếng kêu tắt thở "Ôi, mẹ ơi" đã làm mất đi cái hào khí ấy. Một sức sục sôi của trận động đất, một hơi thở hừng hực của núi lửa, một tiếng gầm rú của bão tố đã bùng nổ ngay ở trung tâm đám đông với sức triển khai nhanh chóng thần kỳ. Hôsê Accađiô Sêgunđô hầu như chỉ còn kịp bế phốc cậu bé, trong khi đó bà mẹ và em nó đã bị đám đông nhốn nháo nuốt chửng mất.
Nhiều năm sau, dù cho không người nghe nào chịu tin, cậu bé ấy vẫn cứ kể rằng Hôsê Accađiô Sêgunđô đã nâng bổng cậu trên đầu, và cứ thế cho cậu lướt đi, như thể trên không trung ấy, trên nỗi kinh hoàng của đám đông đang dồn về một trong những con phố cạnh đó. Với cái vị trí cao ấy, cậu bé đã nhìn thấy sự chen chúc, xô đẩy, giẫm đạp của cả ngàn người ùa vào một góc phố, mà chính ở con phố ấy, vào đúng cái thời điểm ấy, hàng súng máy cũng bắt đầu phát hỏa. Rồi những người đứng ở hàng đầu đồng loạt ngã gục trước làn đạn liên thanh quét. Những ai sống sót, đáng lẽ phải nằm xuống tránh đạn thì lại xô đẩy nhau chạy trở lại sân ga. Lúc ấy nỗi khủng khiếp đã chụp lên đầu họ bằng những làn đạn súng máy, giống như cái đuôi con rồng đang quất dồn họ vào một dòng người đông nghịt đối nghịch với dòng người đông nghịt khác cũng đang xô đẩy nhau vào một con đường ở hướng khác. Và cái dòng người này cũng lại đang bị súng máy đặt ở phía đối diện ào ạt nhả đạn tới, y như một cú quất đuôi khác của con rồng. Đám đông bị quây tròn lại, xoay tít mù như con lốc lớn đang thu hẹp dần chấn tâm, bởi vòng người viền ngoài con lốc đang bị lưỡi dao sắc ngọt của nghệ thuật bắn súng máy gọt quanh như thể bóc củ hành vậy. Cậu bé nhìn thấy một người đàn bà quỳ gối, chắp hai cánh tay lại theo hình cây thánh giá đứng trong một bãi đất sạch được giữ gìn một cách kỳ ảo không cho đám người tràn vào. Trước khi đám đông lấp bằng cái bãi đất trống ấy, Hôsê Accađiô Sêgunđô đã đặt cậu bé xuống đấy, và cũng ngay tại nơi ấy, với khuôn mặt đầm đìa máu, ông ngã xuống bên cạnh người đàn bà đang quỳ gối, dưới ánh sáng chói chang từ trên vòm trời cao đang mùa nắng rọi xuống, với thế giới huyền bí nơi Ucsula Igoaran từng bán những chiếc kẹo tuyệt vời nặn hình con giống.
Tỉnh dậy, Hôsê Accađiô Sêgunđô thấy mình đang nằm ngửa trong bóng tối. Ông còn nhận ra mình đang nằm trên một đoàn tàu dài dằng dặc và im lìm, rằng tóc mình bê bết máu khô và khắp mình ông, xương xóc đau như dần. Rồi ông thấy buồn ngủ ghê gớm. Ðịnh bụng ngủ một giấc rõ dài để cho qua nỗi kinh hoàng khủng khiếp, ông liền xoay người về bên ít đau hơn, và chỉ lúc ấy ông mới phát hiện ra là mình đang nằm trên những người chết. Trong toa không có lấy một chỗ hở, ngoài lối đi chính giữa. Có thể vụ thảm sát đã xảy ra cách đây được vài giờ rồi, bởi những thi thể này đều đã lạnh cóng như cao lanh mùa thu, và những ai xếp đám tử thi này lên toa xe hẳn đã có thời gian để đặt chúng theo thứ tự, chẳng khác gì những buồng chuối được xếp lên toa hàng. Vốn định chạy trốn cái âm khí nặng nề đó, Hôsê Accađiô Sêgunđô bò lết hết toa này sang toa khác theo hướng con tàu đang chạy, và nhờ ánh đèn lọt qua các khe hở giữa những tấm ván ghép khi con tàu vượt những xóm làng đang ngủ rọi vào, ông đã nhìn thấy những thi thể của đàn ông, những thi thể của đàn bà, những thi thể của trẻ em mà rồi đây sẽ bị người ta đổ xuống biển như chuối hỏng bị vứt đi. Và ông chỉ nhận ra người đàn bà bán giải khát ở sân ga và đại tá Gavilan, còn mang trong tay chiếc thắt lưng có khóa bằng bạc xứ Môrêlia được cuộn lại, chính là “vũ khí” mà đại tá dùng để mở đường vượt qua nỗi khủng khiếp. Khi đến toa thứ nhất, ông liền nhảy một cú từ trên tàu xuống mặt đường, lẩn vào bóng tối, rồi nằm im hồi lâu dưới mương nước đợi cho đoàn tàu qua khỏi. Ðó là một đoàn tàu dài chưa từng thấy, cỡ hai trăm toa hàng, mỗi đầu móc một đầu máy và ở chính giữa móc thêm chiếc nữa. Nó không thắp đèn, ngay cả đèn hiệu xanh đỏ cũng không, và cứ vun vút lao đi trong đêm khuya vắng lặng. Trên nóc toa nổi lên các hình thù tối sẫm của bọn lính với những khẩu súng máy sẵn sàng nhả đạn.
(còn tiếp)
Nguồn: Trăm năm cô đơn. Tiểu thuyết của GABRIEL GARCÍA MÁRQUEZ (Nobel Văn chương 1982). Nguyễn Trung Đức, Phạm Đình Lợi, Nguyễn Quốc Dũng dịch. Nguyễn Trung Đức giới thiệu. Dịch từ nguyên bản tiếng Tây Ban Nha Cien años de soledad do Viện Sách Cuba xuất bản tại La Habana, năm 1968. Theo bản sửa chữa cuối cùng của cố dịch giả Nguyễn Trung Đức, tháng 9-2000. Tủ sách Danh tác Thế giới do nhà văn Triệu Xuân tuyển chọn - NXB Văn học liên kết cùng Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.
www.trieuxuan.info
|