tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
22.07.2015
Nguyễn Trọng Luân
Sèn Vạn Vần trở lại Tây Nguyên

Một



Lâu lắm rồi tôi mới lại được ngồi xe UOAT. Con xe “biển đỏ” của trung đoàn đặc công 198 đón ở sân bay Ban Mê Thuột. Người lái xe là thiếu úy còn trẻ măng nói, cháu chờ hơn tiếng rồi đấy ạ. Ban Mê trời đầy mây vần vũ oi nồng. Nghĩ con đường 200 ki lô mét chiều nay đi xe uoat sẽ thú vị đây. Ngó sang bạn Sèn của tôi bước thấp bước cao nhìn đăm đắm vào hàng cây Kow nia cổ thụ ngoài cổng sân bay. Tôi bảo Kow nia đấy, Sèn vẫn im. Xe chạy rồi Sèn bảo anh ơi giá mà mang được giống cây này về Xín Mần trồng nhỉ? Tôi bảo , mày thích Lộc Vừng cơ mà? Kow nia đâu có giá bằng lộc vừng. Trong tiếng gió vù vù Sèn nói một mình, Kow nia có hồn đồng đội anh Luân à.



Qua thành phố vài cây số, thấy điện thoại của cô Biên tập Truyền hình Quốc Phòng đi xe sau gọi lên, bác ơi đến Đạt Lí dừng lại mua bánh và nước uống bác ạ. Giật mình sao cô nhà báo này nhắc nhở mình khéo thế. Đạt lý là điểm đánh của tiểu đoàn tôi 10/3 năm ấy. Cũng trong đêm 10/3 chúng tôi lại hành quân suốt đêm về đánh Buôn Hồ. Đạt lí nay là phố là phường nườm nượp xe cộ. Chỉ chạy thêm mươi phút nữa là đến Cư Pao nơi có một trận địa pháo bỏ chạy ngày 12/3. Chúng tôi tới đèo Hà Lan, gió lành lạnh tôi chỉ cho Sèn và Tự ngọn đồi mà đêm 12/3 chúng tôi nằm ngủ trong sương buông mù mịt. Tôi lại nhớ thằng Hạnh người Phú thọ viêt thư cho mẹ đêm ấy, nó chỉ viết có một dòng rồi thôi. … “Mẹ ơi đêm nay lạnh quá…” Lá thư chả bao giờ về với mẹ nó. Bây giờ nó nằm ở nghĩa trang Cheo Reo. Tự nhiên tôi lại gọi Hạnh ơi!



Trời đổ mưa khi tôi vừa qua Buôn Hồ. Tôi cố hình dung ra vạt rừng Cà phê mà đêm 14/3/75 tôi ngủ trong đó, nhớ cây đàn Ghi ta lấy trong đồn Buôn Hồ về bập bùng, nhớ mấy đứa anh nuôi đun bếp ven rừng vừa nấu cơm vừa nghe tôi và Mạnh Tiêu đàn hát. Tôi nhớ lần đầu tiên tôi biết thế nào là “mì ăn liền” ở nơi này. Tôi cũng nhớ nơi này là lần đầu tiên tôi nhìn thấy con gái mặc áo Pun hở nách. Cái cảm giác nhồn nhột có kiến bò dọc sống lưng còn đến tận bây giờ.



Mưa.



Mưa gõ dào dạt trên bạt xe, mưa nhập nhòa kính chắn. Cái gạt nước kêu cong cóc. Những rừng cà phê đang xanh ngút ngát bỗng xỉn lại. Những nương tiêu thâm thẫm như hàng quân xếp hàng ngày xưa trên thao trường. Mưa Tây nguyên đưa tôi về những mùa mưa hơn bốn mươi năm trước. Ngày ấy tăng võng là nhà, lính mắc võng trong rừng, đêm mưa nằm co ro ướt nhem nhép nghe pháo địch bắn dai như pháo đĩ. Nghe tiếng rên hư hử của thằng treo võng bên cạnh đang cơn sốt rét. Nghe tiếng kêu của côn trùng nẫu lòng. Nghe tiếng bụng réo vì cơn đói cồn cào. Nghe tiếng thì thầm của thằng gác cấu vào chân đến phiên mình đổi gác. Nhớ quá thể những thằng bạn chết vào mùa mưa, xác rất nhanh trương phình lên đen ngoét. NHớ những nấm mồ mới chôn trong mưa tưới, những dòng nước đỏ ngầu ba zan từ trên lùm đất mả lính chảy dòng dòng. Nhớ những búp lá khộp to như ngón tay non mỡn và nhớ nhất là xuất kích đêm mưa ngã lên ngã xuống trong rừng.



Chúng tôi đi trong mưa suốt con đường từ Buôn Hồ đến Hàm Rồng. Lúc lắc, cười. chuyện lúc to, lúc thì thào, lúc im bặt. Xe chạy rẽ mưa dàn dạt. Những người đồng đội của tôi chắc cũng đang nhớ về mưa của những mùa mưa rất xa.



1 giờ sáng 18/7 – Pleiku



 Hai.



Đã chịu cái nóng ngột ngạt miền bắc nhiều ngày tháng, đêm qua trời Tây Nguyên mát dịu khiến cơn buồn ngủ đến sớm. Sáng ra mở cửa thấy mù mịt sương. Mùa mưa Tây nguyên cứ lũm thũm cái màu mắm tôm từ phố vào rừng. Đêm qua thức giấc lúc nửa đêm thấy Sèn vật vã không ngủ. Tưởng hắn đói sang dậy hỏi, Sèn bảo ngửi thấy cái mùi mùa mưa ẩm mốc. Rồi hắn hỏi hôm nay có được đi về sư đoàn cũ không? Lúc nào về đó anh nhớ chỉ cho em nhà tưởng niệm liệt sĩ nhé. Ừ , ở đấy có danh sách mười bốn ngàn người đã chết đấy. Ôi chao đọc sao hết? Ai bảo mày phải đọc, lịch sử đọc nhân dân đọc cả rồi. Sèn thật thà, nếu em ngày xưa hi sinh thì cũng có tên ở đó hả anh. Tất nhiên rồi tên mày sẽ được viết thật to. Tôi cười còn Sèn thì bần thần nhìn ra trời mưa.



Khi xe chúng tôi vào cổng sư đoàn Sèn ngó ra nhìn nhà tưởng niệm lạnh tanh không nói gì. Đón chúng tôi có Sư đoàn phó Trọng, Chủ nhiệm chính trị Từ và các trợ lí tuyên huấn chính sách. Họ đều đã biết tôi còn Sèn thì mới nghe tên và thuộc thành tích chiến đấu của hắn. Ngồi trong phòng chỉ huy Sèn nhìn các chỉ huy cặp mắt nể phục. Các Đại tá trẻ thế mà cứ một hai xưng em xưng cháu với Sèn. Đại tá Trọng chỉ lên hai tấm Bằng Anh hùng Lực lượng võ trang cửa sư đoàn chân thành nói, các bác nhìn kia để có Danh hiệu hai lần anh hùng của Sư đoàn là công của bác Sèn Vạn Vần của các bác đây rất nhiều và có công lớn của mười bốn ngàn liệt sĩ sư đoàn nữa . Bỗng sèn đứng dậy đi ra ngoài. Tôi chột dạ, cái anh Nùng này giống con heo nuôi thả trong rừng chả có tác phong quân kỉ gì cả. Mọi người chạy ra thấy Sèn đứng lau nước mắt. Mấy chú công vụ nép bên cửa nhìn Sèn như người hành tinh khác vừa xuống tổng hành dinh. Gửi lại nhờ trợ lí chính sách tra lại tìm giấy chứng thương rồi chúng tôi lên xe đưa người dũng sĩ họ Sèn đi Cheo reo thăm lại nơi hơn bốn mươi năm trước Sèn bắn xe tăng. Trời vẫn mưa đường qua ngã ba Phú Mỹ be bét bùn đỏ. Tôi chỉ , đó đó con đường chạy vào po lây me đó. Sèn vui hẳn lên, ôi em nhớ hồi kéo quân đi phối thuộc với E 48 quá. Nhớ cả Lệ Ngọc nữa nhớ cái trận em bắn cháy một xe chở lính đi giải tỏa đường 21 quá. Liệu em có được vào Lệ Ngọc không anh? Tôi ngó lom lom hỏi, muốn vào thung lũng Ia đrăng à? Nó Vâng em tìm mộ thằng Chử Lương Thanh. Hôm lao lên cửa mở nó trúng đạn đại liên vào đầu cái mũ cối của nó bay thẳng lên giời. Tôi chợt nhìn sang tay nó vẫn ôm khư khư cái mũ cối trên xe. Cái mũ mà các cô nhà báo đã mua cho nó hôm ở Hà nội. Cả xe lặng im. Con đường uốn lượn mờ mịt mưa giăng.



Xe đến đỉnh đèo Chư Sê bỗng trời hết mưa, xuống khỏi đèo trời nắng, cánh đồng A Jun hạ sáng lên. Kíp truyền hình reo to, may quá rồi, thế là ta sẽ quay được trận địa cũ của Bác Vần rồi. Sèn cười như mếu, quay phim tôi chứ còn bao nhiêu anh em khác thì sao? Chả ai nói gì cả. Những ngôi nhà sàn vun vút chạy về phía sau. Sèn nhìn một đàn bò có cô gái cầm cành tre lùa đi ven đường nói một mình, khối tiền! chú lái xe cười thật hiền. Nhiều tiền lắm đấy bác nhỉ. Dừng ở ngã ba Cây Soài mua bó nhang và mấy bó hoa. Sèn ôm khư khư những hương nhang và hoa hỏi có đốt vàng cho anh em mình không? Có chứ! Sèn nghiêng ngó nhìn đường phố Cheo reo đầy những cây muỗm cổ thụ hiền lành. Sèn đang nôn nao đang hồi hộp lắm, Sèn đang nhớ cái ngày nắng rõ là to và lửa đạn tơi bời hầm hập tháng 3 năm ấy.



Có một nhà tưởng niệm trong một khuôn viên rộng đẹp và trang nghiêm ở thị xã này. Nhà tưởng niệm im lìm vắng vẻ, chỉ có mấy đứa trẻ chăn trâu đang ngồi trú nắng dưới cây muỗm già nhìn chúng tôi tò mò lặng lẽ. Trời trưa bỗng nắng lên gay gắt, lạ thế, cứ như chưa hề có trận mưa nào tới đây. Trong nắng trưa Sèn lần tay trên tấm bảng ghi tên hơn một trăm liệt sĩ mà gần hết là chiến sĩ trung đoàn tôi. Đến cái tên Quảng, Hội , Vang nó nấc lên và lúc này nó gọi Đồng chí. Đồng chí Quảng ơi, tôi là Sèn Vạn Vần đây hồi đánh mắt ngỗng đồng chí cõng tôi đi viện, tôi nhớ lắm mà. Đồng chí Hội đồng chí Vang ơi! Bó hương cháy ngùn ngụt, tai tôi cũng nhòe đi chả nghe rõ bạn mình nói gì chỉ nghe gió vu vu tràn qua vòm lá cây muỗm xanh ngát, nghe từ phía sông Ba vọng về có tiếng chim gù ban trưa. Ngoài đường người và xe vẫn vô tình lướt qua chả ai chú ý gì đến một ông già tóc bạc phơ mặc quân phục chân mang dép đứng ngẩn ngơ khóc bạn.



Đi thêm một cây số nữa chúng tôi bước lên cầu sông Bờ. Con sông nhỏ chảy từ ngọn núi đá Chư Pa ra để hòa vào sông Ba giờ cạn khô khấc. Những nương ngô nương mè nối tiếp nhau chạy ra bờ sông. Trong nắng Sèn chỉ cho chúng tôi nơi anh bắn hai cái xe M48, anh chỉ cho chúng tôi chỗ tiểu đội anh đào hầm, anh bảo chỗ bờ sông kia anh đã bế đứa trẻ con chạy vào bụi tre để tránh đạn. Anh bảo chả biết nó còn sống không? Cô phóng viên hỏi anh, con của ai thế hở bác? Sèn bảo con của người lính Việt Nam Cộng Hòa chứ của ai. Nắng hâm hấp trên mặt cầu, nắng xanh chon chót trên vạt rừng đầy chuối tây và ngô khoai. Sèn đốt bó hương rừng rực vái bốn phía mà rằng, các đồng đội ơi các đồng đội ơi, các anh không được về còn tôi thì được về. Tôi xin lỗi đồng đội.



Ôi Sèn ơi chiến tranh là thế! Sèn đâu có lỗi cũng như tôi đâu có lỗi vì chúng ta không trở thành liệt sĩ? Nhưng cũng như Sèn tôi thấy mình cứ áy náy làm sao, cái áy náy của những con người từng nợ nhau qua lửa đạn. Nợ một việc làm tốt với đời cho dù chỉ là việc nhỏ. Sèn ơi chúng mình cố làm người tử tế, cố mà thanh thản trước mỗi lần ngang qua một nghĩa trang liệt sĩ nàođó cho dù suốt cuộc đời này chúng ta vẫn là kẻ vay nợ những người bạn đã hi sinh



Chúng tôi lên xe để về Pờ lây cu lúc 3 giờ chiều. Xe rời cầu sông Bờ hai cây số trời lại sập mưa. Chúng tôi thật là may mắn, thật gọn gàng cho một cuộc viếng thăm đồng đội. Nhưng lên xe rồi nhìn khuôn mặt bạn mình như dãn ra thanh thản tôi biết khi ở dưới cánh đồng trận địa cũ anh đã khấn đồng đội mình, tôi còn nghe rõ lời anh…Tôi khấn lậy cả vong hồn những người đồng bào xấu số đã chết trong cái ngày bom rơi đạn lạc hôm ấy… tôi xin khấn tất cả …Sèn ơi chiến tranh qua rồi, chiến tranh in hằn lên măt đất này mặt đất sẽ lại xóa đi. Nhưng chiến tranh thì lại thật khó xóa được trong lòng người, dù người ấy ở phía nào Sèn nhỉ .



Chập tối ngày mưa Pleiku 18/7/15



Ba.



Hôm nay điểm đến của chuyến hành trình này là Nghĩa trang Chư P rông và Đức Cơ Đồn Tầm. Tối qua Chỉ huy Sư đoàn đã cử phó Chủ nhiệm chính trị đi cùng đồng thời gọi điện cho Chủ tịch huyện biết chuyến đi này của chũng tôi. Trời lại mưa, con đường qua nông trường chè Bàu Cạn đẹp thế mà ngút ngát sầm sì như chiều mùa đông. Cách đây vài tháng tôi đã qua con đường này, nương chè đẹp như mơ đầy bướm trắng. Nơi này khi còn chiến tranh trinh sát của Sư đoàn đã thường xuyên qua lại và đã có những người bạn tôi hi sinh vì địch mai phục. Đoạn đường hơn hai mươi cây số mưa tầm tã ấy thế mà khi xe chúng tôi tới nghĩa trang thì mưa lại tạnh. Lãng đạo huyện, phó chủ nhiệm chính trị sư đoàn đang đứng chờ. Trong gió, trong khói hương Sèn khóc. Bó nhang cháy rừng rực. Nghĩa trang vắng lặng rập rờn hàng vạn con bướm trắng trên cả ngàn ngôi mộ chiến sĩ sư đoàn tôi. Sèn Vạn Vần lom khom đi tìm bạn. Tôi chỉ cho Sèn những ngôi mộ của tiểu đoàn 9. Đấy là mộ Chử Lương Thanh, đây là mộ thằng Lương Lợi , mộ thằng Giám, thằng Ma đình Thủy , thằng Huấn Phú Lương. Và thật bất ngờ chúng tôi thấy mộ anh Vũ Xuân Canh người B trưởng của tôi và Khuất Duy Hoan ngày xưa. Anh canh hiền và đánh giặc rất dũng cảm. Ngày ấy anh không biết chữ, tôi đã một lần viết câu chuyện” Lớp học mùa mưa năm ấy” kể về anh. Hồi ấy có một lần tôi được dậy lớp học một ngày. Thế mà anh Canh gọi tôi là Thầy giáo. Anh còn bảo, em là chiến sĩ nhưng là thầy dậy chữ cho anh thì anh phải gọi bằng thầy. Trò phải ra trò Thầy phải ra thầy chứ em. Ngồi bên mộ anh tôi gọi anh Canh ơi em về thăm anh này rồi bỗng hiện lên những trận đánh có anh ở bắc đường 19 ngày xưa.



Tôi sang ô mộ bên cạnh, mưa đong đầy nước trên những bát hương. Mùa mưa mọc rêu trơn tuột trên những lối đi. Có những con kì nhông bò lem lém trên những ngôi mộ hiền lành. Tôi giật mình, nhìn vào tấm bia Lưu Sỹ Hồng quê Đại Từ ở đại đội trinh sát 20. Ôi thằng Hồng đây, nó chết trên điểm cao Chi kranh râu. Tháng 4/74 mưa sớm, mà 5 ngày sau mới vào lấy xác nó. Bọn thằng Sơn toác Bắc Ninh sợ địch gài lựu đạn ở xác thằng Hồng bèn lấy dây võng buộc vào chân nó mà kéo ra được chục mét mới dám bó vào tăng khiêng về. Trong đống ròi nhung nhúc thi thể thằng Hồng rời mất cái đầu. Mấy thằng 20 bò lên tìm lấy lá chuối gói cái đầu thằng Hồng mang về. Hồng ơi dưới mộ này chắc mày còn đủ cả đầu phải không? Chúng tôi thắp hàng mấy trăm nén nhang, chúng tôi đốt chút tiền vàng thuốc lá cho đồng đội . Đốt vàng xong trời đổ mưa tôi lên xe chạy về hướng ngọn Chư Pờ rông ra Đức Cơ. Trong mưa, bỗng có điện thoại. Nhìn tên Kiên C20 tôi giật mình. Nó oang oang , mày ở đâu? Tao ở Tây nguyên. Mày có vào Chư Pong không? Tôi có. Mày thấy mộ thằng Lưu Sỹ Hồng không? Tôi giật mình, chỉ mới 15 phút mà thằng Hồng đã báo cho mày biết à? Nó oang oang, nào ai báo cho tao mày đi Tây Nguyên mày có báo chúng tao đâu. Chúng tao vừa nhắc tới Hồng. Rồi cứ thế điện thoại truyền tay hỏi có cho nó điếu thuốc nào không? Mộ nó có sạch không? Tôi nghĩ tới điều tâm linh… tôi nghĩ chính thằng Lưu sỹ Hồng báo cho chúng bạn rằng tôi vào đây. Ôi đồng đội của tôi ơi!



Con đường vòng quay về đường 19 đưa chúng tôi qua Thánh Giáo Thanh bình đồn Tầm. Chả thể nào đến được Chư rông rang, chư gara nơi có một thời chúng lăn lóc sống trong tầm pháo Hàm rồng. Đứng bên đường dưới chân đồn Tầm ngó sang dẫy núi cao 800 mét mà nhớ một vùng đồng đội một vùng lửa khói. Sèn cứ hỏi Làng Dịt ở đâu? Đồi mắt ngỗng chỗ nào? Rằng em ăn hai cái tết trên chư rông rang đấy. Ừ ừ kia kìa nó đấy bây giờ núi trọc lóc bao nhiêu gỗ quí người ta chặt hết rồi. Ừ nhỉ may ngày xưa có nhiều rừng chứ trọc như bây giờ bọn mình chết hết anh nhỉ?



Tối, Chỉ huy Sư đoàn mời cơm. Cả ban chỉ huy chỉ thiếu Đại tá Sư trưởng đi công tác Quảng Ngãi còn thì đủ cả. Sèn ngây người nhìn các chỉ huy mời rượu minh rồi nói: tôi chưa bao giờ được ngồi uống rượu với nhiều cấp to như thế này. Đại tá Chính ủy bảo, Bác ơi có các bác già yếu mà vẫn về thăm đơn vị, về thăm”nhà” mà yêu quí đơn vị mình, mà không quên những cái tên gắn liền với đơn vị, các bác gọi Sư đoàn là nhà thế là Sư đoàn ta “có phúc đấy bác ơi”.



Đã nhiều lần tôi đã cùng ăn cơm với các chỉ huy sư đoàn nhưng hôm nay tôi thấy họ trân trọng người lính già họ Sèn, hôm nay tôi đọc được ở trong mắt họ những chân tình yêu thương kính trọng quá khứ của Sư đoàn mình, tôi nhìn thấy niềm tự hào của Sèn Vạn Vần thấy chiến công của chúng tôi không hề uổng phí.



Bốn



Thế là Sèn đã ở Tây Nguyên sang ngày thứ tư. Bốn ngày đi, gặp lại đồng đội cũ gặp lại cảnh xưa, dẫm lên cây cỏ đất đá mà một thời mình đã từng dẫm lên đó bằng đôi dép cao su vương máu đồng đội. Bốn mươi mấy năm rồi, vạn vật thì đổi thay nhưng kỉ niệm trong thẳm sâu tâm hồn người lính già Nùng này thì vẫn còn sâu đậm lắm.



Chiều nay chúng tôi lên đỉnh núi Hàm rồng. Bây giờ đang là mùa mưa nên ngọn núi đầy hoa Quì này xanh ngắt. Những người lính Tây nguyên ai cũng yêu thích hoa Dã Quì thì đây là một cơ hội tiếc nuối. Giá mà vào tháng 12 được lên ngọn núi này, đi trong miên man màu vàng của loài hoa đã từng gắn bó với mình suốt những năm lửa đạn, cái màu vàng cứ rưng rưng trên những cánh rừng mà đồng đội tôi nằm lại. Chúng tôi ngắt những cành Dã Quì non mơn mởn đưa lên ngửi cái mùi hăng hắc quen thuộc ngày nào. Mùi cỏ cây hoa lá Tây nguyên, mùi đất ba zan, mùi ẩm mốc của lùm hoa dại căn hầm chỉ huy của giặc trên điểm cao Chư Nghé… Chiều nay chúng tôi lại thấy nồng nàn trong gió Hàm rồng.



Từ trên cao nhìn về phía thung lũng Đức Cơ, nhìn về phía thung lũng I A đrăng miên man là màu xanh của Cao su cà phê. Nhìn về dẫy núi dăng ngang phía tây Pờ lây cu mờ như sương. Ở đó Sèn và tôi đã sống 4 năm đánh giặc. ở đó là tuổi trẻ của chúng tôi, ở đó có một thời chúng tôi gian lao vất vả nhưng cũng đầy ước mơ. Trong cánh rừng kia ngay trong bom trong đạn tôi đã từng mơ được trở về và đi học để trở thành nhạc sĩ, để sẽ viết giao hưởng về cao nguyên này. Chiến tranh lấy của chúng tôi sức lực lấy của chúng tôi thời trai trẻ, lấy đi nhiều cuộc đời của thanh niên thời tôi sống. Nhưng chiến tranh lại cho chúng tôi niềm tin mãnh liệt vào sự sống sự tồn tại bằng chính máu xương mình. Chiến tranh làm cho chúng tôi biết yêu nhau hơn biết quí tình cảm biết chân trọng quá khứ của mình. Chiến tranh làm cho bao cuộc đời chia li những lại cũng mang hàng vạn cuộc đời gần lại với nhau. Sèn ở tận biên giới xa xôi , tôi ở miền xuôi mà sau gần nửa thế kỉ chúng tôi vẫn tìm về với nhau. Cái giá của cuộc chiến tranh đâu có tầm thường?



Một đời người hai lần đến với Tây Nguyên. Hai lần ở hai đầu của đời người còn đoạn giữa là sự chiêm nghiệm và gồng gánh gia đình. Hai lần ấy chỉ bằng một phần rất nhỏ của cuộc sống ấy thế mà chũng tôi thấy sâu nặng nhớ thương làm sao. Bốn ngày qua bao nhiêu là cảm xúc bao nhiêu là hình ảnh tái hiện, những hình ảnh tái hiện vừa đắng buốt vừa ấm nồng. Sèn Vạn Vần và tôi cám ơn số phận cho mình trở lại với tuổi trẻ đời mình. Còn bao nhiêu mong muốn mà đâu dễ gì làm được, chúng tôi hiểu và chấp nhận như ngày nào chúng tôi nhẹ nhàng vào trận đánh. Bao nhiêu đòng đội của chúng tôi chịu thiệt thòi sau cuộc chiến vẫn sống gian nan đâu đó khắp đất nước này nhưng khi nhắc về ngày chiến đấu đã xa ai cũng thấy mình tự hào và tin yêu vào cuộc sống.



Dẫu chưa được dừng chân ăn một bữa cơm dưới chân một nhà sàn Tây nguyên ngày xưa, chưa được trở lại những cánh rừng có cây Pơ Lang mà ở đó chôn vội bạn mình rồi lại lao về phía trước, dẫu chả tìm thấy hình dáng những người dân hiền lành địu con trước bụng gùi dao sau lưng lên rẫy như ngày nào. Nhưng được nhìn thấy miên man là hồ tiêu cà phê xanh ngút ngát cao nguyên này là thấy máu xương sức lực của mình và đồng đội không hề uổng phí. Gió cao nguyên tràn qua đầu qua tóc chúng tôi, tràn qua đỉnh Hàm Rồng về phía những cánh rừng biên giới. Ở Tây nguyên đến cái gió cũng xanh cũng thơm mùi cà phê, cái gió cái nắng cũng cong mơn man như bờ vai cô gái Ba Na mà chúng tôi đã quen từ gần nửa thế kỉ trước. Mai chúng tôi về miền bắc. Tây Nguyên là tuổi trẻ của Sèn của tôi của đồng đội. Tuổi trẻ đã lùi lại phía sau rồi Cao Nguyên của chúng tôi ơi. Rồi sẽ có những buổi chiều trên núi cao Xín Mần sám mầu núi đá bạn Sèn của tôi quay nhìn về phía Nam mà gọi, mà nhớ, mà lẩm nhẩm hát bài Em là hoa Pơ lang trong niềm thương nhớ cạn lòng.



NTL.


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »