tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
04.03.2020
Nguyễn Tài
Khúc khuỷu đường đời (11)


C11. Từ sau khi Bộ Nội vụ đồng ý cho kiểm tra lại vụ bản Anh văn:


1. Ngày 10/6/1980, tôi có thư gửi anh Sĩ Huynh và anh Trăng Cục D3 và anh Lương Cục D4.


a. Cục G3 đang bám lấy chỗ anh Mão không nhận chuyển tài liệu cho Trọng Bình ra Hà Nội, chưa tìm được ai đã đưa photocopy, thậm chí đang thất lạc bản photocopy gốc (mặc dù Sành đã xác nhận có dịch 7/1976. Và hiển nhiên đã có bản ở Thành ủy Sài Gòn).


b. Do đó đề nghị các anh Cục D3 giúp cho xúc tiến tìm như tôi đã có thư hôm trước.


c. Nay đề nghị Cục D3 và Cục D4 cho tìm sẵn trong hồ sơ công tác khoảng từ tháng 6, 7 và 8/1976 xem những tài liệu mà Cục G3 giúp photocopy cho hai Cục - để có tài liệu so sánh với loại photocopy trên máy Cục G3. Tôi được nghe nói tài liệu TG của Cục D4 có rất nhiều loại này. Nếu Cục D3 và Cục D4 có gửi sơ tán đi Sài Gòn thì yêu cầu các anh cũng chỉ thị cho anh em tìm. Nếu có thì gửi về Cục một tập hồ sơ để làm tài liệu mẫu.


2. Ngày 7/8/1980, tôi nhận được thư của anh Huynh, Cục trưởng D3 thông báo việc đã tìm được bản Anh văn của Cục D3.


Ngày 10/8/1980, anh Quyết cho tôi biết: “Hồi 1978 anh Mão, nguyên Trưởng phòng 4 - sau làm Cục phó D3 - phủ nhận không biết gì chuyện này, viết văn bản hẳn hoi. Năm 1980, anh ta ở Campuchia không về được, lại viết cam đoan như cũ”.


Ngày 8/8/1980, tôi gửi thư cho BCSĐ/BNV, chính thức báo tin đã biết là Cục D3 đã tìm được bản Anh văn, kèm một số ý kiến tôi bổ sung bản phát biểu ngày 31/7/1980; và đề nghị kết thúc.


Nghe nói tối 12/8/1980, trước mặt BCSĐ/BNV, Cục D3 đã đưa hồ sơ ra báo cáo, thì là hồ sơ thuộc Phòng anh Mão; ngoài bản Anh văn, còn có bản dịch chữ Việt của tụi Ngụy. Bản chú thích của tôi khi gửi Thành ủy Sài Gòn đã được cháu Việt - là cán bộ trong Phòng anh Mão chép “theo chỉ thị của đồng chí thứ trưởng Nguyễn Tài, lưu ở Cục D3”.


Còn bản gửi đi Sài Gòn thì anh Sành ghi là “trả thư ký anh Tài để gửi đi”. Cháu Việt báo cáo “chép đó là theo ý kiến của anh Mão”.


3. Ngày chủ nhật 10/8/1980 anh Quyết không hẹn trước, đến nhà. Anh ấy nói đại ý: Đã thấy bản Anh văn của Cục D3 (nhưng chưa biết mọi chi tiết), và cho là nội dung không có gì buộc, nay đã rõ như thế thì không còn gì đặt ra đối với sinh mệnh chính trị tôi nữa.


Nhưng anh Quyết cũng tỏ ra tin Cục G3 làm không sai. Nói là vẫn đang tìm ai đã photocopy, chưa thấy. Từ đó cho rằng bản chụp ảnh được là của người nước ngoài.


Tôi đã trả lời miệng những ý nêu ra rời rạc. Và ngày 11/8/1980 ghi thành hệ thống, bác bỏ lập luận của Cục G3: họ định chối không photocopy nghĩa là không có cơ hội để bị nhầm; họ thuyết phục anh Quyết rằng không nhầm, để mặc nhiên phải coi bản chụp ảnh được, đúng là của người nước ngoài. Bản gửi BCSĐ/BNV, tôi chỉ nêu tình hình thực tế. Ngoài ra, có gửi anh Trần Đông một thư riêng vạch thẳng mưu mô của Cục G3.


4. Cũng nghe nói, tối 12/8/1980, BCSĐ/BNV đã nghe các Cục liên quan báo cáo.


Anh Quyết đã nói ở cuộc họp về tôi giống như đã nói với tôi; nhất là sau khi nghe cụ thể tình hình ở Cục D3.


Về việc có nhầm hay không, thì tại chỗ, Cục G3 nêu một sự phát hiện mới: bản ảnh chụp rõ mọi chi tiết; còn bản của Cục D3 thì một số chữ viết tay bị mờ; như thế thì Cục G3 đã chụp trên một bản không phải của Cục D3. Trước sự nêu vấn đề như thế, BCSĐ/BNV đã có những phản ứng khác nhau, anh em D3 ngờ có sự bố trí gì khác. Nên có ý kiến là ghi lại để sẽ làm cụ thể với tôi (dường như để thuyết phục tôi tin rằng đó là tài liệu của người nước ngoài).


 


Ngày 14/8/1980, anh Dư ở Vụ Tổng hợp cho tôi biết có cuộc làm như trên, không nói sâu vào nội dung, nhưng có ý kiến sẽ làm với tôi sau ngày 21/8/1980. Tôi đã có thư cho anh Dư, nêu những ý kiến của tôi về thành phần làm, về những hiện vật cần mang đến. Anh Dư nói đã sao gửi các anh trong BCSĐ/BNV.


 


5. Ngày 18/8/1980, làm việc với anh Thành BVĐ.


 


Ngày 19/8/1980, gửi bản phân tích bản Anh văn là phim thứ 43, ngoài số tài liệu của người nước ngoài.


 


Ngày 20/8/1980, gửi thư việc Cục G3 vi phạm đối với bằng chứng. Tối 20/8/1980, anh Quyết điện thoại thanh minh việc đó; và đề cập sự so sánh giữa bản ảnh chụp với bản của Cục D3. Tôi trả lời miệng, và ngày 21/8/1980 làm thành văn bản chính thức về việc đó. Ngoài ra có điện thoại với anh Đông xung quanh việc này, yêu cầu làm với BCSĐ/BNV để kết thúc.


 


6. Thư ngày 21/6/1980: gửi anh Trần Quyết và anh Trần Đông BCSĐ/BNV và anh Thành Vụ BVĐ.


 


1. Việc chụp ảnh thử nghiệm trên máy của Cục G3:


 


- Ngay từ 1978, đã có sự phát hiện tấm ảnh chụp tài liệu Anh văn không thấy có vết gấp; vậy nói rằng nó được lấy ra từ trong một phong bì của tên gián điệp người nước ngoài là không có lý.


 


Sau 1978, Cục G3 trình bầy rằng kỹ thuật chụp ảnh hiện đại có thể làm mất hết vết.


 


Do đó có lời đề nghị cho chụp thử nghiệm; bởi kinh nghiệm thông thường thì không như Cục G3 nói: ảnh chụp phải có để lại vết gấp nếu quả thực hiện vật đã được gấp lại.


 


- Căn cứ yêu cầu của Vụ BVĐ, để có tài liệu chính thức lưu hồ sơ BVĐ về chuyện đó; anh Tiến đã đồng ý cho tổ chức chụp thử nghiệm một cách hợp thức, có anh Thành BVĐ dự, và tôi được chứng kiến. Đã hẹn làm ngày 1/6/1980, rồi lại hoãn vì lý do cô Tranh đau răng.


 


Cũng cần nhắc lại là trước đó:


 


- Nghe nói có một cuộc chụp thử trước anh Quyết, anh Trọng và anh Tiến, trên một tờ pơluya, thì nói là không có vết gấp; nhưng chưa thấy in thành ảnh để thông báo kết quả (làm cuối 4/1980).


 


- Nhưng cũng trước mặt anh Tiến, có tôi dự, cùng anh Khiêm, anh Bình, chụp thử trên một tờ giấy loại photocopy, thì mọi người tham dự đều không ai phủ nhận được là vết gấp còn thấy được bằng mắt thường. (ngày 10/5/1980).


 


- Ngày 21/6/1980, nhân gặp anh Tiến ở trường Đảng, anh Thành và tôi đều nhắc lại, và yêu cầu cho tiếp tục chụp thử nghiệm, như đã hẹn. Thì được anh Tiến trả lời: “Chưa xác định được bản Anh văn chụp ngày 12/7/1976 là thuộc loại giấy gì, nên chưa thể chụp thử nghiệm”.


 


Cả anh Thành và tôi đều ngạc nhiên về sự thay đổi ý kiến đó của anh Tiến.


 


Riêng tôi càng ngạc nhiên vì được anh Đông nhắn cho biết là các anh lãnh đạo Bộ Nội vụ đã họp nghe báo cáo, và đồng ý cho làm những việc như trên.


 


Chúng tôi cũng ngạc nhiên về sự mâu thuẫn ngay trong ý kiến của anh Tiến, khi anh Tiến nói thêm rằng: “cuộc chụp thử nghiệm cuối tháng 4/1980 trước anh Quyết, anh Trọng, và anh Tiến trên tờ pơluya là đáng tin cậy”(!) Tôi xin phép nêu câu hỏi: “Chính anh Tiến từ cuộc chụp thử nghiệm ngày 10/5/1980 không thể phủ nhận vết gấp còn rõ, vậy tại sao cuộc đó không được anh Tiến coi là đáng tin cậy”?


 


Đảng không cho phép đảng viên cộng sản chúng ta “lươn lẹo” như vậy.


 


Yêu cầu tổ chức chụp thử nghiệm đúng cách:


 


1. Tôi đề nghị cho tiếp tục việc chụp thử nghiệm như đã định.


 


Và để đảm bảo khách quan, tôi kiến nghị cụ thể như sau:


 


- Cuộc xác minh đã cho biết bản Anh văn gồm có: bản gốc có lẽ bằng một tờ pơluya (mỏng hoặc dầy 1 chút như thường dùng ở công sở Ngụy cũ); một hoặc nhiều bản photocopy mà chắc chắn là loại giấy chuyên dụng của Mỹ (căn cứ bản tôi đã được đọc, và anh Trọng Bình đã xác nhận).


 


- Vậy, nên tổ chức chụp thử nghiệm chính thức và hợp thức trên cả 2 loại giấy; nếu cần thì mỗi loại có thể dùng nhiều loại tương tự xê xích chút đỉnh.


 


- Kết quả chụp thử nghiệm một cách khách quan đối với từng loại giấy đều được ghi rõ ở biên bản: loại nào có vết gấp, loại nào không có vết gấp.


 


- Do đó, xin ấn định hạn chót cho việc chụp thử nghiệm. Vì cuộc làm như thế chỉ mất khoảng một giờ là cao nhất.


 


2. Để làm rõ chuyện bản tài liệu Anh văn, về phía tôi đã có đóng góp bằng những ý kiến phát biểu thành văn bản để chịu trách nhiệm về lời nói của tôi, và gần đây tôi đã gửi đến các anh một bản tổng hợp đối chiếu hai loại ý kiến, căn cứ những điều đã làm với tôi.


 


Tôi cũng đã có đề nghị Cục G3 nên làm thành văn ý kiến mình; và để phù hợp với cách làm việc trong Đảng, tôi xin được nhận một bản đó. Nhưng đến nay vẫn chưa có.


 


Trong khi đó, thỉnh thoảng tôi lại được hỏi, hoặc gián tiếp cho biết một số ý kiến, mà tôi cần phát biểu như sau:


 


- Lần này Bộ cho xem lại chuyện bản tài liệu Anh văn. Giới hạn đã rõ như vậy. Vì rằng các chuyện khác thì có cơ quan BVĐ đã làm; và vì nó đã được thanh toán; nên Trung ương không còn ghi ở kết luận.


 


Tôi xin miễn kể ra đây nhiều ý kiến khác, được nêu ra mà không dính gì đến chuyện bản tài liệu Anh văn cả.


 


Chỉ xin đề nghị là: Giới hạn đúng việc ta định làm để làm khẩn trương và dứt điểm.


Khúc khuỷu đường đời - Mười một năm liên tục đấu tranh để sự thật và lẽ phải được thừa nhận


(Hồi tưởng và suy nghĩ) 13 kì


 1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11   12   13   14


 


C12. Về cuộc họp tối 22/8/1980


 


Chiều 21/8/1980, anh Dư - Văn phòng BCSĐ/BNV điện thoại là tối 22/8/1980, BCSĐ/BNV triệu tập họp về chuyện bản Anh văn.


 


Thành phần như tôi đề xuất. Tôi báo ngay cho anh Thành BVĐ.


 


19 giờ 30, đến phòng họp Bộ Nội vụ. Có mặt trước tiên là anh Trọng, Bí thư Đảng ủy, anh Thắng cán bộ Cục E4. Tôi đến, kế đó là anh Trần Đông, anh Thành, anh Trần Quyết, các cán bộ Cục D3 (Cục phó Trăng, Phúc Anh, cán bộ Trọng Bình - sáng hôm sau gặp Sành, anh ta nói đêm đi công tác về muộn, không biết họp ở đâu, không đến được), cán bộ Cục G3 (Cục trưởng Mãng, Cục phó Mai Khiêm, Toàn, Trưởng phòng Bình, người chụp ảnh cô Trang, Trưởng phòng Dịch - là người đã nhắn cho tôi biết có chuyện ám muội), người cuối cùng là anh Minh Tiến.


 


Mở đầu, anh Quyết nói hôm nay chỉ có một việc là đối chiếu các bản Anh văn của D3, Thành ủy Sài Gòn và của anh Tài. Các anh lãnh đạo khác ở Bộ đồng ý. Tôi thêm, nếu có ý gì trái nhau, cũng nên trao đổi.


 


Đưa bản Anh văn của D3 ra, anh Thành đưa bản của Thành ủy Sài Gòn, bầy song song với bản của tôi còn lưu trước mặt anh Trần Đông. Anh Trọng Bình xác nhận: bản dịch tiếng Việt của Ngụy, đúng là bản đã tìm thấy cùng bản Anh văn trong phòng làm việc của tên Huỳnh Thới Tây, khối Cảnh sát đặc biệt Tổng Nha cảnh sát Ngụy, xếp gấp đôi; bản tiếng Việt ở trên, bản Anh văn ở dưới, cùng nhiều giấy tờ khác, tìm thấy trong dịp dồn lấy phòng làm việc cuối năm 1975. Bản Anh văn thì nội dung này là đúng, nhưng giấy thì không nhớ rỡ lắm; riêng lúc ở Sài Gòn, anh Thành gọi đến nhận diện bản Anh văn thì thấy bằng giấy chuyên dụng Hoa sen (anh Thành đính chính, có lẽ đó là bản do anh Chín Lực photocopy, chứ không phải bản chính của anh Tài gửi Thành ủy Sài Gòn).


 


Xem xét một lát, tôi đứng lên yêu cầu phát biểu ý kiến phân tích rằng: Hôm qua, anh Quyết điện thoại nói hai ý: có sự mờ tỏ khác nhau trên ảnh chụp tài liệu nói là của người nước ngoài, và bản của D3 (bản của D3 không phải là giấy chuyên dụng). Giải thích hiện tượng đó như sau: Nếu 3 bản Anh văn của Cục D3 và 2 bản kia là cùng được sản xuất một lần trên cùng một máy cụ thể của Cục G3, không phải là giấy chuyên dụng, vậy thì bản gốc của D3 chưa được trả lại cho Cục D3. Đến đây, thấy rõ do chưa đối chiếu, nên Cục D3 hiểu nhầm đó là bản gốc. Xem trong 3 bản photocopy hiện có, bản của tôi rất rõ, còn 2 bản kia có chữ này, chữ khác mờ tỏ khác nhau, chỉ là lỗi của máy. Bằng chứng, có chữ ở bản của D3 không rõ, thì ở bản của Thành ủy SG lại rõ hay ngược lại. Vậy không phải là bản gốc đều không rõ những chữ đó. Nếu ở bản gốc đã không rõ, thì ở cả 3 bản photocopy đều phải không rõ như nhau. Đằng này bản của tôi rõ đủ. Nó chỉ mới đạt 8/ 10 độ rõ so với bản gốc. Vậy: Ảnh chụp nó rõ như của Cục G3 là đương nhiên; vì bản của tôi cũng rõ. Độ đen trắng không có quan hệ, vì ảnh chụp bao giờ cũng đậm hơn photocopy.


 


Mọi người thấy vấn đề hơi đảo ngược so với dự đoán của Cục G3. Vì lập luận của họ là: ảnh chụp rất rõ mọi chữ, trong khi bản photocopy của D3 không rõ một số chữ, chứng tỏ: mỗi bản là chụp trên một bản gốc khác nhau (của người nước ngoài và của D3 photocopy ra). Với phân tích của tôi, việc nay đã sang tình huống khác. Nhưng có lẽ vì không hiểu được tình hình mới, lại do được chuẩn bị trước, nên cô Trang vẫn ra sức phân tích về mặt kỹ thuật về sự mờ tỏ. Rất lạc lõng, đến nỗi anh Trần Đông phải gạt đi.


 


Vấn đề là: Phải tìm xem bản gốc của D3 đã đi đâu? Phải chăng không được trả lại, nó đã được dùng để chụp ảnh và trả cho người nước ngoài?


 


Anh Minh Tiến báo cáo: Trước khi tìm được bản của D3, đã phải đi đường vòng để xác nhận. Chưa xong. Nhưng nay đã có bản của D3 thì không cần làm nữa.


 


Anh Mai Khiêm, Cục phó G3 trình bầy rằng: Anh Tài mới có bản phân tích nói về 43 phim, 42 ảnh. Đúng là chúng tôi chụp 43 phim và in 42 ảnh. Vậy là ý giống nhau.


 


Tôi bèn yêu cầu đưa phim ra đếm tại chỗ. Có ý còn lừng chừng. Tôi yêu cầu ai nói cứ nói; vài người ra một chỗ đếm phim. Anh em D3 nhận đếm. Sợ họ làm gian lận chăng, anh Quyết đứng ra xem. Đếm xong, họ báo cáo có tất cả 44 phim. Như vậy là lập luận của Cục G3 sụp đổ.


 


Anh Quyết vẫn cho là phải tìm xem ở D3, ai đã đưa photocopy để hỏi xem có yêu cầu vừa photocopy, vừa chụp ảnh; hay chỉ photocopy. Xem trên đặc điểm thì cho là Cục G3, nhưng lỡ ra khi báo cáo, cán bộ D3 lại nói đưa Cục khác làm thì sao? Nghĩa là vẫn hy vọng có việc như thế, để tỏ rằng Cục G3 chụp đúng của người nước ngoài.


 


Tôi nói tiếp: Có được anh Dịch nhắn qua vợ tôi là anh ấy đã báo cáo với anh Quyết, nên cho tôi biết có sự mờ ám. Nay không được trù người nói sự thật; yêu cầu cho anh Dịch báo cáo.


 


Anh Quyết nói chưa được nghe anh Dịch.


 


Anh Dịch nói: “Có xin gặp, lâu chưa được. Nhân anh Huynh hỏi ý nghĩ việc anh Tài, nên nhờ báo cáo giúp anh Quyết. Nay xin báo cáo trực tiếp ở cuộc họp này:


 


“Ban đầu chụp ảnh có ghi thì bản Anh văn ghi rõ không phải của người nước ngoài. Nhưng tháng 2/1979 ở buổi anh Lê Quốc Thân họp nắm lại tình hình, khi anh Lê Quốc Thân quát, đại ý: “Như thế bản Anh văn có phải của người nước ngoài đâu, sao ghi chép sổ sách như thế?”. Thì trước mặt mọi người dự hôm đó, cô Trang lấy bút sửa lại sổ”.


 


Lời báo cáo như một quả bom.


 


Vì hầu hết những người của Cục G3 có mặt hôm nay, cũng là những người đã có mặt hồi 2/1979, hôm anh Thân kiểm tra lại việc bản Anh văn do chỉ thị của anh Nguyễn Duy Trinh (theo đề nghị của tôi hồi đó); và cũng chính họ là những người khăng khăng rằng không nhầm, khi trả lời cho tôi 5/1980, và đã trình diễn để thuyết phục anh Quyết và anh Trọng là không thể nhầm. Nếu họ thành công trong việc lập luận rằng có hai bản Anh văn: một của D3, và một của người nước ngoài, thì mọi người rất dễ chấp nhận, và người ta vẫn có thể vin vào đó để coi là vấn đề chưa rõ đối với tôi. Bước lùi thật nham hiểm, sau khi D3 tìm được bản Anh văn còn lưu ở Sài Gòn (trong dịp sơ tán hồ sơ đề phòng Trung quốc đang đánh ở biên giới năm 1979).


 


Ngày 16/7/1976, trong sổ trả ảnh của Cục G3 cho Cục E4 ghi rõ trả 42 ảnh cùng phim.


 


Cục G3 vẫn thanh minh là sửa chữa không có gì; chỉ cho đúng sự thật.


 


Dường như anh Quyết cũng nói không có vấn đề gì.


 


Nhưng anh Trần Đông đi ra chỗ Cục G3, yêu cầu đưa xem sổ. Mang ra bàn bên xem. Xong đưa ra bàn lớn cho mọi người xem. Thì đúng như anh Dịch nói. Sổ ghi chụp của người nước ngoài là từ 618 đến 658; bị chữa số 9 đè lên số 8. Ở dòng dưới ghi chụp của D3 thì bắt đầu số 659, bị chữa đè lên thành chữ 660.


 


Cục G3 lại trình bầy sự không nhầm được. Đưa sổ trả ảnh, nói đã ghi trả 42 ảnh. Anh Thành nói: Tại sao sổ ghi trả ảnh ngày 16/7/1976; mà anh Lê Quốc Thân lại đã báo cáo Trung ương việc anh Tài từ 15/7/1976? Và cho biết, còn lưu trong hồ sơ BVĐ bản dịch viết tay với nội dung dịch sai, đề ngày 15/7/1976; do anh Lê Đức Thọ chuyển cho lưu. Và hiểu đó là bản đo anh Lê Quốc Thân mang lên đưa anh Lê Đức Thọ.


 


Có lẽ chỉ mấy người ngồi gần nghe thấy. G3 còn như điếc không sợ súng cứ thanh minh mãi.


 


Cục G3 vẫn lập luận có thể có hai bản Anh văn khác nhau.


 


Sáng 23/8/1980, lúc đầu tôi yêu cầu anh Dư báo cáo lãnh đạo cho tôi nghiên cứu một số bằng chứng, hiện vật. Được anh Trần Đông đồng ý, tôi đã đến Cục G3, nghiên cứu hai cuốn sổ, đoạn phim. Và yêu cầu nghe lại băng ghi âm 10/5/1980, đoạn cô Trang nói láo về sổ trả ảnh có ghi số thứ tự phim (nhưng không thấy có) - đọc lại đoạn thông báo 20/4/1979 về số phim chụp ảnh và ảnh đạt được (43 và 42). Hỏi băng ghi âm thì Mai Khiêm lúng túng, lúc thì nói có lẽ đã đưa BVĐ lưu theo nguyên tắc, lúc thì hỏi và trả lời là cô Bích làm băng đang đi nghỉ.


 


Tôi đã làm ngay bản phân tích, có kết hợp hình thức biên bản cuộc làm; và đối chiếu mục đích cuộc kiểm tra để đánh giá, yêu cầu kết thúc.


 


Bản này đã gửi một lần cho các anh Quyết, Đông, Sáu Hoàng, Vũ Oanh, Thành.


 


Sau đó gửi anh Lê Đức Thọ với thư kèm; anh Phạm Hùng với thư kèm, yêu cầu xác định cuốn sổ với sự ghi chép ban đầu là cơ sở xét đoán. Và đã có thể kết luận.


 


Ngày 26/8/1980, điện thoại cho anh Trần Đông. Anh ấy nói đang vội làm nghị quyết Bộ Chính Trị về công tác Công an; nên sau đó mới trở lại việc này được. Hứa sẽ bàn, vì hôm nọ chưa có phát biểu của Ban Cán sự. Cho biết lần đầu được thấy cuốn sổ và cho rằng không phải bình thường. Nhắc là: hôm xác định thái độ, là chung cho các Cục, không phải chỉ cho anh Mão là người đã rõ là nói dối.


 


Ở buổi 22/8/1980, anh Trọng, Bí thư Đảng ủy, có lẽ bắt đầu thấy vấn đề hơn là bữa bị họ bố trí để hướng vào nhận định là không sai. Sau này, có lần nói riêng với tôi là không ngờ có chuyện như thế; và thấy là đáng khinh quá.


 


Anh Thành điện thoại, yêu cầu góp ý phân tích mấy vấn đề:


 


* Ngày 15/7/1976 và 16/7/1976: Rõ là anh Lê Quốc Thân đã gửi báo cáo của Cục E4 dịch bản Anh văn ghi ngày 15/7/1976. Anh Lê Quốc Thân và anh Trần Lung - Cục phó Cục E4 đã gặp anh Lê Đức Thọ báo cáo. Một bản Anh văn gửi Ban Bí thư, một bản lưu ở E4; trước khi mọi ảnh chụp của người nước ngoài được in xong. Đây có đầu mối để thấy sự cơ hội chủ nghĩa, sự làm việc ngoài quy tắc, và E4 có người tự ý gắn bản Anh văn vào của người nước ngoài, sau đó Cục G3 cũng bị động lao theo.


 


* Việc bảo quản bằng chứng- Anh Thành nhắc yêu cầu Bộ Nội vụ cung cấp ảnh chụp các bằng chứng.


 


* Về việc cán bộ Cục G3 có khi tự ý cho chụp ảnh phòng hờ, mặc dù Cục chủ quản chỉ yêu cầu photocopy.


 


* Về ý anh Lê Đức Thọ muốn tìm người nào đã mở thư người nước ngoài hồi đầu, người nào đã dán thư trả người nước ngoài. Cục G3 chịu, không báo cáo được từ lâu. Dường như anh Lê Đức Thọ có đọc thư tôi gửi anh Lê Quốc Thân, liên hệ đến báo cáo của anh Hàm Cục G3 khẳng định sao đó, nên nay truy vào chỗ đó. Anh Thành đã nêu tối 22/8/1980. Sau có kể lại.


 


Anh Quốc Hùng đến thăm, nói “bây giờ không buộc được gì, nhưng có ý kiến mưu sĩ là đã bị Mỹ hỏi cung, thì cứ cẩn thận, vì CIA cao tay hơn mật thám Pháp”.


 


Anh Vân đến thăm, kể là “anh Dịch nói phải đấu tranh tư tưởng rất dữ. Vì trước 22/8/1980, Mai Khiêm, Cục phó Cục G3 o ép dữ lắm. Cấm không được nói lộ chuyện cuốn sổ bị sửa ra ngoài phạm vi Cục G3”.


 


- Thư ngày 25/8/1980: gửi BCSĐ/BNV và Vụ BVĐ.


Về chuyện bản tài liệu Anh văn do Cục G3 Bộ Nội vụ chụp ảnh được ngày 12/7/1976 - mà tôi đã khiếu nại đối với điều 2 bản kết luận 908 của Ban Bí Thư ngày 18/8/1979 - thì vấn đề chính phải giải đáp là: Nó là của đoàn nước ngoài? Hay không phải là của đoàn nước ngoài?


 


Mọi cố gắng của chúng ta đều nhằm tìm cho được bằng chứng khách quan, chính xác, làm căn cứ giải đáp câu hỏi đó.


 


Năm 1980, từ khi BCSĐ/BNV - thi hành ý kiến của Ban Bí thư - cho xem lại tình hình về chuyện bản Anh văn 1976, thì đến nay đã có thêm những sự phát hiện mới rất quan trọng, làm sáng tỏ vấn đề.


 


Đó là:


* Cuối tháng 7/1980, đã tìm thấy bản Anh văn của Cục D3 cùng một số giấy tờ khác có liên quan, chứng tỏ Cục D3 đã có bản Anh văn từ đầu năm 1976, và đã đưa photocopy trùng ngày mà Cục C3 nói là chụp ảnh được ở tài liệu đoàn nước ngoài ngày 12/7/1976 một bản Anh văn y hệt.


 


* Tại buổi làm việc của BCSĐ/BNV tối 22/8/1980 nhờ sự báo cáo trung thực của anh Dịch, cán bộ Cục G3, lần đầu tiên Cục G3 đã trình ra cuốn sổ ghi công tác chụp ảnh của Cục, nó là một loại bằng chứng gốc rất quan trọng để xét đoán; điều đáng chú ý là ở chỗ ghi chụp ảnh tài liệu đoàn nước ngoài ngày 12/7/1976 đã có sự sửa chữa với mục đích làm thay đổi sự thật ban đầu.


 


* Cũng tại buổi làm việc này, anh Thành, Vụ trưởng Bảo vệ Đảng đã phát hiện sự mâu thuẫn quan trọng trong thời gian tính của các hành động của anh Thân và của các Cục G3, E4.


 


- Được sự đồng ý của anh Trần Đông (BCSĐ/BNV), sáng 23/8/1980, tại Cục G3, có sự giúp đỡ của anh Mai Khiêm, tôi đã nghiên cứu trực tiếp trên một số hiện vật:


 


Đoạn phim bị cắt rời, mang số từ 11618 đến 11659;


 


Sổ gốc ghi chép công tác chụp ảnh của Cục G3, đoạn ghi thời gian 12/7/1976 và các ngày gần đó.


 


Đọc một số đoạn trong bản đánh máy của Cục G3 ghi theo biên bản ghi âm buổi thông báo của Cục G3 cho anh Tài ngày 20/4/1979 (vì chưa tìm được băng ghi âm).


Nghe đoạn cuối biên bản ghi âm buổi làm việc của Cục G3 với anh Tài ngày 10/5/1980.


 


- Cũng sáng 23/8/1980, tôi đã liên lạc với anh Thành, Vụ trưởng BVĐ để được hiểu rõ về điều mà anh Thành đã phát hiện và nêu ra ở cuộc họp tối 22/8/1980 tại BCSĐ/BNV.


 


Tiếp theo các ý kiến đã trình bầy ở các văn bản của tôi ngày 11/7/1980, 8/8/1980 và 11/8/1980.


 


* Nay tôi thấy đã đủ tình hình và điều kiện để trình bày với BCSĐ/BNV và Vụ BVĐ, ý kiến về các vấn đề cơ bản trong chuyện bản Anh văn 1976.


 


Sau đây, xin lần lượt trình bày từng vấn đề:


 


I. Đã có đầy đủ bằng chứng đáng tin cậy để khẳng định rằng: Bản Anh văn do Cục G3 Bộ Nội vụ chụp ảnh ngày 12/7/1976 không phải là của đoàn nước ngoài:


 


1. Từ trước đến nay, ý kiến anh Thân và Cục G3 thông báo cho tôi “coi bản Anh văn chụp ảnh ngày 12/7/1976 là của người nước ngoài” là dựa vào lập luận sau đây:


 


a) Tìm cách phủ nhận Cục G3 đã giúp Cục D3 photocopy bản Anh văn hồi 1976, từ đó nói rằng không làm gì có điều kiện để xảy sự nhầm lẫn.


 


b) Nói rằng Cục G3 làm việc có quy tắc, có sổ sách ghi chép, nên mới khẳng định được là của người nước ngoài; phim chụp còn lưu là bằng chứng.


 


c) Khi hỏi tại sao tài liệu nói là lấy từ phong bì ra chụp ảnh mà không thấy vết gấp, sự trả lời là máy chụp ảnh hiện đại nên xoá được vết gấp.


 


Ngược lại, ở văn bản 11/8/1980 của tôi (trang 1) tôi đã trình bầy vắn tắt những sự phân tích cụ thể trên hiện vật, cũng như tổng hợp về các mặt chính trị, chuyên môn tình báo phản gián, pháp lý để nói rằng không có gì làm căn cứ để nói bản Anh văn chụp ảnh ngày 12/7/1976 là của người nước ngoài (trình bầy chi tiết ở văn bản 31/7/1980 từ trang 2 đến trang 5). Trước tình hình ý kiến hai phía còn tranh chấp chưa đi đến kết luận ngã ngũ, xuất hiện ý kiến cho rằng do lâu ngày không đủ điều kiện làm rõ triệt để nên hiện tồn tại có hai khả năng có thể bản Anh văn ấy là của người nước ngoài; và có thể nó không phải là của người nước ngoài”.


 


2. Nhưng nay, với cuốn sổ gốc ghi chép chụp ảnh của cục G3 mới trình ra và ra và tôi được nghiên cứu trực tiếp trên đó, thì rõ ràng: Cuốn số đó là bằng chứng khách quan có tính cách quyết định cho phép khẳng định bản Anh văn do Cục G3 chụp ảnh được ngày 12/7/1976 không phải là của người nước ngoài.


 


Tôi xin chứng minh nhận định nói trên bằng chính tài liệu của Cục G3:


 


a) Cuốn sổ này là loại sổ gốc, ghi chép theo thứ tự thời gian mọi công tác chụp ảnh của Cục G3, liên tục trong nhiều năm để khi cần thiết là tra cứu.


 


Mỗi việc được chụp ảnh đều ghi số của phim, bắt đầu và số của phim cuối cùng đã chụp cho việc này.


Vậy nó có đủ giá trị hợp thức và là căn cứ có tính cách quyết định để nhận định.


 


b) Trong sổ này, công việc chụp ảnh tài liệu đoàn nước ngoài ngày 12/7/1976 đã được ghi chép ban đầu là:


 


“D1, KE4. Tài liệu của thương nhân nước ngoài. 618-658” được giải thích là bắt đầu chụp từ phim mang số 11618, và kết thúc ở phim mang số 11658.


 


c) Đối chiếu sự ghi chép trên sổ đó với đoạn phim bị cắt rời, có số 11618 đến 11659, thì rõ ràng, không thể coi phim mang số 11659 đã dùng để chụp một tài liệu của đoàn nước ngoài, cho dù là tài liệu cuối cùng.


 


Vì, cũng trong cuốn sổ đó, thì sự ghi chép ban đầu ngày 12/7/1976 đã ghi phim số 659 (tức 11659) mở đầu việc một việc chụp ảnh khác có liên quan đến Cục D3, chứ không hề dính dáng gì đến việc đoàn nước ngoài của Cục E4.


 


d) Vậy sổ gốc và phim lưu, xem riêng và đối chiếu đều cho thấy: Bản Anh văn do Cục G3 chụp ảnh ngày 12/7/1976 bằng phim số 11659 không nằm trong số tài liệu của đoàn nước ngoài.


 


Ắt là phải dựa vào căn cứ nào nên hồi 7/1976 cô Trang mới không hề coi bản Anh văn là của người nước ngoài, và ghi vào sổ một cách chân thực như đã thấy.


 


3. Đến đây thiết tưởng cần phân tích về việc cô Trang đã sửa sổ hồi tháng 2/1979:


 


Xem trong sổ gốc đó; Cùng một trang đã có hai chỗ sửa sổ:


 


- Ở dòng ghi chụp tài liệu người nước ngoài:


 


Sự ghi chép ban đầu còn trông thấy rõ “618-658”


 


Nay trông thấy rõ đã chữa 658 thành 659.


 


Chỉ sửa một chữ số, mà đổi vị trí của phim chụp một cách giả tạo, Biến phim mang số 111659 trở thành kiểu phim cuối cùng chụp tài liệu đoàn nước ngoài. Và tự nhiên là, từ chỗ không phải là tài liệu của người nước ngoài bản Anh văn chụp ảnh được ngày 12/7/1976 đã bị coi là tài liệu của người nước ngoài một cách “có bằng chứng”.


 


Tại buổi làm việc tối 22/8/1980 cô Trang thừa nhận đã sửa sổ tại cuộc họp 2/1979 để anh Thân nắm lại tình hình trước khi gặp anh Tài về chuyện bản Anh văn. Nhưng cô Trang biện bạch rằng “sửa như vậy cho đúng tình hình thực tế”.


 


Tôi đã kiểm tra đối chiếu các bằng chứng hiện vật, thì thấy lời biện bạch của có Trang hoàn toàn sai sự thật, và là không trung thực:


 


a. Sổ của Cục G3 trả ảnh cho Cục E4 đã ghi: “16/7, tài liệu phái đoàn nước ngoài, giao cả phim. 84. Chg” Cục G3 giải thích là 42 ảnh, mỗi ảnh 2 tấm.


 


Thông báo ghi âm ngày 20/4/1979 của Cục G3 giải thích thêm. Tổng số các phim chụp là 43 kiểu, nhưng do có chụp nhầm nên chỉ có 42 ảnh có giá trị dùng được. (Trang 11 và 41 bản ghi lại băng ghi thông báo 20/4/1979).


 


Lấy đoạn phim bị cắt rời ra để so, đếm bắt đầu từ phim số 11618 đến phim thứ 43, thì thấy phim thứ 43 đó có số 11658. Và cũng thấy rõ phim số 11657 đã chụp cùng một tài liệu 2 lần bằng 2 phim khác nhau, chỉ mang chung một số; bởi thế tuy 43 kiểu phim, nhưng có giá trị dùng được chỉ có 42 ảnh.


 


Sự nghiên cứu thông báo 20/4/1979, soi rọi vào phim và sổ ghi trả ảnh, thì thấy sổ gốc ghi chép ban đầu là hoàn toàn phù hợp với nhau; và sổ ghi gốc như vậy là đúng với thực tế.


 


Xin hỏi: Cô Trang nói đã sửa số 658 thành ra 659 “cho đúng thực tế” là nghĩa thế nào? Phải nói là “cho sai thực tế” mới đúng.


 


b. Thông báo của Cục G3 ngày 20/4/1979, khi trình bầy về 43 kiểu phim, mà chỉ có 42 ảnh giá trị, thì lại quan niệm 43 kiểu phim đó là bao gồm từ phim mang số 1618 đến phim mang số 11659.


 


Tại buổi làm việc tối 22/8/1980 trước anh Quyết, đoạn phim đã được đếm từng kiểu, thì thực tế, từ số 1618 đến 11659 đã có tất cả 44 kiểu phim. Sở dĩ có như thế, vì có hai lần chụp nhầm phim số 11657 như đã kể trên; một lần khác là phim số 11649 nhầm phim số 11657 cũng có 2 phim cùng số ấy, nhưng mỗi phim là một tài liệu khác nhau.


 


Kiểu phim thứ 44 mang số 11659 là chụp bản Anh văn, rõ ràng phải coi là nằm ngoài đoạn phim 43 kiểu đã chụp tài liệu đoàn nước ngoài.


 


Cô Trang cũng không có lý do gì để đưa phim thứ 44 vào tài liệu đoàn nước ngoài “cho đúng thực tế” cả”.


 


c. Vậy sự sửa chữa sổ của cô Trang hồi 2/1979 là trái với tình hình thực tế chứ không phải cho phù hợp với thực tế. Có chăng là để phù hợp với một ý định có sẵn, muốn coi bản Anh văn phải thuộc vào tài liệu của người nước ngoài, bằng cách giả tạo, trái nguyên tắc làm việc của Đảng. Cho nên hành động sửa sổ của cô Trang cũng là trái pháp luật Nhà nước. Sự biện bạch của cô Trang là không trung thực. Tôi xin BCSĐ/BNV tiếp tục kiểm tra sâu việc này.


 


Việc tự động cắt rời đoạn phim nói là của đoàn nước ngoài từ 1976 để cố ý cho nó tận cùng bằng số 11659 rõ ràng không có căn cứ nào thực tế. Chỉ là để gây ấn tượng cho người nghiên cứu về sau, nếu không được nghe báo cáo trung thực của anh Dịch. Và hành động ấy là tiền đề cho mọi sự rắc rối khác về chính trị nội bộ.


 


Tính chất nghiêm trọng của hai hành động trên là nó phục vụ cho một sự giả tạo tình hình và tài liệu để đặt vấn đề chính trị đối với một công dân, một cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước và ngành Công an.


 


4. Việc cô Trang sửa chữa sổ gốc hồi 2/1979 là hành động sai lầm và phi pháp.


 


Xin Ban Cán Sự Đảng chính thức tuyên bố: Sự sửa chữa đó hoàn toàn không có giá trị thay thế sự ghi chép ban đầu hồi 1976. Và không thể dùng sự sửa chữa đó làm cơ sở để nhận định trong dịp BCSĐ/BNV kiểm tra lại chuyện bản Anh văn năm 1976.


 


Sự ghi chép ban đầu của cô Trang hồi 1976 ở sổ gốc ghi chép chụp ảnh là hợp thức và chính xác. Nó cộng với đoạn phim còn lưu, với sổ ghi trả ảnh của Cục G3 cho Cục E4, và những hiện vật bằng chứng khác, họp thành tổng thể bằng chứng chính xác, quyết định để khẳng định theo hẳn một hướng: Bản Anh văn do Cục G3 chụp ảnh ngày 12/7/1976 không phải là của người nước ngoài.


 


Không hề có sự tồn tại song song cả hai khả năng “có thể là của người nước ngoài, có thể không phải là của người nước ngoài”. Thực tế đã quá rõ ràng rồi.


 


Bên cạnh sự phân tích trên bằng chứng hiện vật, thì sự đánh giá tổng quát của yếu tố chính trị, chuyên môn và pháp lý đều cho phép khẳng định như trên.


 


Đã hoàn toàn đầy đủ bằng chứng để kết luận giải đáp mục đích yêu cầu chính của cuộc kiểm tra lần này về chuyên bản Anh văn.


 


Tôi xin BCSĐ/BNV sớm ra kết luận về xuất xứ bản Anh văn 1976, để báo cáo Ban Bí thư xét khiếu nại của tôi; đồng thời cải chính ý kiến trước đây nói không đúng sự thật về việc này.


(còn tiếp)


Nguồn: Khúc khuỷu đường đời - 11 năm liên tục đấu tranh để sự thật và lẽ phải được thừa nhận. Hồi tưởng và suy nghĩ của Nguyễn Tài. Chưa xuất bản.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »