Chữ Nôm là một hệ chữ dùng để viết tiếng Việt, khởi đầu từ thế kỷ 11 (thời nhà Lý) cho tới cuối thế kỷ 19, đến đầu thế kỷ 20 thì không còn được sử dụng. Các tác phẩm chữ Nôm rất đa dạng, ngoài những truyện thơ theo Hàn luật, thể lục bát, song thất lục bát ta còn thấy những bài phú, hát nói, tuồng, chèo...Xin giới thiệu vài chữ Nôm cổ đã từng xuất hiện trong những văn bản truyện, thơ xưa, nghĩa của chúng có thể hoàn toàn khác cách hiểu ngày nay.
+ CHẰM (沉), có nghĩa là khâu, chắp nối, kết liền các mảnh lại.
Mùa qua chằm bức áo sen (務戈 沉幅襖蓮) - trích từ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi.
+ CỒ (瞿): to lớn, cao cả.
Mến đức cồ, kiêng bùi ngọt, cầm giới ăn chay (勉德瞿經裴兀扲戒咹㪰) – trích Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông.
+ CỐC (谷): hay, biết, hiểu.
Tuồng này cốc được bề hơn thiệt. Chưa dễ bằng ai đắn với (mấy) đo (從尼谷特皮欣舌 渚易平埃旦買都) - trích Quốc âm thi tập.
+ KHỨNG (肯): chịu, thuận theo.
Dắt con một mình đi. Con bèn kêu khóc chẳng khứng đi (𢴑昆蔑𠇮𪠞 昆卞 叫哭拯肯𪠞) – trích Tân biên Truyền kỳ mạn lục.
+ MẠC (莫): vẽ, phác họa.
Khúc đàn này tiếng rung hoà nhạc. Tranh ân tình nét mạc ngàn xuân (曲弹尼㗂𢫝和樂 幀恩情湼 莫𠦳春) – trích Sơ kính tân trang của Phạm Thái.
+ MẢNG (莽): Mải miết
Tiếc xuân cầm đuốc mảng chơi đêm (惜春扲𤒘莽制店) - trích Quốc âm thi tập.
+ MỰA (馬): Chớ, đừng, không nên.
Liêm cần tiết cả tua hằng nắm. Trung hiếu niềm xưa mựa nỡ dời (rời) (廉勤節奇須恒捻 忠孝念初 馬女移) – trích Quốc âm thi tập.
+ NHẪN (忍): Suốt, cho đến
Soi khắp đầu Giêng liền cuối Chạp. Suốt từ một khắc nhẫn năm canh (𤐝泣頭𦙫連𨆝臘 率徐没刻忍𠄼更) – trích Hồng Đức quốc âm thi tập của Hội Tao Đàn do Lê Thánh Tông làm chủ soái.
+ ÓC (沃): Kêu, gọi.
Chim óc bạn cắn hoa nâng cúng. Vượn bồng con kề cửa nghe kinh (𪀄沃伴哏花能供 猿蓬昆掑宜經) – trích Vịnh Hoa Yên tự phú của thiền sư Huyền Quang.
+ TUA (須): Nên, phải, cần phải.
Sự ta chưa hở bề tơ tóc. Đường thế tua thìn (gìn) nỗi gió mưa (事些渚𠼯皮絲𩯀 塘世須辰挼𩙍湄) – trích Hồng Đức quốc âm thi tập.
22/3/2020
VTH biên soạn
www.trieuxuan.info
|