Alfred Nobel có người bạn là Bertha Suttner. Bà là người đi quyên góp ủng hộ phong trào hòa bình. Do sản xuất chất nổ dùng giết nhau trong chiến tranh nên Nobel bị một số người coi ông là hung thần. Có lần bà Bertha Suttner nói với bạn mình, nhà sản xuất thuốc nổ Alfred Nobel:
- Ông là một tên sát nhân!
Lời nói thẳng của bạn gái thời thanh niên làm Nobel suy nghĩ nhiều. Trước khi chết, Nobel viết di chúc để lại 32 triệu curon Thụy Điển làm quỹ giải thưởng Nobel hàng năm cho những người có cống hiến lớn lao cho nhân loại ở các lĩnh vực vật lý, hoá học, y học, văn học, hòa bình. Từ năm 1969, có thêm giải Nobel kinh tế. Giải thưởng Nobel là giải thưởng lớn trên thế giới (gồm huy chương vàng, giấy chứng nhận và tiền thưởng) hàng năm trao vào mùa thu. Giải vật lý, hóa học do Viện hàn lâm khoa học Hoàng gia Thụy Điển bình chọn, giải văn học do Viện văn học Thụy Điển xét chọn, giải sinh lý/sinh học do Viện nghiên cứu y học ngoại khoa Caroline bình chọn, giải hòa bình do một hội đồng gồm 5 người (do Nghị viện Na Uy chọn) xét duyệt. Giải Nobel phát lần đầu tiên vào năm 1901.
Nobel Văn học năm 1901: Sully – Prudhomme (1839-1907)
Tên thật của nhà thơ Pháp Sully-Prudhomme là Rene’ Francois Armand Prudhomme. Bố mất khi mới hai tuổi, nên Prudhomme cùng mẹ và chị gái đến sống ở nhà người chú. Ông làm nhiều nghề để kiếm sống, tối tối ông nghiên cứu triết học và làm thơ. Năm 1865, ông xuất bản tập thơ đầu tay Tứ tuyệt và các bài thơ (Stances et pòemes) với bút danh Sully-Prudhomme. Thơ ông ít có bản sắc riêng, thể hiện nỗi buồn lo trong tình yêu trong Nỗi cô đơn (Les solitudes, 1869) và Tình yêu vô vọng (La vaines tendresses, 1875). Sully - Prudhomme mong muốn kết hợp thơ với khoa học và sáng tác nhiều bài thơ triết học như Công lý (La justice, 1888). Trường ca Hạnh phúc (La bonheur, 1888) gồm 4.000 câu thơ khẳng định hạnh phúc có thể đạt được nhờ ham học hỏi, nhờ hướng thiện và lòng hy sinh. Ngoài thơ, Sully- Prudhomme còn viết các khảo luận Tôn giáo đích thực theo Pascal (La vraie religion selon Pascal, 1905); Vấn đề mục đích cuối cùng (Le Problème des causes finale, 1906); Tâm lý của sự tự do lựa chọn (Psychologie du libre arbitre, 1906). Sully Prudhomme là thi sĩ trường phái Thi Sơn (Parnasse). Những bài thơ hay của ông là Khoan dung (Le Pardon, 1861); Bình bể (Le vase brisé, 1865); Mắt (Les yeux,1865). Thơ của Sully-Prudhomme được người đương thời yêu thích, vì nó thể hiện những rung cảm của tâm hồn, những băn khoăn của lương tâm, vì những lý tưởng nhân đạo của ông đã đưa thơ thoát khỏi bóng tối của chủ nghĩa bi quan. Ông là người đầu tiên nhận giải thưởng Nobel văn học vào năm 1901.
Năm 1902: THEODOR MOMMSEN (1817-1903)
Dùng hình tượng trong lời văn để nói sử
Theodor Mommsen là nhà sử học, luật gia, chính khách Đức, ông sinh ngày 30.11.1817 ở Garding thuộc Schleswig và mất ngày 1.11.1903 ở Charlottenburg.
Mommsen học ngữ văn và luật ở Kiel, ông đi điền dã khảo cổ học ở nhiều nơi. Trong năm cách mạng 1848 ông là biên tập viên báo vùng Schleswig-Holstein (Schleswig-Holsteinische Zeitung). Rồi ông giảng luật 2 năm ở Đại học Tổng hợp Leipzig. Ông bị thôi việc vì tham gia phong trào cách mạng. 1852, ông dạy Luật Lamã ở Đại học Tổng hợp Zũrich (Thuỵ Sĩ); 1854, ở Đại họcTổng hợp Breslau, 1854-1856, ông xuất bản bộ sử 3 tập Lịch sử La Mã (Rõmische Geschichte). 1858, ông là Giám đốc cơ quan nghiên cứu bi ký Latin ( CIL : Corpus Inscriptionum Latinarum). 1873-1895, ông là thư ký Viện hàn lâm khoa học Phổ và chủ biên bộ sách Monumenta Germaniae Historica. 1871-1884, Momsens là nghị sĩ quốc hội Đức.
Momsen đã bỏ ra nhiều năm để nghiên cứu chữ cổ và những dòng bi ký được khắc trên đá. Ông đã hệ thống và hoàn thiện những kiến thức có được về ngôn ngữ cổ, cộng với việc nghiên cứu sâu hệ thống luật pháp La Mã nên ông có thể làm những gì khắc trên đá phải nói thành lời sau nhiều năm câm lặng cùng với thời gian. Những điều trên đã giúp cho việc dựng lại lịch sử La Mã. Momsen đã bóc được lớp bụi mà thời gian đã phủ lên các bi ký và làm sáng tỏ những điều mà các bi ký muốn nói.
Ngoài hai bộ sách trên, Momsens còn viết Luật nhà nước La Mã (Rõmisches Staatsrecht), Luật hình sự La Mã (Rõmisches Strafrecht), Lịch sử tiền kim loại La Mã (Geschichte des rõmischen Mũnzwesens), Biên niên sử La Mã (Rõmische Chronologie). Với cách hành văn trong sáng, súc tích, giàu hình ảnh, những bộ sách của Momsens làm sống lại con người và xã hội La Mã trước mắt chúng ta. Momsens được ngành sử học đánh giá rất cao, ông được coi là một trong những nhà sử học thiên tài của nhân loại. Với công lao to lớn ấy, nên tuy là nhà sử học, nhưng Theodor Momsen được giải thưởng Nobel văn học năm 1902.
Nguồn: Tác giả đoạt giải Nobel Văn học (từ 1901 đến 2007), tiểu sử và giai thoại. Lương Văn Hồng biên soạn. Nhà xuất bản Văn học sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info |