24.11.2009
Đặng Nghiêm Vạn
Văn hóa Việt Nam đa tộc người (3)

4. Văn hóa dân tộc và văn hóa tộc người


Cùng cư trú trong một không gian xã hội hay một khu vực lịch sử - dân tộc nhất định, cùng chịu tác động qua lại của những ảnh hưởng văn hóa nội sinh hay ngoại nhập, lại cùng sinh sống trong một quốc gia - dân tộc được điều hành bởi một Nhà nước, cùng chia ngọt sẻ bùi trong việc chinh phục và thích nghi với tự nhiên và lại cùng chung một chiến hào chống ngoại xâm, các tộc người trong một nước thường có những hiện tượng và yếu tố văn hóa giống nhau. Sự giống nhau được nhân lên với số lượng thời gian cư trú trong một đất nước, rõ rệt ở các tộc người bản địa, ít rõ rệt hơn ở các tộc người mới đến. ở Việt Nam, hầu hết các tộc người từ buổi ban đầu đều cư trú ở phương Nam trong khu vực nhiệt đới gió mùa ẩm, đã góp phần sáng tạo nên một nền văn hóa bản địa đặc sắc, được giới Dân tộc học gọi là văn hóa Nam Phương (austrique), nên tính thống nhất văn hóa lại đậm đà hơn. Tiếp theo, họ lại chịu tác động chung, đậm nhạt khác nhau của nền văn minh Trung Hoa và ấn Độ, gần đây là của nền minh công nghiệp phương Tây. Vì vậy, có một điều dường như kỳ lạ mà dễ hiểu là mặc dù thành phần tộc người của đất nước Việt Nam rất phức tạp (54 tộc người với 300 nhóm địa phương), thuộc ba dòng ngôn ngữ khác nhau, nhưng tính thống nhất về văn hóa vẫn là cơ bản.


Nền văn hóa một quốc gia dân tộc được hình thành là do yêu cầu của tất cả các tộc người cấu thành, phải rất sớm xây dựng để tạo nên một sự thống nhất trong một cộng đồng rộng lớn hơn, mạnh mẽ hơn: cộng đồng quốc gia dân tộc. Nền văn hóa đó được tạo dựng là do sự góp phần tuỳ theo khả năng từng tộc người vào kho tàng chung của dân tộc. Việc giới thiệu văn hóa một dân tộc chỉ dựa vào sự hiểu biết của một tộc người cho dù là đông nhất, phát triển nhất, nếu vì sự kém hiểu biết, thì có thể tha thứ, nếu lại có ý thức đại dân tộc, thì là một điều sai lầm, một tội lỗi. Phải quan niệm văn hóa quốc gia dân tộc là thống nhất trong đa dạng được biểu hiện muôn sắc ngàn hương ở từng địa phương, ở từng tộc người, tạo nên những tiểu khu vực hay vùng lịch sử - văn hóa.


Việc phân chia ra các tiểu khu vực hay vùng lịch sử - văn hóa ở Việt Nam chưa được các tác giả thống nhất. Người đầu tiên lưu ý nghiên cứu vấn đề này là Ngô Đức Thịnh, với việc phân chia ra các vùng văn hóa và các tiểu vùng văn hóa ở Việt Nam. Ông đã đúng khi thấy việc phân vùng văn hóa phải dựa trên sự tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên, về mối quan hệ về nguồn gốc và lịch sử các tộc người, về trình độ phát triển kinh tế xã hội của các cư dân, từ đó hình thành nên các đặc trưng văn hóa chung của quốc gia dân tộc và các đặc trưng từng vùng nhằm phân biệt được với các vùng văn hóa khác.


Chúng tôi thấy cần phải dựa thêm vào ảnh hưởng của tác động qua lại với những nền văn minh của bên ngoài. Chính vì tác động này, ta mới thấy tác giả có thể chia ra hai vùng văn hóa Việt Bắc - nơi ảnh hưởng đậm của văn minh Hán - Việt và văn hóa Tây Bắc và miền núi Bắc Trung Bộ - nơi gần như không chịu ảnh hưởng bao nhiêu văn minh Trung Hoa và cũng ít ảnh hưởng của đồng bằng, nhưng lại ảnh hưởng của văn hóa Lào; cũng như có thể chia ra vùng văn hóa duyên hải Bắc Trung Bộ (từ Huế đổ ra) và vùng văn hóa duyên hải Trung và Nam Trung Bộ từ Quảng Nam đổ vào. Phải chăng vì một vùng tuy xưa thuộc đất Chăm, nhưng lại chịu ảnh hưởng trội của văn hóa Hán - Việt và một vùng lại ảnh hưởng trội của văn hóa Chăm. Trong việc phân vùng văn hóa, Ngô Đức Thịnh nhấn mạnh đến tính tiền công nghiệp là đúng đắn nhưng lại nêu diện mạo của văn hóa dân tộc là văn hóa dân gian của nông thôn, của nông dân và truyền khẩu thì cần thảo luận, phải chăng cần lưu ý việc lựa chọn biểu trưng văn hóa dân tộc và tộc người thường là công việc của những nhà cầm quyền có học. Vả lại ở Việt Nam thật khó phân biệt ranh giới giữa bác học và dân gian. Nếu theo tiêu chuẩn của phương Tây thì ở Việt Nam bộ phận văn hóa bác học quá nghèo nàn, chỉ vì các công trình kiến trúc, ca nhạc, nghệ thuật đều không có tác giả, vì tác giả muốn gán công lao cho cộng đồng.


Do đó, đặc trưng văn hóa của một quốc gia dân tộc bao giờ cũng chỉ là tương đối, nó chỉ trở nên sâu sắc khi được biểu tượng hóa nhằm phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. Tính tương đối đó còn được thể hiện những sắc thái riêng của các vùng lịch sử-văn hóa, thậm chí các tiểu vùng. Đối với các tộc người, tính tương đối còn thấy rõ ở sự giống nhau của bản sắc văn hóa của các tộc người cấu thành, nhất là ở vùng giáp ranh giữa hai tộc người hay vùng các tộc người sống đan xen. Tuy nhiên, mỗi một tộc người, dù số lượng nhiều hay ít, nằm trong các vùng hay tiểu vùng lịch sử - văn hóa (nói gọn là văn hóa) khác nhau, một khi họ còn giữ được ý thức tự giác là một tộc người, thì họ vẫn có nền văn hóa riêng của họ.


Hơn nữa, văn hóa phát triển theo quy luật tương đối độc lập, có sức sống m•nh liệt, nên có trường hợp, trên thực tế cộng đồng gần như tan vỡ, bị chia xẻ ra cư trú ở những địa phương khác nhau, họ vẫn giữ bản sắc văn hóa của họ. Mỗi tộc người trên bước đường đi của lịch sử có cách lĩnh hội, tiếp thu, thể hiện có chọn lọc những yếu tố văn hóa kế thừa của tổ tiên mình và của các tộc người cùng chung sống bằng cách riêng của mình, thích hợp với điều kiện sinh sống và lại sáng tạo những yếu tố văn hóa mới. Tất cả những cái đó, cùng với ngôn ngữ, văn hóa, đã tạo cho từng tộc người một tính cách riêng, một tính cách mà ta có thể thấy được cốt lõi văn hóa của họ. Nó tạo nên một truyền thống mặc dù có thay đổi với thời gian, nhưng vẫn là mối liên kết mang tính thiêng liêng và thân thương với các thành viên của tộc người.


ở Việt Nam, đối với thành viên một tộc người, họ có hai ý thức: 1- ý thức là công dân của đất nước Việt Nam với trách nhiệm là hội nhập vào đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa của cả nước; đồng thời đóng góp vào kho tàng văn hóa Việt Nam càng nhiều, càng tốt những yếu tố văn hóa của tổ tiên. Gần đây sau khi nước nhà được độc lập, họ tự hào và vinh dự thấy được sự đóng góp đó ngày càng lớn qua những kinh nghiệm sản xuất, những nếp sống xã hội trong sáng, bình dị, qua những trí thức tộc người và nhất là qua những giá trị văn học nghệ thuật của tộc người họ đóng góp vào kho tàng văn hóa Việt Nam, bù đắp cho những thiếu sót của tộc người đa số như những điệu múa, những công trình kiến trúc, những loại nhạc cụ đơn giản nhưng độc đáo; 2- ý thức là thành viên của tộc người bản thân, có trách nhiệm đưa tộc người lên bằng anh bằng em, nâng cao dân trí, phát huy và làm phong phú kho tàng văn hóa bản thân, nhất là đối với các tộc người dân số ít, cư trú vùng hẻo lánh.


Cần làm cho nhân dân các tộc người nhận thức được rõ sự phát triển văn hóa của từng tộc người và cả quốc gia dân tộc là một phức thể thống nhất, cái nọ làm tiền đề cho sự phát triển của cái kia, mà không triệt tiêu nhau. Điều đó được thể hiện trong Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam: "Sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc (từng tộc người - ĐNV), đi liền với sự củng cố, phát triển của cộng đồng các dân tộc (tức quốc gia - dân tộc - ĐNV) trên đất nước ta. Sự tăng cường tính cộng đồng, tính thống nhất không mâu thuẫn, không bài trừ tính đa dạng - tính độc đáo trong bản sắc của một dân tộc (tức tộc người - ĐNV)". 


Đứng về phương diện nghiên cứu mà xét, nếu bỏ sót hay xem nhẹ việc nghiên cứu văn hóa các tộc người thiểu số, nhất là các tộc người dân số ít, sẽ không thể hiểu được một cách đầy đủ, khách quan văn hóa của quốc gia dân tộc, của các tộc người cấu thành. Việc làm này không chỉ cần sự nhiệt tình hăng say vì nghề nghiệp, mà còn cần một tình cảm sâu sắc với những đồng bào một thời đã bị l•ng quên trong rừng sâu, đã chịu đựng tác động suy thoái do những nguyên nhân lịch sử nghiệt ng• và hoàn cảnh tự nhiên hà khắc.


5. Phân loại thành phần văn hóa


Văn hóa một dân tộc, một tộc người là một tổng thể những đặc trưng của đời sống vật chất, tinh thần, trí thức và tình cảm khắc họa nên bản sắc, bản lĩnh một dân tộc, một tộc người. Nghiên cứu văn hóa một dân tộc, một tộc người cần phân loại những thành phần khác nhau để phục vụ cho việc trình bày. Có nhiều cách phân loại, cách nào cũng dựa trên hệ thống giá trị của văn hóa hướng về mục đích phục vụ đời sống vật chất cũng như tinh thần của bản thân cộng đồng. Những giá trị đó tùy thuộc vào sự đánh giá của từng cộng đồng, không hẳn đã trùng khớp giữa các dân tộc và tộc người, nó thay đổi trong từng cộng đồng tùy theo thời gian, theo chuẩn mực của từng giai đoạn lịch sử. Không thể áp đặt một giá trị "vĩnh cửu" cho một không gian hay một thời gian vì văn hóa luôn thay đổi.


Dân tộc học hay Nhân học văn hóa tối kỵ phương pháp luận có tính phi lịch sử là hiện đại hóa quá khứ tức là lấy tư duy của người hiện đại để lý giải những hiện tượng văn hóa của quá khứ, hay ngược lại, quá khứ hóa hiện đại.


Không thể quan niệm những cư dân hiện sinh sống trong trạng thái lạc hậu như ở vùng Amazôn (Brasil), tộc người Tasaday (Philippin) nhóm Măng Coong hay những cư dân xưa được gọi là Xá lá vàng ở Việt Nam và Đông Dương là những người thuộc xã hội nguyên thủy và gọi họ là các thị tộc, bộ lạc, bởi một lẽ duy nhất cho dù họ phải duy trì trình độ thấp kém, còn sống trong hang động với nền kinh tế chiếm đoạt, thì họ cũng đã có một tư duy phát triển, một lối sống khác xa với tổ tiên của họ đã có mặt hàng chục vạn năm trên Trái đất (đào củ bằng thuổng lưỡi thép, chẻ lạt bằng con dao nhíp…).


Hiện đại hóa quá khứ đưa lại sai lầm về lịch sử, thường thấy trong cách hiểu những khái niệm xuất xứ về sau này gán cho xã hội cổ xưa; nhưng quá khứ hóa hiện đại dẫn đến chỗ miệt thị những cư dân vì những nguyên nhân lịch sử phải rơi vào sinh sống trong một hoàn cảnh tự nhiên khó có điều kiện phát triển; mà không thấy, nếu có điều kiện phát triển thuận lợi, họ cũng có thể ngang bằng với người của xã hội văn minh. Với một quốc gia dân tộc đa tộc người, trình độ phát triển xã hội không đồng đều, tư tưởng này cần cảnh giác, bởi nó dẫn đến sự không tôn trọng các tộc người trình độ chậm phát triển. Những thái độ, những biện pháp, chủ trương của cán bộ thuộc các tộc người có trình độ phát triển hơn còn nhiều hơi hướng không tốt đó. Tư tưởng đại dân tộc dẫn theo tư tưởng dân tộc hẹp hòi xuất phát một cách có ý thức, nhưng thường là vô ý thức, gây tác hại lớn cho việc xây dựng tình đoàn kết của cộng đồng quốc gia dân tộc.


Phân loại văn hóa một dân tộc, một tộc người thành những thành phần khác nhau là cần thiết cho việc nghiên cứu, nhưng bất kỳ cách phân loại nào cũng chỉ có tính tương đối vì giữa các thành phần văn hóa có mối quan hệ chặt chẽ, không tách rời. Xây dựng một ngôi nhà đâu chỉ có vôi, gạch, vữa, cây cột, vì kèo… Ngôi nhà còn liên quan đến lối sống, được quyết định không chỉ ý thích và vốn liếng của người chủ, mà còn bởi thiết chế gia đình, dòng họ và được xây dựng thích hợp với thói quen và thẩm mỹ của cộng đồng. Thực hiện một hình thức sản xuất là thuộc lĩnh vực văn hóa vật chất đáp ứng với nhu cầu thông tục của con người, nhưng có hình thức sản xuất nào lại không kèm theo những nghi lễ tôn giáo. Bữa ăn của người Kitô giáo luôn đi theo nghi thức làm dấu thánh; ngược lại việc ăn chay, kiêng thịt cá của các sư s•i đâu phải như một số người già muốn tránh một số bệnh tật, mà là tuân thủ một trong những điều Phật dạy không sát sinh... Một dụng cụ, một công cụ sản xuất được chế tác, một bữa ăn được nấu nướng, một bộ quần áo được may cắt, một căn nhà được xây dựng… đều có những nét thẩm mỹ của nó thích nghi với từng tộc người, với cư dân từng miền khác nhau.


Các yếu tố hợp thành hệ thống văn hóa là một thể thống nhất hoàn chỉnh, được biểu hiện một cách trọn vẹn trong đời sống thực tiễn. Phân loại văn hóa để nghiên cứu là tự phá vỡ thể thống nhất đó, nên bất kỳ sự phân loại nào từ trước đến nay cũng đều có mặt được, có mặt thiếu sót, nhưng không thể đưa ra một phân loại phản khoa học.


Do vậy, mỗi tác giả thường lựa chọn cách phân loại nào tốt nhất phục vụ cho yêu cầu mục đích nghiên cứu của bản thân. Hệ thống văn hóa dân tộc hay tộc người là một chỉnh thể thống nhất bao gồm những hiện tượng văn hóa riêng lẻ, có quan hệ nhiều mặt, đan xen thể hiện ở cách ứng xử trong xã hội và đối với tự nhiên, tạo nên một nếp sống ổn định, liên tục, được cộng đồng coi như những những giá trị của đời sống, những bản sắc của cộng đồng. Đối với các nhà Dân tộc học, cách phân loại hệ thống văn hóa thường được chia làm ba bộ phận chính: Văn hóa vật chất bao gồm các hình thức sản xuất hay hình thức kinh tế, cung cách ăn, ở, mặc, đi lại, trao đổi; văn hóa xã hội bao gồm các lĩnh vực hôn nhân, gia đình, tổ chức xã hội trong đó lưu ý đến vấn đề sở hữu, quan hệ sản xuất; văn hóa tinh thần bao gồm các lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng, tri thức cộng đồng, văn học nghệ thuật, vui chơi giải trí… Cách phân loại này có những điều hợp lý, nhưng không tránh khỏi những hạn chế, nhất là khi đề cập đến những mối quan hệ trong thế giới công nghiệp, hiện đại, ở đấy có khi được quan niệm khác, thậm chỉ ngược với những mối quan hệ trong thế giới nông nghiệp thường được coi là quan hệ cổ truyền.


Nhiều tác giả cố gắng phân nhỏ ba bộ phận hay tạo ra một cách phân loại khác, có thể tham khảo của Trần Quốc Vượng và Trần Ngọc Thêm. Cách phân loại của Trần Quốc Vượng là sự chia nhỏ các bộ phận ra nhiều thành tố và cũng chưa đầy đủ, thiên về văn hóa phi vật thể, thiếu văn hóa trồng trọt, chăn nuôi, thương nghiệp, tất cả được sắp đặt không theo một hệ thống. Cách phân loại của Trần Ngọc Thêm về hình thức dường như có hệ thống khi chia ra thành văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức cộng đồng, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội. Nhưng nếu nhìn sâu, nhiều điều chưa thể đồng tình được từ việc tác giả đối lập Đông và Tây, tĩnh và động, gốc du mục hay nông nghiệp (đúng hơn phải là trồng trọt vì chăn nuôi dù du mục hay không, cũng nằm trong khái niệm nông nghiệp), cho đến việc tác giả phân chia văn hóa tổ chức cộng đồng thành hai bộ phận đời sống tập thể và đời sống cá nhân. Đời sống cá nhân lại bao gồm tín ngưỡng, phong tục, trong đó có cả lễ hội, văn hóa giao tiếp và nghệ thuật ngôn từ… Những yếu tố đó không bị đời sống tập thể quy định ư? Tác giả làm sao lại sắp xếp việc ăn, ở, mặc, đi lại, chỉ là văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên, trong khi chính tác giả lại trình bày trong đó cả việc giữ gìn sức khỏe, tính linh hoạt trong lối ăn, cách làm đẹp con người trong việc mặc, tính hài hòa, linh hoạt và biểu trưng trong cách ở. Những điều sau do chính tác giả nêu là thuộc về môi trường tự nhiên hay xã hội? Người đọc cũng không thể quan niệm phần văn hóa ứng xử với môi trường xã hội lại chỉ bao gồm chủ yếu tác động của các tôn giáo ngoại sinh đối với xã hội Việt Nam. Cách phân loại như vậy không thích hợp với thực tiễn, có phần khiên cưỡng.


(còn tiếp)


Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info

trieuxuan.info