NOBEL Văn học 1937: ROGER MARTIN DU GARD (1881-1958)
Roger Martin du Gard sinh trong một gia đình viên chức khá giả ở ngoại ô Paris, Pháp. Ông học Trường cao đẳng lưu trữ, sau đó học tâm thần học ở Paris. Tác phẩm đầu tay của ông là tiểu thuyết không mấy thành công Trưởng thành (Devenir, 1909). Tiểu thuyết Jean Barois (1913) thể hiện sự giằng co giữa tín ngưỡng và khoa học trong tư tưởng con người, khẳng định lý tưởng dân chủ và nhân đạo đã mang lại danh tiếng cho Gard. Trong đại chiến thế giới I, ông phục vụ trong quân đội Pháp. Sau khi giải ngũ, từ 1920 ông sống ẩn dật ở trang trại, chú tâm viết tiểu thuyết. Hàng loạt tác phẩm có giá trị ra đời: bộ tiểu thuyết 12 tập, 8 quyển Gia đình Thibault (Les Thibault, 1922-1940); Chúc thư của cha Leleu (Le testament du père Leleu, 1920); tiểu thuyết Bí mật châu Phi (Confidence africaine, 1931); kịch Người trầm lặng (Un taciumme,1932); truyện vừa Nước Pháp già cỗi (Vieille France, 1933); Ghi chép về Andre’ Gide (Notes sur Andre’ Gide, 1913-1951); Hồi ức văn học và tự truyện (Souvenirs autobiographiiques et literaires, 1955).
Roger Martin du Gard được trao giải thưởng Nobel văn học năm 1937 vì bộ tiểu thuyết Gia đình Thibault đã mô tả chân thực con người và cuộc sống xã hội Pháp đầu thế kỷ XX với vẻ đẹp tinh thần và sự độc lập của nhân cách bằng sức mạnh nghệ thuật.
Tác phẩm văn học phục vụ cái gì
Roger Martin du Gard là tiểu thuyết gia thành công. Theo ông, mục đích hàng đầu của tiểu thuyết là làm cho cái bi trong cuộc sống phải lên tiếng. Ông cho rằng ngoài nội dung phong phú: Nhà tiểu thuyết còn phải có một cảm quan về cuộc sống trong tổng thể, tác phẩm của ông phải biểu lộ một nhãn kiến cá nhân về vũ trụ.
Rồi ông nói rõ, sáng tác của ông phục vụ cái gì: Tác phẩm của tôi không chỉ phục vụ cho sự nghiệp văn chương mà cả cho sự nghiệp hòa bình.
NOBEL Văn học 1938: PEARL SYDENSTRICKER BUCK (1892-1973)
Bà có tên hồi con gái là Pearl Sydenstrickerviết tắt là Pearl S. Lúc bé theo cha mẹ là mục sư sang Trung Quốc. Năm 15 tuổi bà được gửi trọ học ở một trường dạy Anh văn ở Thượng Hải. Năm 17 tuổi cha mẹ cho Pearl Buch học trường Đại học tổng hợp Randolph Macon thuộc tiểu bang Virginia. Năm 1917 bà kết hôn với một mục sư và theo chồng đi truyền giáo ở miền Bắc Trung Quốc. Năm 1925 bà viết cuốn tiểu thuyết đầu tay Gió Đông, gió Tây (East Wind, East West, in năm 1930). Năm 1931 bà nhận giải Pulitzer với tiểu thuyết Đất lành (The good Earth). Những tác phẩm tiêu biểu khác của bà là tiểu thuyết Những đứa con (Sons, 1932); tiểu thuyết Gia đình phân tán (A house divided, 1935) phản ánh đời sống nông dân Trung Quốc. Cuốn Nhà Tranh vách đất (The house of earth ,1935 ) đã được dựng thành kịch và quay phim. Vấn đề phụ nữ được nêu lên hàng đầu trong các tiểu thuyết lấy cốt truyện ở Trung Quốc cũng như ở Mỹ: Lòng tự hào (This proud heart, 1938); Những vị thần khác (Other gods ,1940 ); Chân dung một cuộc hôn nhân ( portrait of a marriage ,1945). Nhân con gái bệnh thần kinh bà viết cuốn Những đứa trẻ không bao giờ lớn (The child who never grew, 1950). Từ những năm 1950, bà càng ngày càng chú ý đến những vấn đề của các nhà bác học nguyên tử và viết vở kịch Một sự kiện ở sa mạc (A desert incident ,1959). Buck còn viết tự truyện Thế giới riêng của tôi (My several worlds ,1954). Ngoài viết văn, từ 1941 bà Buck còn tham gia các họat động xã hội từ thiện như sáng lập ra tổ chức Hiệp hội Đông Tây (The East and West Association, 1941) nhằm truyền bá những hiểu biết giữa các dân tộc trên thế giới; tổ chức Căn nhà tình nghĩa (Welcome Home, 1949) nhằm giúp trẻ em mồ côi. Bà cùng chồng bỏ ra bảy triệu đô la lập ra Quỹ Pearl S. Buck (The Pearl S. Buch Foundation, 1963).
Pearl Buch nhận giải Nobel văn học năm 1938 vì các tác phẩm mô tả cuộc sống đa diện mang tính sử thi của người dân Trung Quốc, vì những họat động xã hội từ thiện.
Gần gũi quá nhìn không ra hay. Lạ nên hấp dẫn
Trung Quốc được bao bọc bởi những dãy núi cao ngất (như Hymalaya với đỉnh Everest) và những sa mạc nóng bỏng không thể vượt qua được (như sa nạc Gô Bi, sa mạc Taklamakan ). Trung Quốc trải rộng 5.000 km từ đông sang tây và dài 7.000km từ bắc xuống nam với diện tích 9.600.000 km2. Với diện tích ấy lại nằm trên bốn múi giờ, lại nằm trải dài từ vùng bắc giá lạnh tới phương nam ấp áp, nên hàng nghìn năm người Trung Hoa tự cung, tự cấp, tự cường, gần như đóng cửa với bên ngoài. Khi Trung Quốc lúng túng trong việc tìm cách thoát khỏi ràng buộc của phong kiến thì bị Anh, các nước phương Tây Nhật Bản thao túng lũng đọan. Đến đây lịch sử văn minh Trung Hoa không đi tiếp mà ngưng trệ. Trung Hoa-quê hương của nền văn minh cổ xưa nhất thế giới – nơi được gọi là Phương Đông thần bí rơi vào cảnh mông lung. Trong diễn từ nhân lễ trao giải Nobel, Buck đã nhận xét:
- Nói đến tiểu thuyết Trung Hoa, ý tôi muốn đề cập tới tiểu thuyết Trung Hoa bản địa (ý nói truyền thống tiểu thuyết với Hồng lâu mộng, Thủy Hử, Tam quốc chí, Tây du ký v.v.), chứ không phải loại sản phẩm lai tạp, thứ tiểu thuyết của các nhà văn Trung Hoa ngày nay, những người chịu ảnh hưởng bên ngoài quá mạnh trong khi họ lại không biết gì về tài sản (văn minh Trung Hoa) của đất nước mình.
Tôi là người Mỹ chính gốc, sinh ra ở Mỹ, tổ tiên ở đó và sẽ còn sống ở đất nước ấy, bởi tôi là một phần của đất nước ấy. Ay thế mà, chính tiểu thuyết Trung Hoa chứ không phải tiểu thuyết Mỹ đã làm khuôn mẫu cho tôi trong công việc viết văn. Những kiến thức đầu tiên về thể truyện kể, về cách kể và cách viết chúng đến với tôi ở đất Trung Hoa. Sẽ là vô ơn nếu hôm nay tôi không thừa nhận điều ấy... Tiểu thuyết Trung Hoa có khả năng khai sáng đối với tiểu thuyết phương Tây cũng như với người viết tiểu thuyết phương Tây.
Nhiều tác phẩm của nữ văn sĩ Buck mô tả đời sống nông thôn Trung Hoa một cách phong phú và xác thực (trong đó có Đất lành; Những đứa trẻ không bao giờ lớn; Những người con trai v.v.) . Bà thực sự là một chiếc cầu nối văn hóa Đông –Tây- người biết kết hợp nhuần nhuyễn tinh hoa văn hóa Đông Tây.
Nguồn: Tác giả đoạt giải Nobel Văn học (từ 1901 đến 2007), tiểu sử và giai thoại. Lương Văn Hồng biên soạn. Nhà xuất bản Văn học sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info
|