05.01.2010
Đặng Nghiêm Vạn
Văn hóa Việt Nam đa tộc người (25)

Phần thứ ba: TỔ CHỨC XÃ HỘI


 Chương Một


MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
VÀ TỔ CHỨC XÃ HỘI VÙNG
TRƯỜNG SƠN - TÂY NGUYÊN


I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM


1. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các nước Á, Phi và Mỹ Latin lần lượt giành được độc lập. Để phục vụ cho việc xây dựng một thế giới trong sự hợp tác và phát triển, các nhà Khoa học xã hội và nhân văn ở các nước phát triển đã tiến hành nghiên cứu các hình thái kinh tế, xã hội, văn hóa cổ truyền của các quốc gia mới giành độc lập, nhằm góp phần làm sáng rõ những luận điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen đưa ra từ thế kỷ XIX, khi những tư liệu về các nước này chưa đầy đủ. Tìm hiểu xã hội cổ truyền trước thời kỳ tư bản chủ nghĩa sẽ góp phần thấy được những cái chung và cái riêng trong điểm xuất phát của từng quốc gia, thậm chí của từng vùng trong một quốc gia (do nguyên nhân địa lý, xã hội và tộc người) khi bước vào xã hội hiện đại, với mong muốn tìm ra được con đường thích hợp với thực tiễn từng quốc gia, từng tộc người, tránh sự áp đặt hoặc mô phỏng nước ngoài, điều mà ít nước thế giới thứ ba nào tránh khỏi.


Ở nước ta, trong hai thập niên 60, 70 của thế kỷ XX, đã có những cuộc thảo luận xung quanh vấn đề phương thức sản xuất (PTSX) châu Á hay đúng hơn là phương thức cống nạp, để làm rõ những vấn đề của xã hội Việt Nam cổ truyền như vấn đề ruộng đất, tổ chức làng xã, vai trò nhà nước, vấn đề quan hệ giai cấp v.v... Những vấn đề đặt ra thật to lớn nên chưa thể có ý kiến thống nhất, ngay từ khái niệm phương thức sản xuất châu Á hay cống nạp([1]).


Nếu chấp nhận luận điểm của chủ nghĩa Mác cho rằng, nhân loại phát triển từ thấp lên cao, từ mông muội lên văn minh, là sự thay đổi lần lượt các hình thái kinh tế - xã hội qua những giai đoạn chuyển tiếp lớn, tác động đến sự thay đổi một cách toàn diện về chất, bộ mặt xã hội từ công cụ lao động, sản xuất, tổ chức và quan hệ xã hội, đến ý thức hệ, văn hóa, tôn giáo... thì điều cần phải làm rõ chủ yếu là sự chuyển tiếp đó diễn ra như thế nào, có phải là hình thái nọ kế tiếp hình thái kia một cách đơn tuyến, hay là diễn ra đan xen chằng chéo dưới nhiều dạng khác nhau, tùy thuộc vào hoàn cảnh tự nhiên và quan hệ xã hội từng khu vực, từng quốc gia, từng tộc người trong một quốc gia cũng có những khác biệt.


Ở giai đoạn sơ kỳ và trung kỳ của xã hội nguyên thủy, khi con người còn sống bằng hái lượm và săn bắt thì quan hệ giữa người với người còn rất đơn giản; thì đến mạt kỳ xã hội nguyên thủy, con người đã bước vào xã hội nông nghiệp (chăn nuôi và trồng trọt), những mối quan hệ xã hội bắt đầu trở nên phức tạp. Người ta đã thấy trong những thị tộc, bộ lạc hay những công xã nông thôn nguyên thủy, một bộ phận những người trước đây được phân công điều hành xã hội tách khỏi những người lao động để trở thành một thế lực đứng trên cộng đồng, dần thoát ly khỏi cộng đồng, trở thành một giai cấp nắm quyền lực, sẵn sàng bóc lột người đồng tộc không phải là một mà bằng nhiều phương thức sản xuất khác nhau. Tính trội của một trong nhiều phương thức đó quyết định tính chất của hình thái kinh tế - xã hội.


Mặt khác, ngay trong một quốc gia - dân tộc, một tộc người do tác động của hoàn cảnh địa lý, nhờ những thành quả của khoa học công nghệ, do nhu cầu muốn mở rộng không gian xã hội… đã nảy sinh ra hiện tượng xã hội phát triển không đồng đều trong lịch sử. Lúc đầu, tác động của những yếu tố đó nhỏ, sau lớn dần, gây ra những đảo lộn làm cho sự tiến triển của nhân loại nói chung, một quốc gia, một tộc người nói riêng thêm phức tạp, đa dạng. Ở đây ta thấy, thuở ban đầu, sự tiến hóa của một cộng đồng dường như do tác động của những yếu tố mang tính lịch đại, chủ yếu bằng những yếu tố nội lực; càng về sau, sự thay đổi của một xã hội lại càng lệ thuộc vào tác động của những yếu tố mang tính đồng đại, không còn tiến triển một cách tự nhiên, mà đã do những can thiệp vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực, có khi rất lớn lao của những yếu tố ngoại sinh rất phức tạp([2]).


Nhìn một cách khái quát, lịch sử nhân loại được chia ra bốn thời kỳ lớn, mỗi thời kỳ được đánh dấu bằng bốn cột mốc. Nhưng những cột mốc này xuất hiện không cùng lúc ở những thời điểm khác nhau trên toàn cầu và trong một quốc gia - dân tộc. Điều này dễ hiểu vì thực tiễn lịch sử toàn cầu và từng nước đã cho thấy. Bốn thời kỳ đó là:


 Thời kỳ xã hội nguyên thủy: Với nền kinh tế chiếm đoạt là chủ yếu, với tổ chức thị tộc - bộ lạc ở đó quyền sở hữu cộng đồng nổi trội, khái niệm tư hữu chưa thấy. Xã hội chưa phân hóa giai cấp. Vào cuối thời kỳ xã hội nguyên thủy, đã xuất hiện kinh tế nông nghiệp sơ khai, với sự xuất hiện chiến tranh giữa các bộ lạc để hình thành nhà nước, đi đôi với sự tha hóa của bộ phận nắm quyền lực, nắm tài sản tạo nên một tầng lớp thống trị tách dần khỏi quần chúng lao động.


 Thời kỳ xã hội nông nghiệp: Bắt đầu vào mạt kỳ xã hội không giai cấp, với nền kinh tế sản xuất bằng cơ bắp, với tổ chức nhà nước dưới nhiều dạng phương thức sản xuất, một xã hội phân hóa giai cấp, ở đó tồn tại song song quyền sở hữu cộng đồng và quyền sở hữu tư nhân, có những dạng mà C. Mác gọi là khái niệm chồng (surcharge)([3]) tức một phương thức sản xuất chồng lên một phương thức sản xuất khác, một thứ sở hữu đa tuyến (multilinéaire) hay như gọi là chế độ sở hữu lưỡng tính([4]).


 Thời kỳ xã hội công nghiệp: Với nền kinh tế sản xuất bằng máy móc, ở đó nổi trội quyền sở hữu tư nhân với chủ nghĩa tư bản hay quyền sở hữu chủ đạo của nhà nước đại diện cho nhân dân lao động (chủ nghĩa xã hội).


 Thời kỳ xã hội hậu công nghiệp hay xã hội kinh tế tri thức là thời kỳ hiện nay, mới manh nha vào nửa cuối thế kỷ XX, với tính toàn cầu. Đó là đặc trưng của thế kỷ chúng ta đang sống.


2. Ta có thể đồng ý với Nguyễn Hồng Phong, trong bất cứ hình thái kinh tế - xã hội hay phương thức sản xuất nào cũng có nhiều phương thức cụ thể vì "không một xã hội có giai cấp nào cho đến ngày nay chúng ta biết được lại không phải là xã hội đa phương thức; và cũng không một xã hội nào đa phương thức lại không do một phương thức sản xuất nhất định thống trị"([5]). Điều đó cũng dễ hiểu, nếu ta thấy ngay ở nước Việt Nam hay bất cứ nước nào khác đều nổi trội lên một phương thức sản xuất chủ đạo, các phương thức đã lỗi thời chưa mất hẳn và các phương thức tương ứng với xã hội của tương lai lại đang xây dựng. Tiến triển của lịch sử đều không phân chia rành rẽ cái này đã qua cái kia mới đến, mà chỉ có cái nổi trội, cái ẩn tàng, thậm chí trong một thời điểm có thể có cái nổi trội ở vùng trung tâm, nhưng lại ẩn tàng ở miền ngoại vi v.v... Trong cuốn sách cuối đời, Nguyễn Hồng Phong đã dựa vào ý kiến của C. Mác và Ph. Ăng ghen, thống kê và phân tích khá chính xác những phương thức sản xuất tồn tại trong các xã hội tiền tư bản có giai cấp; cống nạp, nô lệ, nông nô, nông dân, thủ công, tư bản thương nghiệp...([6]). Ta có thể lấy sự phân chia đó làm chuẩn mực để phân tích xem xét nước Việt Nam đa tộc người đã hình thành giai cấp trong thời kỳ tiền công nghiệp thuộc về phương thức sản xuất nào? Điều đáng chú ý ở đây là cần thấy cái cốt lõi của một hình thái xã hội chính là "mối quan hệ trực tiếp giữa người sở hữu tư liệu sản xuất và người sản xuất trực tiếp" (C. Mác và Ph. Ăngghen) và cái hình thái kinh tế xã hội đó cần phải coi nó là một tổng thể những phương thức sản xuất kết hợp với nhau, do một phương thức sản xuất chủ yếu nhất định chi phối.


Trong sự quá độ từ hình thái kinh tế xã hội chuyển sang hình thái cao hơn diễn ra ban đầu bằng sự suy yếu của phương thức sản xuất chủ đạo có tính chi phối, đồng thời xuất hiện sự vượt trội của một phương thức sản xuất thứ yếu ẩn tàng, ngày một phát triển đẩy phương thức sản xuất thống trị trước đây và các phương thức sản xuất khác xuống hàng thứ yếu, hoặc có trường hợp bị biến mất. Ở đây diễn ra sự giải thể của một cấu trúc kinh tế cũ lỗi thời và sự vươn lên một cấu trúc kinh tế đã có trong lòng xã hội cũ đóng vai trò quyết định.


Trong các hình thái kinh tế - xã hội tiền tư bản đã phân hóa giai cấp, đặc điểm chung nhất là quan hệ trực tiếp giữa một bên là người sở hữu tư liệu sản xuất, bóc lột thặng dư lao động và một bên là người trực tiếp sản xuất (sản xuất nông nghiệp là chủ yếu) bị bóc lột. Đó là cái mà C. Mác gọi là nền móng của toàn bộ xã hội từ đó chi phối hình thức chính trị, mối quan hệ giữa quyền lực tối cao và sự phụ thuộc, tóm lại, của mọi hình thức đặc thù của nhà nước([7]). Sự khác biệt phải chăng là những hình thức bóc lột nào là chủ đạo quyết định quan hệ sản xuất của xã hội. Đó là sự lũng đoạn quyền lực của những người được phân công điều hành xã hội đã tha hóa, xa dần đời sống lao động sản xuất, bóc lột thặng dư giá trị lao động của những người đồng tộc hay khác tộc, không hay ít có quyền lực, chủ yếu vẫn sinh sống bằng lao động trong các công xã nông thôn. Đúng như C. Mác nhận định: "Trong những điều kiện ấy, chỉ có dùng sự cưỡng bức siêu kinh tế, chẳng kể sự cưỡng bức mang hình thái nào, thì kẻ sở hữu ruộng đất trên danh nghĩa, mới có thể bóc lột được lao động thặng dư của những người tiểu nông ấy"([8]).


Quyền lực đó được phát triển qua sự quy tụ hàng loạt công xã, tạo nên những cấp độ tổ chức trung gian mang tính hành chính, đứng đầu là một nhà nước của một quốc gia dân tộc một hay đa tộc người, tượng trưng cho sự thống nhất tuyệt đối của toàn dân. Nhà nước kiểm soát việc sử dụng những tài nguyên kinh tế, như đất đai, các công trình lớn mang tính quốc gia, các trung tâm đô thị, các công trình thủy lợi và lãnh đạo cư dân các công xã bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ cũng như giải quyết những tranh chấp giữa các thế lực trong nước. Đó là chưa kể nhà nước đó còn trách nhiệm mở mang bờ cõi, buộc các quốc gia xung quanh sáp nhập hay lệ thuộc vào mình, thỏa mãn không chỉ tham vọng của tầng lớp thống trị, mà cả dân chúng trong tinh thần tự hào dân tộc.


Những tư liệu về Dân tộc học đã cho thấy, đến mạt kỳ nguyên thủy, khi nền sản xuất chủ yếu dựa trên cơ sở nông nghiệp thì đã phát sinh ra sự bất bình đẳng nhất định bằng sự lũng đoạn quyền lực của số người được trao cho công việc điều hành xã hội như tù trưởng, thủ lĩnh quân sự, người phụ trách đất đai và thủy lợi, tôn giáo và văn hóa. Dần dần, những người nói trên biến quyền điều hành các chức năng xã hội thành công cụ bóc lột và liên kết lại với nhau thành giai cấp thống trị người đồng tộc và khác tộc trong một nhà nước có giai cấp.


Có thể có hai con đường nảy sinh ra những hình thái kinh tế - xã hội trong xã hội có giai cấp khác nhau:


Một là, con đường dựa trên cơ sở sở hữu công cộng


Theo C. Mác, một ông vua chuyên chế với tư cách là người cha của số đông công xã không cấp phần đất cho từng người riêng biệt, mà thông qua sự trung gian của công xã mà người đó là thành viên. Như vậy, ở đây ta thấy nhà vua là đại diện cho quyền sở hữu đất đai toàn cộng đồng quốc gia, chồng lên quyền sở hữu đất đai của công xã nông thôn có khả năng "kết hợp giữa kinh tế nông nghiệp trong khuôn khổ của công xã nhỏ, nhờ thế mà công xã này có thể hoàn toàn tồn tại một cách độc lập"([9]). Quyền sở hữu đất đai toàn công xã lại chồng lên quyền sở hữu đất đai dưới dạng chiếm hữu và sử dụng của từng cá nhân vì từng cá nhân "chỉ là kẻ sở hữu hay kẻ chiếm dụng với tư cách là một khâu của tập thể đó, với tư cách là một thành viên của công xã". Nếu cá nhân đó vì một lí do gì rời bỏ công xã (hôn nhân, chuyển cư tự nguyện hay bị khai trừ...) thì quyền sở hữu và chiếm dụng mảnh đất của cá nhân đó cũng mất theo.


Nhà nước tồn tại nhờ sự cống nạp một phần thặng dư lao động nhưng không trực tiếp với từng cá nhân, mà thông qua từng công xã nông thôn. Đến lượt người đại diện cho công xã lại phân bổ phần phải cống nạp ấy cho từng thành viên trong đơn vị xã hội mình phụ trách. Như vậy ở đây ta thấy sự đồng nhất giữa một con người phụ trách chính quyền với một con người sở hữu ruộng đất, một chủ đất. Với tư cách là một công dân một nước đồng thời là một thành viên trong công xã, mỗi cá nhân phải thực hiện trách nhiệm với công xã, và với nhà nước của mình, cũng có nghĩa là phải nộp số thặng dư lao động thừa của mình cho chủ sở hữu. Vì vậy, ở đây ta thấy tô và thuế là một. Điều đó được C. Mác và Ph. Ăngghen viết trong bộ Tư bản: "Nếu đối lập với người sản xuất trực tiếp, không phải là những kẻ sở hữu ruộng đất tư, mà là nhà nước, như ở châu Á, với tư cách là một kẻ sở hữu ruộng đất đồng thời là một vị vua, thì địa tô kết hợp với thuế khóa, hay nói đúng hơn, trong trường hợp đó, không có thuế khóa nào khác phân biệt với hình thái địa tô này... Ở đây, nhà nước là kẻ sở hữu ruộng đất tối cao"([10]). Tô và thuế một phần được nhà nước chi dùng làm lương bổng cho các quan chức triều đình và các cấp hành chính, một phần dành cho bộ máy của các công xã theo quy định của riêng mình tất nhiên có lợi cho những kẻ điều hành của công xã đã bị tha hóa, được quy định theo lệ tục của công xã. Như vậy ta có thể nói tô, thuế, lương là một, và được thể hiện bằng đủ các loại tô: tô lao dịch, tô hiện vật và về sau là tô tiền.


Lại thêm, ở các xã hội theo phương thức cống nạp, người đại diện duy nhất, đấng thiên tử, cái "nguyên lý thống nhất đó - một phần là ông vua chuyên chế thực sự, một phần là nhân vật tưởng tượng của bộ lạc, tức là Thượng đế" (C. Mác) vừa nắm thế quyền, lẫn thần quyền, nên vừa là người cầm đầu bộ máy cai trị, vừa là người nắm ruộng công, lại là người đứng đầu bộ máy tôn giáo nắm phần hồn của cộng đồng bằng hình thức tôn giáo dân tộc. Nên ta có thể đúc kết lại dưới hình thức gọn nhất về PTSX cống nạp là quan hệ cống nạp giữa một bên là chế độ sở hữu của nhà nước mà người đại diện là một ông vua, một bên là chế độ sở hữu của một công xã, mà các cá nhân chỉ là một bộ phận lệ thuộc của công xã, một nhân tố không được tính đến. Hay nói một cách khác ở đây vắng bóng khái niệm quyền sở hữu tư nhân một cách đầy đủ nhất, nó lẩn vào quyền sở hữu công cộng, mất cái danh nghĩa công hữu đó, thì quyền sở hữu cá nhân cũng mất theo.


Công xã là một thực thể, là đối tượng của nhà nước với tư cách là người sở hữu; từng cá nhân, thành viên của công xã không độc lập, riêng rẽ với công xã, mà chỉ là một bộ phận hữu cơ của công xã, sống chết gắn liền với công xã, họ với công xã là một. Cái công xã này tồn tại dai dẳng nhiều nơi cho đến tận hôm nay, là nhờ tính tự cấp tự túc cao, ở đấy việc trao đổi hàng hóa diễn ra trên quy mô nhỏ, chậm chạp, việc sử dụng tiền tệ rất hạn chế. Vì vậy các thành thị thường chỉ là nơi trú ngụ của các quan chức bộ máy chính quyền, một số thợ thủ công và thương nhân bản thân cũng chưa tách rời hẳn cái núm rốn công xã, "giống như mỗi con ong vẫn còn bám vào tổ ong vậy"([11]). Thành thị không có sức mạnh để phá vỡ kết cấu bền chặt của công xã nhất là ở các nước Đông Nam Á, nơi thủy lợi đóng vai trò rất quan trọng với việc trồng lúa nước, nơi ngành chăn nuôi theo đàn dường như chưa có, chỉ là nghề phụ gia đình và phụ thuộc vào nghề trồng trọt. Mỗi một công xã có đầy đủ các ngành nông, công (nghề phụ gia đình rất phong phú), thường gắn liền với mạng lưới chợ làng, cộng thêm một vài trí thức nông thôn trông coi việc học hành, chữa bệnh và tôn giáo, như ở Việt Nam là những ông thầy đồ vừa có tri thức về nho, y,
lí, số.


Vậy nên các công xã đó "không ngừng được tái sản xuất ra dưới cùng một hình thức" cho dù bị phá huỷ vì nhiều nguyên nhân khách quan hay chủ quan, rồi lại được lập lại. Đó là "cái chìa khóa để hiểu được sự bí ẩn của tính chất bất di bất dịch của những xã hội châu Á"([12]).


Tóm lại, ở phương thức cống nạp, ta thấy hoàn toàn vắng bóng hình thức sở hữu tư nhân theo nghĩa đầy đủ của nó. Nhà vua với tư cách là người sở hữu đất đai, cũng phải nấp bóng cộng đồng quốc gia dân tộc, là người đại diện cho cái nhà nước chuyên chế đó, lấy danh nghĩa quốc gia dân tộc mà bóc lột thặng dư lao động của thần dân. Người đứng đầu công xã đồng thời là người sở hữu đất đai cũng phải nấp bóng cộng đồng công xã, để lũng đoạn bóc lột một phần thặng dư lao động của người dân. Đến lượt người dân cũng lại với danh nghĩa là công dân một nước, thành viên của công xã, mà có quyền sở hữu hay chiếm dụng. Như trong Tư bản đã nhận xét: "Cái hình thái kinh tế đặc thù dưới đó người ta bóp nặn lao động thặng dư không công của người sản xuất trực tiếp, quyết định quan hệ thống trị và nô dịch, như nó trực tiếp sinh ra từ bản thân nền sản xuất, rồi lại tác động trở lại một cách có tính quyết định đối với nền sản xuất ấy. Nhưng toàn bộ hình thái của cái cộng đồng (gemeinwasen) kinh tế đẻ ra từ bản thân quan hệ sản xuất, thì đồng thời cùng với nó, là hình thức chính trị đặc thù của nền kinh tế đó, tất cả đều xây dựng trên cơ sở đó. Mối quan hệ trực tiếp giữa kẻ sở hữu các điều kiện sản xuất và người trực tiếp sản xuất chính... trong đó bao giờ chúng ta cũng tìm ra được cái điều bí ẩn sâu xa nhất, cái nền móng thầm kín nhất của toàn bộ kết cấu xã hội, và do đó, của hình thức chính trị của những mối quan hệ giữa quyền tối cao và sự phụ thuộc, tóm lại của mọi hình thái đặc thù nhất định của nhà nước"([13]).


(còn tiếp)


Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 







([1]) Có thể tham khảo những tác phẩm chính thảo luận về khái niệm phương thức sản xuất cống nạp hay châu Á của các tác giả trong ngoài nước quen thuộc.


Về các tư liệu cơ bản của C. Mác, Ph. Ăng-ghen và V.I. Lênin có thể xem trích dẫn các đoạn chính của các tác phẩm trong cuốn Bàn về các xã hội tiền tư bản, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1975. Khái quát các cuộc tranh luận về phương thức sản xuất châu Á ở Liên Xô cũ và các nước Đông Âu, ở Pháp và một số nước tư bản, ở Việt Nam trong những thập niên 50, 60, 70 có thể xem Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 1,1982 với các bài của Nguyễn Hồng Phong: Về lý thuyết và thực tiễn của Phương thức sản xuất (PTSX) châu Á; của Lê Kim Ngân giới thiệu giới học giả Mácxít thế giới và Nguyễn Danh Phiệt giới thiệu các tác giả Việt Nam về vấn đề PTSX châu Á. Nếu kể các tác giả tiêu biểu thời đó có E.S. Varga, V.N. Nikiphôrôv, P.F. Kim, Semenov, Ter. Akopian... của Liên Xô trước đây; F. Tokei (Hungari), I.Sacles (Ba Lan). Ở Pháp, Ban Chấp hành Đảng Cộng sản thành lập Trung tâm nghiên cứu Mác xít và nêu ra vấn đề nghiên cứu xã hội phương Đông. Những người tham gia có M. Godelier, C. Fourniau, Ch. Perrain, J. Suret Canale, J. Chesnaux, Lê Thành Khôi... Nhóm nghiên cứu ở Bỉ cần phải kể đến F. Houtart, tác giả cuốn Tôn giáo và PTSX tiền tư bản và cuốn in bằng tiếng Việt cùng bà G. Lemercinier Xã hội học về một xã ở Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội. 2001 (bản tiếng Việt). Bản tiếng Pháp và tiếng Anh được in trước đó 20 năm... Ở trong nước, có các tác giả như Trần Huy Liệu, Nguyễn Hồng Phong, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng, Văn Tân, Nguyễn Lương Bích, Trương Hữu Quýnh, Lê Kim Ngân.




([2]) Những yếu tố ngoại sinh hay tác động đồng đại ngày càng lấn át những yếu tố nội lực hay tác động lịch đại ở những cộng đồng bị lệ thuộc, cộng đồng chậm phát triển. Cũng nên lưu ý trải qua diễn trình lịch sử, trung tâm văn minh nhân loại thay đổi, nên tác động qua lại giữa các khu vực, các quốc gia cũng thay đổi. Ở một điểm nhất định, tác động lịch đại và đồng đại diễn ra cũng khác nhau qua từng thời kỳ lịch sử.




([3]) Nguyễn Hồng Phong, Sđd, 2000, tr.25.




([4]) Đặng Phong:"Ruộng công" thời phong kiến ở Việt Nam và vấn đề "phương thức sản xuất châu Á". Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 5, tháng 10 - 1976, tr.44 và tiếp theo.




([5]) Nguyễn Hồng Phong: Sđd, 2000, tr.14.




([6]) Nguyễn Hồng Phong: Sđd, 2000, tr.48.




([7]) C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, tập 25, phần II, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1994.




([8]) C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, tập 25, phần II, NXB Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 1994, tr.498.




([9]) C. Mác: Những hình thái có trước nền sản xuất tư bản chủ nghĩa trong Bàn về các xã hội tiền tư bản, Sđd, 1975. Các đoạn trích sau không đánh số cũng ở tác phẩm này.




([10]) C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, tập 25, phần II, tr.499.




([11]) C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, tập 23, Sđd, tr.485.




([12]) C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, tập 23, Sđd. tr.520-521. Tất nhiên ở đây cần hiểu là nhấn mạnh tính ít thay đổi, nếu so sánh với các công xã theo hình thái xã hội khác.




([13]) C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tp, tp 25, phn II, Sđd, tr.499-500.



trieuxuan.info