19.01.2010
Đặng Nghiêm Vạn
Văn hóa Việt Nam đa tộc người (31)

Khoản thứ chín. Về việc các chức được đứng trong hàng tứ xên để cúng tế (xên phón) trong Mường Muổi quy định như sau:


1. Ông mo ở bản Pán ăn 3 mẫu ruộng và được hưởng 2 bản cuông Thái là bản Mỏ và bản Củ.


2. Ông nghe ở bản Pán ăn 1 mẫu ruộng và được hưởng 1 bản cuông Thái là bản Cang.


3. Ông chang luông ở bản Lái ăn 1 mẫu ruộng và được hưởng một bản cuông Xá là bản Nà Chạng.


4. Ông chang nọi ở bản Hỏm ăn 1 mẫu ruộng.


5. Ông pú chẩu ở bản Cún ăn 1 mẫu ruộng.


6. Ông chảu côn ở bản Nà Cài ăn 1 mẫu ruộng.


7. Ông ho cẳm ở bản nào ăn 5 sào ruộng ở bản đó.


8. Ông cóng lảu ở bản Cong ăn 1 mẫu ruộng và cả bản làm cuông.


9. Ông chang chiềng ở bản Pán ăn 5 sào ruộng.


10. Ông chang cuông ở bản Pán ăn 5 sào ruộng.


11. Ông quan lảu ở bản nào ăn 5 sào ruộng ở bản đó.


12. Ông chá xéng ở bản nào ăn 5 sào ruộng ở bản đó.


13. Bà một mương ở bản nào ăn 5 sào ruộng ở bản đó. Bà phải ở bản phía trên mường.


14. Cuôi xủ chang ken ở bản nào ăn 5 sào ruộng ở bản đó.


15. Bắc xị chang ken ở bản nào ăn 5 sào ruộng ở bản đó.


16. Ông lạp tiêm ở bản nào ăn 5 sào ruộng ở bản đó. Ông phải ở bản phía trên mường.


17. Ông chá hươn nọi ở bản nào ăn 5 sào ruộng ở bản đó.


18. Ông ho lảng ở bản Văng Mặn ăn 5 sào ruộng ở bản đó.


Ngoài ra còn có các chức quan chiềng, quan chá ở mỗi xổng thuộc hàng tứ xên.


Chương Ba: Vùng trung tâm của đất nước


Vùng đồng bằng và trung du ( sau đây gọi tắt là vùng đồng bằng) được coi là vùng trung tâm đất nước, vì là nơi tập trung kinh tế, chính trị của cả nước. Vùng này bao gồm đồng bằng và trung du Bắc Bộ, duyên hải miền Trung, đồng bằng Nam Bộ. Nghiên cứu vùng đồng bằng là nghiên cứu lịch sử hơn 2.000 năm của một đất nước từ chỗ bị gần ngàn năm Bắc thuộc đấu tranh kiên cường để giành độc lập tự chủ, rồi lại luôn phải vừa dựng nước, vừa đối phó với nạn ngoại xâm, để rồi cuối cùng lại giành lại được độc lập tự do với hai cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc, xây dựng một đất nước dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh. Nghiên cứu vùng đồng bằng là nghiên cứu tổ chức chính trị – xã hội dựa trên cơ sở một nền nông nghiệp lúa nước vùng nhiệt đới, gió mùa ẩm của bộ phận cư dân chủ yếu và đông đảo nhất nước – người Việt, vùng mang tính quyết định trong việc quy tụ các cư dân của hai vùng như đã trình bày ở trên, vùng miền núi phía Bắc và vùng Trường Sơn – Tây Nguyên, đã tự nguyện gia nhập vào cộng đồng quốc gia đa tộc người Việt Nam.


Nghiên cứu tổ chức chính trị – xã hội vùng đồng bằng chính cũng là nghiên cứu mối quan hệ chủ yếu là giữa Nước và Làng; nước (mà đại diện là vua) và làng (mà đại diện là dân). ở nước ta, sự hình thành quốc gia - dân tộc là dựa trên cơ sở của nhiều tộc người, chứ không phải là một, cho dù có một tộc người đóng vai trò chủ chốt, là trong điều kiện hiểm họa ngoại xâm luôn đe doạ ngay từ buổi đầu dựng nước, với kẻ thù luôn mạnh gấp nhiều lần, là việc luôn phải đối phó với một thiên nhiên vừa ưu đãi, lại vừa khắc nghiệt: mưa, bão, lụt, hạn, nóng ẩm, bệnh dịch, bệnh tật.


Trước tình hình đó nảy ra hai yêu cầu: Một là cần có một nhà nước trung ương tập quyền có đầy đủ sức mạnh tập hợp đoàn kết các tộc người Nam Bắc, xuôi ngược, trong những lúc Tổ quốc nguy nan. Nhà nước đó không chia sẻ quyền lực lãnh đạo cho bất cứ một ai, tập trung vào một ông vua nắm mọi quyền hành, phải biết luôn nới sức dân, lấy dân làm gốc, do dân vì dân, người dân cũng tự hiểu biết vì Tổ quốc mà hi sinh, nên bất kỳ một việc làm thái quá nào như việc Tự Đức xây lăng, "thành xây xương lính, hào đào máu dân", bóc lột sức dân là dân sẵn sàng nổi dậy.


Hai là cần có sự tập hợp một cộng đồng đông đảo trên cơ sở làng xã liên kết cùng nhau nhằm xây dựng, bảo vệ đất nước và chăm sóc mùa màng dựa trên những hệ thống thủy lợi đa dạng. Các làng tồn tại tự cung tự cấp với màng lưới chợ làng, chợ vùng, với các nghề thủ công manh mún phần đông được xem là nghề phụ gia đình, với bốn tầng lớp nhân dân: sĩ, nông, công thương đảm bảo năng lực tồn tại dai dẳng của làng xã. Từ đấy nảy sinh một đặc điểm khá phổ biến ở nước ta là sự phát triển yếu ớt của các đô thị. Những trung tâm của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội văn hóa không đủ sức thu hút cư dân nông thôn; ngược lại cư dân đô thị lại chỉ quan niệm là người sống nhờ, để rồi khi về già lại trở về làng với mong ước được an nghỉ nơi chôn nhau cắt rốn cùng với ông bà tổ tiên.


Phan Ngọc có một nhận xét đáng lưu ý, là ở Trung Quốc khái niệm về đất nước, về Tổ quốc không rõ ràng, chỉ có khái niệm về các dòng họ cầm quyền. Ông cũng cho là khái niệm về làng xã cũng không như ở Việt Nam. Ông dẫn Tôn Trung Sơn, một lãnh tụ am tường xã hội Trung Quốc cũng đã viết: "Cái mà người Trung Quốc sùng bái nhất là chủ nghĩa gia tộc và chủ nghĩa tông tộc, họ không tiếc hy sinh tính mệnh của họ". ở Trung Quốc, quan hệ quân thần là quan hệ chi phối thái độ người dân bên cạnh quan hệ phụ tử, phu phụ. Khái niệm trung là trung với vua, chứ không phải trung với nước. Ông dẫn Hàn Phi: "Sở dĩ người ta nói nước Tề đã mất không phải là nói đất và thành của nó mất, mà nói họ Lữ không cai trị nữa, mà họ Điền chuyên quyền. Sở dĩ người ta nói nước Tần đã mất, không phải nói đất và thành của nó đã mất, mà nói họ Cơ không còn cai trị, trái lại sáu quan khanh chuyên quyền".


Ngược lại, ở Việt Nam, quan hệ đó là quan hệ người dân với đất nước, Dân - nước. Dân ở đây là làng; nước ở đây là vua, người đại diện, thành quan hệ dân - làng - nước. Nhà nước Việt Nam, đứng đầu là một ông vua, luôn phải đối mặt với một đất nước có binh lực hùng cường, có một văn minh đầy sức mạnh, có thể đồng hóa dễ dàng kể cả những người thắng trận trên chiến trường và duy trì trên ngai hoàng đế hàng trăm năm như nhà Mông - Nguyên, nhà Thanh. Để cho "Nam quốc sơn hà Nam đế cư", ông vua đại diện cho dân đó phải gần gụi dân, phải được dân đồng lòng, bảo vệ, xây dựng đất nước. Đến như Hồ Quý Ly với chính sách tiến bộ hạn điền, hạn nô, chính sách dùng tiền giấy, mở mang ngoại thương, thế mà vì không được lòng dân, rồi đất nước cũng bị nhà Minh thôn tính. Nhà vua không tự tách mình thành một dòng họ quý tộc như ở Tây Âu, Nhật Bản, như các thổ ty, lang đạo, phìa tạo Tày, Thái, Mường. Nhà vua tập trung cả thần quyền lẫn thế quyền, cai quản không chỉ người đang sống mà cả những người đã khuất trong phạm vi lãnh thổ của mình, chủ trì lễ tế trời đất, cấy tịch điền, phong giáng chức không chỉ với các quan lại đương triều, mà cả những thánh thần, tạo nên một cộng đồng của quá khứ và hiện tại, do đó cũng phải duy trì một sự dân chủ nhất định, chấp nhận một sự thật không thể chối cãi là "phép vua thua lệ làng", chủ trương con dân được thi cử làm quan, quan lại được đổi họ vua nếu có công với nước, chủ trương không chỉ lấy chữ hiếu làm gốc, mà tạo ra ý thức trong dân tiểu hiếu phục tùng đại hiếu tức chữ trung. Nhà vua lập được mối quan hệ nối liền nhà - làng - nước qua việc thờ đạo tổ tiên theo nghĩa rộng, tức thờ ông bà, cha mẹ, nếu có công được tôn vinh thành danh nhân anh hùng dân tộc được nhiều làng thờ, cả vùng thờ, thờ Thành hoàng, những tiên hiền, hậu hiền người có công khai phá, xây dựng làng, đền thờ vua Hùng, biểu tượng của quốc gia dân tộc, người có công dựng nước. Nhà vua còn chủ trương hạn điền, hạn nô, san sẻ quân điền, hô hào nhà giàu hiến ruộng tư (Minh Mạng với Nam Bộ) sợ dân đói kém, phiêu bạt v.v...


Nhà vua cũng định ra những thể chế quy định đạo đức, lối sống cho thích hợp, cũng biết ứng xử cho phải phép, gắng làm minh quân và trong lịch sử nước ta đã có nhiều minh quân... Nhà vua không thể để dân túng đói. Trong những lúc thiên tai, dịch bệnh, mùa màng thất bát hay chiến tranh loạn lạc xảy ra liên tiếp, dân tan đàn sẻ nghé; nhà vua phải tạ tội với trời đất, miễn giảm thuế khóa, xóa tội, mở kho phát chẩn, làm điều ân đức. Nhà vua nào tỏ ra gian ác, hèn yếu, bất lực, thì phải thay thế, có khi phải đổ máu.


Ngược lại, người dân với cộng đồng công xã, có điều kiện bảo vệ tính tự quản của mình nhằm hạn chế được sự lũng đoạn quyền lực của ông vua thần và bộ máy chức dịch, giữ được tinh thần dân chủ của các công xã nguyên thủy. Lệ làng được đặt ra để hạn chế phép nước, nhằm đảm bảo quyền tự quản nhất định. Nhiều hội làng, giáp, tư văn, hội ái hữu, cứu tế được quy định trước sự quy định của triều đình. Nhưng rất đáng tiếc, qua thời gian, trong nội bộ các làng nhỏ bé đó, cùng với sự tha hóa của xã hội có giai cấp, cũng lại bị sự lũng đoạn quyền lực của cường hào, làm biến dạng cộng đồng đẹp đẽ ban đầu bằng quá trình tư hữu hóa, chiếm công vi tư. Nếu trước đây phép vua phải thua lệ làng vì tính tự bảo vệ của nó, thì nay người dân lại phải gánh chịu một cổ hai tròng đã phép vua, lại còn thêm lệ làng. Nhưng dù sao nữa, cái công xã đó cũng không sớm bị tan rã như ở châu Âu, mà vẫn hiện diện cho đến ngày nay với sức sống ẩn tàng của nó.


Có thể nói quá trình phát triển của lịch sử Việt Nam là quá trình thay đổi các phương thức, cái mới thay thế cái cũ trong mối quan hệ nước - vua và dân - làng có lợi cho giai cấp thống trị. Nhưng dẫu sao, cho dù có dùng hình thức cưỡng bức siêu kinh tế để người sở hữu trên danh nghĩa mới khai thác bóc lột được thặng dư lao động của những người tiểu nông ấy (C. Mác), thì cũng không thể không duy trì quan hệ cơ bản nước - vua và làng -dân. Những khu đô thị lại nhỏ bé, không ảnh hưởng nhiều đến sự tồn tại của các làng, lại thường vẫn quan hệ bà con với các làng nghề. Các thương cảng, các hầm mỏ độc quyền trong tay nhà nước, là nguồn thu lợi của nhà nước, không dính dáng gì đến các làng, khi cần thì phát triển, khi loạn lạc, thì bỏ mặc. Việc các thương cảng thay đổi từng thời kỳ từ Vân Đồn tới Phố Hiến, Hội An là một ví dụ. Nó là cái bướu, cục thịt thừa của xã hội châu á (C. Mác), không kích thích gì sự phát triển của xã hội phương Đông. Phải chăng tính trì trệ chính là ở chỗ, đứng trước nhu cầu của chủ nghĩa tư bản, vua cũng như dân không tạo được một tiền đề phá vỡ cái xã hội "nông vi bản" đó, để rồi chủ nghĩa tư bản phương Tây đến áp đặt một chế độ thuộc địa song song với việc duy trì nền sản xuất phong kiến.


Nếu có sự đối kháng mâu thuẫn thì là sự lũng đoạn quyền lực của bộ máy nhà nước, giảm dần trách nhiệm chăm sóc dân, gia tăng sự bóc lột bằng cách tăng thuế, tăng tô, thu hẹp quyền lực của công xã bằng cách thu hẹp số ruộng công do làng quản lý, chấp nhận việc mở các điền trang, phong cho các quan lại ruộng thế nghiệp, mở đồn điền, chiêu dân lập ấp, biến người dân công xã trở thành một nông nô, cấy rẽ hay nộp tô cho địa chủ...


Mâu thuẫn đó có lúc êm dịu, có lúc căng thẳng, dẫn đến những cuộc khởi nghĩa diễn ra liên tục vào mạt kỳ của các triều đại với những ông vua bất tài, nhu nhược ăn chơi, xa hoa. Và đây thường là cơ hội cho các thế lực ngoại bang can thiệp.


Tính cộng đồng của làng xã giảm dần, nhưng không ai muốn từ bỏ vì cả nhà vua lẫn người dân không ai muốn phá vỡ quan hệ cơ bản đó, hay nói cách khác là không ai loại bỏ hai quyền sở hữu đất đai, công cũng không hẳn là công, mà tư cũng chẳng ra tư. Khái niệm chế độ sở hữu công xã dưới hình thức chế độ chiếm hữu của người dân có số ruộng lúc đầu không chia lại, sau chia lại theo định kỳ, được chồng lên bằng chế độ sở hữu nhà nước, dưới danh nghĩa của một ông vua, cứ được duy trì mặc dù theo thời gian đã bị thu hẹp, nhường chỗ cho chế độ tư hữu ruộng đất phát triển. Đến thời Pháp thuộc với con số thống kê khoảng những năm của thập niên 30 thế kỷ trước, các loại ruộng công toàn quốc cũng còn trên dưới 20%, số ruộng còn lại đã thành ruộng tư, một số chưa hẳn đã là tư.


Vậy nên, ở nước ta diễn ra quá trình phương thức sản xuất cống nạp bắt nguồn từ phương thức sản xuất nguyên thủy, chiếm địa vị chủ yếu có thể đến thời Hậu Lê, chuyển dần sang phương thức sản xuất nông nô của chế độ quân chủ hay phong kiến phương Đông.


Dưới đây xin trình bày tóm tắt quá trình đó mặc dù những tư liệu còn nhiều chỗ thiếu sót và mơ hồ.


I. Vấn đề ruộng đất


1. Thời Lý - Trần (thế kỷ X - thế kỷ XIV)


Vấn đề ruộng công là vấn đề quan trọng bậc nhất trong xã hội cổ truyền của nước ta, có ý nghĩa gần như quyết định việc xác định hình thái kinh tế - xã hội trước thời Pháp thuộc, trong mối quan hệ giữa nước - vua và làng - dân. Thừa kế từ thời Bắc thuộc, đến khi được độc lập tự chủ, với những tư liệu còn sơ sài, ta có thể đoán định ngay từ họ Khúc qua họ Ngô đến họ Đinh, nhà vua đã nắm trong tay quyền sở hữu về ruộng đất trên nguyên tắc "đất vua, chùa làng". Có thể nói đến thời Lý, hầu hết ruộng đất là thuộc quyền công hữu, một bên thuộc nhà vua, một bên thuộc làng xã. Hai quyền sở hữu đó chồng lên nhau, quyền sở hữu nhà nước có vai trò chi phối. Nhà nước mà đại diện là nhà vua, là người sở hữu tối cao, thể hiện ở chế độ tô - thuế cho tất cả ruộng công dù là thuộc trung ương hay thuộc công xã. Không một ai được mua bán ruộng công. Ruộng của làng nào dân làng đó được hưởng. Người nào khai phá đất hoang thành ruộng, sau một thời gian, ruộng cũng phải sung công. Tuy không thấy rõ rệt như ở vùng phìa, tạo, lang, đạo..., mọi người nếu ai có đầy đủ quyền công dân, đều có quyền chiếm dụng vĩnh viễn một mảnh đất công với điều kiện phải theo luật nước, lệ làng nộp một phần sản phẩm hay làm lao dịch cho làng, binh dịch cho nước. Điều đó chứng tỏ quyền khai phá ban đầu của tổ tiên hay quyền khai phá về sau của bản thân người dân đã được thừa nhận. Vì ruộng đất là nằm trong phạm vi của làng xã, ngoài những đất khai hoang hay lập đồn điền do nhà nước đứng ra chiêu dân hay dùng tù binh, tội đồ lập nên, chưa có tư liệu nào cho thấy số ruộng công do nhà vua quản lý lấy từ đâu và theo nguyên tắc nào, nhất là ruộng đất phong cho các quần thần. Làng có phải định lệ một số ruộng công nhất định phải dành cho triều đình như kiểu nà hàng mường hay nà bớt ở vùng Thái, mỗi bản trung bình phải nhượng 2/10 số ruộng công của làng cho mường; hay với danh nghĩa là quyền sở hữu tối cao, nhà vua trưng dụng một số diện tích nhất định ruộng đất bất kỳ ở một vùng lãnh thổ bất kỳ khi cần thiết. Tất nhiên số ruộng công của các làng xã lúc đầu là lớn so với các loại ruộng của nhà nước sau phải thu hẹp dần. Nhưng người dân có thiệt thòi gì hay không, khi phải cày cấy trên đất làng mà nay lại là trên đất của một chủ sở hữu nhất định do nhà vua phong cấp. Ruộng tư dần phát triển thu hẹp số ruộng công do chủ trương phong đất của triều đình, chiếm công vi tư của các quan chức, do bán ruộng công với giá rẻ. Ta thử xem cách giải quyết của triều đình về vấn đề ruộng đất ra sao?


Ruộng công của triều đình.


a) Có hai loại: Một loại ruộng công số lượng không nhiều phục vụ cho việc tế lễ, thời Lý gọi là ruộng sơn lăng nhằm lấy thu họach chi phí cho việc thờ cúng các vị vua đã khuất của các triều đại đặt ra từ thời Đinh, tiếp theo là thời Lý và các triều đại khác: Trần, Lê, Nguyễn. Sử liệu chưa nói rõ thời Đinh số ruộng này có hay không. Đến thời Lý số ruộng đó được tập trung ở làng Đình Bảng "khu đất ruộng chừng trăm mẫu, cổ thụ um tùm là cấm địa hay thang mộc ấp của nhà Lý" trung tâm có đền Đô mà Trịnh Tùng cho phép "lấy 254 mẫu của xã làm ruộng thờ như cũ". Đến đời Trần, ruộng sơn lăng được đặt ở nhiều nơi thuộc các làng Thái Đường, Long Hưng, Tức Mặc, án Linh. Nhà Lê tập trung ở Lam Sơn, Thanh Hóa, nơi xuất phát của khởi nghĩa Lam Sơn; nhà Nguyễn ở Quảng Nam... cho đến Đồng Khánh, Khải Định. Những ruộng dành cho việc thờ vong linh của các vị vua đã khuất, được giao cho dân trông nom việc tế tự, được miễn tô thuế.


Loại ruộng thứ hai là ruộng tịch điền có từ thời Tiền Lê, tồn tại đến triều Nguyễn, tập trung xung quanh kinh đô Huế. Thu họach của loại ruộng này dùng cho việc tổ chức các nghi lễ nông nghiệp, mở đầu cho việc sản xuất, nhà vua làm lễ tịch điền, cày luống ruộng đầu tiên và gặt cắt về kho dùng để tế lễ liên quan đến nông nghiệp: lụt, hạn, mất mùa... Số ruộng này xưa được đặt ở nhiều nơi quan trọng tập trung cho việc sản xuất nông nghiệp như ở Hồ Hải Khẩu (Thái Bình), Tin Hương thuộc Đỗ Động Giang (Bình Đà - Hà Đông), Đọi Sơn (Thanh Liêm - Hà Nam), Lý Nhân (Phủ Lý - Hà Nam), ứng Phong - Nghĩa Hưng (Nam Định), Khả Lãm (?), Khải Thụy (?). Hai loại ruộng này đều giao cho dân cày cấy, hoa lợi chi phí cho việc tế tự, nên có thể coi ruộng tế tự là loại ruộng công "dân không được mua bán". Riêng số ruộng tịch điền không được nói rõ, phải đợi đến năm 1828 tham khảo chính sách triều Nguyễn, ta mới thấy ruộng đó được giao cho nông dân cày, khi gặt nhập vào kho, định lệ lương cho nông phu cày ruộng tịch điền, cấp lương tháng, gạo một phương, tiền một quan.


Hai loại ruộng này được duy trì suốt các triều vua, chiếm một phần không lớn, được nhà vua cho dân làm và nộp tô thuế theo kiểu lao dịch, giống như người Thái đi làm ruộng nà nả hay mương hay người Mường thực hiện xâu. Ruộng được giao cho số dân được ưu đãi, mức thuế tô nhẹ hơn, nhưng quan trọng là người dân cấy ruộng, được coi là vinh dự được gánh vác một công việc


hệ trọng.


Loại ruộng chi dùng cho việc binh, việc quan, ngoài việc tế lễ. Thời Lý quy làm hai loại (theo như Trương Hữu Quýnh): loại ruộng quốc khố và đồn điền. Loại ruộng này như tài liệu là ruộng khai hoang có thể dùng tội đồ dành cho loại quốc khố và tù binh dành cho đồn điền chăng. Thời Lý - Trần, số lượng tù binh Chăm rất đông. Ngoài việc phân phát cho các vương hầu làm nô tỳ,


số còn lại nhà vua cho tập trung ở miền núi Nghệ An, ở quanh Hà Nội như vùng Từ Liêm khai hoang lập đồn điền đặt hương ấp phỏng theo tên gọi cũ của Chiêm Thành. Số tù binh Tống, Nguyên, Ai Lao cũng nhiều. Đến đời Trần, nhà nước chính thức thực hiện chính sách đồn điền đặt các chức đồn điền chánh, phó sứ ở ty khuyến nông, chuyên mộ dân khai hoang.


Thân phận các tội đồ, các tù binh được sống trong các đồn điền theo các tài liệu ít ỏi cho biết họ hoặc phải thu nộp hoa lợi, hoặc phải thích vào mặt 6 chữ và cày ruộng công nộp thuế rất nặng. Như vậy người làm ở đồn điền là người được tổ chức riêng, sống thành gia đình, tự lập thành làng tự quản với sự giám sát của triều đình, phải làm tô lao dịch hoặc tô hiện vật với mức bóc lột cao.


b) Để phân bổ lương bổng cho các quan trong xã hội nông nghiệp, ngoài ruộng đất và sản phẩm từ đất, không còn gì khác. Nhà vua phải sử dụng ruộng công của công xã. Theo Ngô Thì S?: "Thời Lý, các quan trong, ngoài đều không cấp bổng. Quan trong triều bất thần được vua thưởng cho, quan ngoài thì giao cho dân một vùng để đặt người thuộc viên thu thuế ruộng, đất, ao, hồ, đánh vào dân cày, dân cá mà lấy lợi". Lê Quý Đôn viết: "Lý Thái Tông (1028-1054)... hạ chiếu: quản giáp, chư đồ và người thu thuế, phàm dân nộp thuế công, ngoài 10 phần được lấy riêng một phần làm bổng lộc, gọi là hoành đầu".


Như vậy thời Lý ban đầu quy chế bổng lộc không rõ ràng, nên người dân không biết thế nào, đành chịu cho quan đè nén. Đến thời Trần cũng vậy. Mãi đến Trần Minh Tông mới quy định cấp hộ khẩu cho các quan văn võ theo thứ bậc khác nhau, nên chế độ ban cấp lương bổng phổ biến ở thời Lý là ban cấp ruộng cho các quan lại, chế độ thực ấp. Chế độ này bắt nguồn từ trước đến thời Lý phổ biến hơn.


Thật ra, cách phong thực ấp giống như cách "ăn" ruộng của dân ở người Thái đối với các chức dịch, nên với các quan trong triều, nhà vua mới ban thưởng, mà ban thưởng cũng chỉ cho dân, cho ruộng, còn quan ngoài thì cho "ăn" ruộng hay "ăn" dân, nếu tính theo hộ. Tùy theo ân đức của chủ, người dân được lợi đóng tô thuế có phần nhẹ hơn. Đây có thể coi như một hình thức cuông nhốc của chế độ phìa tạo không hơn không kém. Vì vậy, đầu thời Trần, những người được phong thái ấp thường ở tại địa phương có việc mới lên chầu vua, còn thì cứ ở dưới thực ấp. Đó cũng là cách cử các đầu lĩnh làm chúa một nơi. Nhưng khác ở chỗ thái ấp đó thường vẫn gắn với triều đình, nhà vua - người sở hữu tối cao về ruộng đất. Người được cấp thực ấp được hưởng khi về già, bị rút lại chỉ để một số thực phong làm ruộng thế nghiệp.


Đất thực ấp có thể rất rộng, còn đất thực phong thì ít. Có người được phong thái ấp nhiều lần, như Trần Hưng Đạo được phong ở Tam Nông đã cho con ra cùng người Nùng ở địa phương khai hoang lập nên làng Quảng Bị, sau lại được ở Vạn Kiếp. Đất dùng làm thực ấp thường rộng hơn thực phong vì ban cho thực ấp là chỉ cho thay mặt nhà vua thu tô thuế, còn ban cho thực phong mới là phong thực, cho "ăn" cả đất lẫn người vĩnh viễn. ở đây nổi lên vấn đề thái ấp. Các tướng lĩnh thời Trần đều có thái ấp và có quân đội riêng như Trần Quốc Toản có một đội quân hơn một ngàn người. Thật ra thái ấp là biến tướng của thực ấp. Các vương hầu ở đâu đều được phép tuyển quân và luyện quân ở đó. Họ có quyền phiên chế các gia nô hầu hạ, phục dịch mình thành đội ngũ, vừa được quyền tuyển quân ở ngoài thái ấp như Trần Nhật Hạo, Trần Quốc Toản hay thái tử Hoàng Chân thời Lý. Quyền lập quân đội riêng chỉ được thực hiện khi hữu sự, có chiến tranh, theo lệnh của nhà vua như Trương Hữu Quýnh nhận xét. Thông thường các thái ấp không thay đổi, song có lúc nhà vua buộc họ phải thay đổi như Trần Hưng Đạo hồi trẻ được ban thái ấp ở A Sào (Quảng Phụ – Thái Bình) sau chuyển về Vạn Kiếp. Thái ấp thường không rộng, không lớn hơn một xã, ở đấy chủ nhân dựng các dinh thự ở thái ấp, gần như biến thành của riêng người được cấp. Người chủ thái ấp được quyền tùy tiện thu tô thuế của cư dân, nên người dân biết ơn nếu chủ nhân có lòng nhân đức, thu thuế nhẹ có thái độ tốt đối với dân.


(còn tiếp)


Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info

trieuxuan.info