Ta có thể thấy các tộc người Trường Sơn – Tây Nguyên những dạng phát triển của đại gia đình như sau:
a) Kiểu thứ nhất: ở đây các thành viên được điều khiển bởi ông chủ Nóc. Người Ba Na gọi là hnam đno, Xơ Đăng: kan spoong, Tà Ôi, Cơ Tu: tako hdông, trưởng hđung... Ông chủ nóc có khi cũng là chủ làng, nếu được cả nóc suy tôn và cả làng tín nhiệm. Các ông khác tham dự hội đồng già làng với tư cách là chủ nóc, nhận việc của làng về bàn bạc với nóc thực hiện. Ông đại diện cho nóc, giao thiệp với các nóc khác trong làng và với khách từ các làng khác hay các thương lái từ dưới xuôi, bên Lào qua. Ông cũng là người điều khiển phân công cho các hộ trong nóc tham gia sản xuất, thực hiện nghĩa vụ với làng trong chiến tranh, trong việc bảo vệ và duy trì tập quán pháp, trong các công việc tôn giáo, thờ cúng, thu xếp những xích mích giữa các hộ (rất ít khi xảy ra), điều khiển việc cúng bái, cưới xin, ma chay, trông nom những tài sản chung của nóc. Chủ nóc mất đi, thường người trưởng lanh lẹn hay một trong những thành viên là em (bên nhà gái là gái nếu mẫu hệ, bên nhà trai là trai nếu phụ hệ) thay thế, với sự đồng ý của tất cả thành viên trong nóc, không phân biệt trai gái.
Cùng điều khiển công việc của nóc, có một bà già, cũng có thể không phải là người vợ của chủ nóc, đứng ra trông nom việc nội trợ, phân phối lương thực. Bà ta thường được suy tôn làm mẹ lúa, ngủ ở gian bếp thiêng, ít khi lấy chồng nóc khác, nếu có, chồng bà lại về ở rể đời. Trường hợp này phổ biến ở người Xơ Đăng. ở các tộc người khác, đó là người vợ của chủ nhà. Kiểu thứ nhất này, nay hiếm thấy, chỉ còn lưu lại ở những miền hẻo lánh. Lương thực kiếm được phân chia cho các bếp tiểu gia đình nấu ăn riêng. Đó là không kể các bữa cơm rượu tổ chức vui chung cả nóc. Trong dịp đó gạo và thức ăn được nấu chung ở gian mẹ lúa hay chủ nóc.
Những tài sản riêng thường chỉ là những vật dụng cá nhân sử dụng hằng ngày: công cụ sản xuất, săn bắt, giáo mác, ná, gậy chọc lỗ, cuốc... trang phục, thuốc hút, một số vật dụng. Những thứ này thường được chôn theo khi chết. Bình thường, các gia đình nhỏ có thể chăn nuôi thêm gia súc riêng: gà, lợn, bò... nhưng khi nóc cần, các vật nuôi lại được sử dụng chung. Hộ có lợn gà, thậm chí trâu bò được nóc sử dụng không nghĩ đến chuyện bồi thường. Nói tóm lại, trong xã hội này cái riêng và cái chung thường hòa lẫn vào nhau, chưa có sự rạch ròi công tư theo tư duy của con người đã trải qua xã hội công nghiệp. Những gia súc, những vật quý trong rừng do vợ chồng kiếm được hay săn bẫy được: mật gấu, nhung nai, xương hổ... các gia đình có thể trao đổi lấy hàng của các thương lái, không phải cống nạp cho ai, kể cả chủ làng.
? đây không thấy kiểu ăn chung như Nguyễn Xuân Hồng thấy ở người Tà Ôi. Phải chăng việc ăn chung rất bất tiện cho toàn nóc. Mỗi gia đình lĩnh lương thực ở bà mẹ lúa hay vợ người chủ nóc từ kho thóc chung của cả nóc, nấu lấy ăn riêng. Nếu có "liên hoan", mới ăn chung nóc.
b) Kiểu thứ hai: Khi nóc bao gồm quá nhiều người, những thành viên có quan hệ gần gụi nhau tách ra thành một nóc thường từ 8-10 gia đình hạt nhân. Họ vẫn làm chung hoặc tách ra làm riêng trên rẫy của ông bà. Quy mô nóc bị thu hẹp; việc làm chung vẫn duy trì vì nếu có chia, phương thức sản xuất nương rẫy vẫn đòi hỏi làm tập thể theo hình thức vần công. Lương thực vẫn để chung trong một kho do mẹ lúa quản lý, vì thực tế không ai để người trong một plây, một vêêl bị đói khi người trong làng còn thừa thóc trong kho. Những nóc chia ra được dựng quây quanh nóc chính, tiện cho việc đi lại thăm hỏi và thường vẫn quây quần ở nhà ông trưởng nóc chính. Các tài sản như chiêng, ché, nồi đồng vẫn là của riêng nhưng được dùng chung cho cả nóc.
Cũng có trường hợp những nóc mới hình thành một cộng đồng sản xuất riêng rẽ. Lúc đó họ chia tư liệu sản xuất và làm riêng theo từng nóc, lúc cần thiết vẫn có sự trợ giúp.
c) Kiểu thứ ba: Những nóc nhà từ 8-10 gia đình trở lên lại chia nhỏ thành đại gia đình hoặc các gia đình hạt nhân hay mở rộng. Đây là hình thức phổ biến hiện nay. ở những vùng hẻo lánh, do tác động của chế độ tư hữu đã du nhập từ ngoài, các đại gia đình nay cũng hiếm thấy.
Cần chú ý, nếu ở người Ca Dong, Mơ Nâm (Xơ Đăng), khách tuyệt đối không được qua buồng, nơi bà chủ mẹ lúa hay vợ chủ nhà, với chiếc bếp thiêng, ở đó có đặt một hòn đá thiêng, nơi hồn lúa và thần hộ mệnh của nóc cư trú. Người Ca Dong gọi hòn đá đó là mô vác, người Mơ Nâm: mô băng dinh. Các nhóm khác đặt hòn đá đó ở nơi cột chính, được gọi đơn giản là đmoong. Cạnh hòn đá có treo các sọ trâu bò cúng thần. Có khi những chiếc sọ treo ngay ở phòng họp chung của nóc.
Các tộc người Malayô-Pôlinêxia, theo chế độ mẫu hệ kiểu nhà dài còn tồn tại ở người Ê Đê. ở đây phổ biến chế độ đại gia đình với 4 thế hệ cùng chung sống. Chế độ đại gia đình mẫu hệ chỉ chấm dứt khi đế quốc Mỹ chủ trương dồn dân lập ấp chiến lược và sau giải phóng là chủ trương giao đất, giao rừng của Chính phủ. ở người Gia Rai, hình thức đại gia đình đã sớm chuyển sang tiểu gia đình hay gia đình mở rộng. ở người Ra Glai, Chu Ru, gia đình nhỏ đã bắt đầu xuất hiện bên cạnh những đại gia đình mẫu hệ. Tuy nhiên ở đây, mỗi nóc được coi là một đơn vị (go esei), không phân biệt là đại gia đình (go prông) hay tiểu gia đình (go dét) như ở người Chu Ru.
Theo Vũ Đình Lợi ngược với gia đình phụ hệ, thiết chế của gia đình mẫu hệ phân biệt các thành viên trong gia đình còn rất chặt chẽ. Trong một đại gia đình có 3 nhóm:
- Nhóm nữ (ana go): nhóm chủ thể của gia đình: Địa vị của người phụ nữ trong đại gia đình mẫu hệ là tuyệt đối, được tập trung vào tay bà chủ nhà (khoa sang) là người cao tuổi, có địa vị và có uy tín nhất. Khi bà chủ nhà qua đời, hay quá già, không quán xuyến nổi, chức vị chủ gia đình sẽ truyền lại cho cô con gái út (minorat), người được ở gian đầu kề cạnh với gian vợ chồng chủ nhà, gần gian bếp, phân phối khẩu phần cho toàn thể đại gia đình. Đó cũng là gian gần liền với kho để các tài sản quý của gia đình (adu hong). Buồng chủ nhà lại là nơi đặt cây cột cúng yàng. Tập quán pháp Ê Đê (klei duê klei bhian kđi) có ghi rõ: "Các bát, những tổ chim diều hâu, các âu đồng, các tổ chim chèo bẻo là của cải tổ tiên ông bà xưa để lại.
Của cải của bà xưa, của cải của ông cũ để lại phải được dùng chung.
Phải góp sức đốn cây lợp hầm (nơi để của cải – adu hong), phải cùng nhau trông nom, giữ gìn các của cải đó...".
Của cải ở đây là những vật quý của đại gia đình bên cạnh đất đai của làng được chia, trâu, bò, vải vóc... những thứ như chiêng, ché, đồ gốm có giá trị được bà chủ giữ và mọi người được hỏi mượn dùng. Bà chủ nhà là người duy nhất được đụng đến kho thóc, được lấy lương thực phân phối cho các tiểu gia đình. Vì một lẽ gì bà vắng mặt, chị em nữ được thay phân phối. Những thành viên nam trong gia đình không được đụng đến, nên vì thế những thành viên nữ trong đại gia đình được gọi là ana go = chiếc nồi cái. Vắng họ, thành viên nam bị bỏ đói.
Bà chủ nhà được người chồng giúp tổ chức cho đại gia đình làm ăn khấm khá. Ngoài các công việc đó, để duy trì và phát triển nòi giống, người đàn bà cũng phải có trách nhiệm. Nếu bà chủ nhà là người vô sinh, thì bà phải xin một người con gái con chị em hay người cùng họ làm con nuôi, để khi chết, có người thừa kế dòng họ. Của cải sẽ thuộc người con gái nuôi đó đảm trách.
Trong hôn nhân, phụ nữ chủ động và cưới chồng; trong ma chay, phụ nữ làm chủ tế, khi làm nhà mới, bà chủ nhà là người chặt nhát rìu đầu tiên. Trong lễ mừng nhà mới, bà chủ là người chủ lễ, là người bước đầu tiên lên nhà mang theo nước, lửa và lúa, bông – những vật tượng trưng cho uy quyền của đàn bà. Trong việc giao tiếp với khách trong làng ngoài buôn, bà chủ nhà là người uống rượu đầu tiên và tiếp cần từ tay khách. Tuy nhiên, với công việc ngoài xã hội, người chồng là người đại diện, nhưng ý kiến quyết định lại là ông cậu (đăm đei) của vợ.
- Nhóm thành viên nam hay anh em trai của nhóm nữ (đăm đei).
Là thành viên không ổn định của gia đình, vì khi lấy vợ họ phải về làm "người nuôi" bên nhà vợ và chỉ khi không còn đóng vai "chàng rể", họ quay về sống với chị em gái của mình. Địa vị và uy thế của đăm đei rất lớn với gia đình của mình, kể cả khi đã đi lấy vợ. Nếu so với lúng ta (ông cậu) của người Thái, địa vị của họ còn lớn hơn nhiều (xem chương Dòng họ). Tiếng nói của họ hầu như có vai trò quyết định với công to việc nhỏ trong gia đình. Phụ nữ tuy là chủ nhà, nhưng công việc lớn phải hỏi ý kiến của đăm đei, nếu đăm đei không đồng ý, thì họ cũng phải thôi, không dám làm. Việc mua sắm của cải như ché chiêng voi... đều do đăm đei lo liệu. Đặc biệt đăm đei dường như có ý kiến quyết định trong việc cưới xin cho các cháu gái, gả bán cháu trai. Họ là người mai mối, đại diện khi ăn hỏi, tổ chức lễ cưới. Họ cũng là người săn sóc sức khoẻ cho các chị em cũng như lo liệu biện lý cho gia đình khi bị kiện cáo, phạt vạ.
Ana go luôn tin cậy, tự hào kính trọng đăm đei. Nếu đăm đei bị kiện cáo, ana go sẽ bồi thường. Tuy nhiên đăm đei không có quyền gì hết với bên nhà vợ, thậm chí khi vợ chết, không có người thay thế, thì họ về không với các công cụ và dụng cụ cá nhân, với chiếc khố, chiếc áo do ana go dệt cho. Nhưng các chị em đăm đei lại sẵn sàng đón các anh em ruột mình về săn sóc ở gia đình mình.
- Nhóm những chàng rể hay những người chồng của nhóm nữ (pơ rông).
Là nhóm người đi "nuôi" bên nhà vợ. Họ phải làm việc nặng nhọc theo sự phân công lao động theo giới, có chăng nếu ai được làm chồng bà chủ nhà thì còn có tiếng nói và được tiếng là đại diện cho "bà vợ" khả kính của mình, nên các pơ rông đã là một món hàng thách cưới vì họ là người được cưới về làm chồng với một giá đầu người khá cao nên khi về ở nhà vợ, họ không được một quyền lợi nào về tài sản do công lao động của họ sản xuất ra, về con cái mà họ sinh ra; vì thế họ cũng không có hứng thú gì trong lao động, sản xuất. Tư tưởng của họ là hướng về gia đình, nơi họ được gọi là đăm đei. Nghịch lý của xã hội mẫu hệ chính là ở chỗ công lao động do các prông làm ra, các prông không được hưởng; ngược lại các đăm đei của các bà vợ mình, là prông của đại gia đình khác, lại là người được quyết. Nên vì thế tất sinh ra hiện tượng các prông không hứng thú lao động, nên bị nhà vợ trả về, tất nhiên cha mẹ và các chị em gái anh ta phải bồi thường cho nhà vợ phí tổn trong hôn lễ. Trong luật tục đã ghi:
"Họ đã thành vợ, thành chồng, như chiêng đã treo với la. Vợ chồng đã cam kết với nhau khi làm hôn ước.
"Thế mà nay, họ bỏ nhau không có lí do, không ai có lỗi đối với ai, vợ chồng bỏ nhau, anh em bỏ nhau vô cớ.
"Vậy thì có bao nhiêu voi đã xiềng lại, có bao nhiêu chiêng đã treo lên, có bao nhiêu điều gì đã cam kết với nhau khi họ thành vợ thành chồng, khi ghép cánh nỏ vào với báng nỏ, họ phải trả giá bồi thường cho nhau đầy đủ bấy nhiêu.
"Kể từ đó, cái vòng đồng sẽ mở ra, cái vòng đồng dây sẽ tháo ra, con ngựa con voi sẽ chăn ở khác bãi, khác rừng. Kể từ đó, các chuỗi cườm, vòng tay sẽ trao trả lại, vòng tay kia trả lại lấy vòng này, vòng tay người đàn ông đang đeo trả lại cho người đàn bà, vòng tay người đàn bà đang đeo trả lại cho người đàn ông. Và thế là không còn việc gì phải đưa ra xét xử nữa. Nếu người đàn ông muốn lấy vợ khác thì cứ lấy. Nếu người đàn bà muốn lấy chồng khác thì cứ lấy".
Tình trạng các prông được phản ánh trong toàn bộ bản trường ca Đam San nổi tiếng như việc phản ứng lại tục nối nòi (chuê nuê), chống lại các đăm đei và tỏ rõ sự thờ ơ của các prông trong việc lao động và mua sắm cho nhà vợ.
Chế độ mẫu hệ đã lung lay với việc xuất hiện các mtao, những thủ lĩnh trong việc liên minh giữa các làng được phản ánh trong các bản trường ca nổi tiếng của các tộc người Tây Nguyên, trong việc xuất hiện các công chức ăn lương của Nhà nước thực dân và nhất là sau chiến tranh, xuất hiện những cán bộ nhà nước cấp tỉnh, huyện, xã.
Trong một gia đình tồn tại ba nhóm người: ana go, đăm đei và prông, tuy có mâu thuẫn với nhau về quyền lợi và trách nhiệm nhưng lại đối xử rất êm ấm. Luật tục được phát huy tác dụng.
(còn tiếp)
Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info |