11.03.2010
Đặng Nghiêm Vạn
Văn hóa Việt Nam đa tộc người (51)

III. HỘI HỌA


Nghiên cứu về hội họa truyền thống Việt Nam, đặc biệt là hội họa trên chất liệu giấy và lụa, là một công việc hết sức công phu. Giấy và lụa là những chất liệu dễ bị hủy họai bởi thời gian và điều kiện thời tiết, nên những tác phẩm hội họa cổ Việt Nam còn lại đến ngày nay không nhiều.


Tuy vậy, qua các tài liệu thư tịch, chúng ta có thể đoán định rằng, ngay từ thời Lý, Trần, Hồ, giới cầm quyền đã bắt đầu chú ý đến hội họa. Sách Thông giám cương mục chép rằng, từ cuối đời Trần, các tranh có đề tài lịch sử như: Chu Công giúp Thành Vương, Hoắc Quang giúp Chiêu Đế, Gia Cát Lượng giúp Hậu chúa, Tô Hiến Thành giúp Lý Cao Tông gọi là Tứ phụ đồ, đã được các họa sỹ triều đình thể hiện trên chất liệu giấy, với một trình độ nghệ thuật cao([1]). Đến năm 1396, Hồ Quý Ly lại sai khắc in tiền giấy có hình rong, mây, sóng, rùa, lân, phượng, rồng với số lượng lớn, kỹ thuật vẽ và in tinh tế, chính xác để tránh làm tiền giả. Tiếc rằng những tác phẩm đó không còn nữa.


Phần lớn những tác phẩm hội họa còn giữ được cho đến hiện nay đều được vẽ từ thời Hậu Lê, tiêu biểu là hai bức tranh chân dung của Nguyễn Trãi và Phùng Khắc Khoan. Cả hai tác phẩm đều có một trình độ nghệ thuật tương đối cao, màu sắc đẹp nhưng bị gò bó về công thức. Dường như họa sĩ vẽ tranh để thờ chứ không phải để thể hiện nhân vật trong một khoảnh khắc nhất định. Ngoài ra còn có bộ tranh Thập điện và tranh Sùng bái Phật ở Hòa Giai (Hoè Nhai) cũng được vẽ từ thời Lê, thể hiện rõ quan niệm Phật giáo.








 





Có thể thấy các tác phẩm hội họa Việt Nam phần lớn mang màu sắc tôn giáo. Đây cũng là đặc điểm chủ đạo đầu tiên chi phối nghệ thuật hội họa Việt Nam. Những bức tranh tôn giáo được lưu giữ trong các đền chùa của người Việt và trong các nghi lễ của các dân tộc ở miền núi nước ta đều thể hiện một tư duy và trình độ nghệ thuật đặc sắc.


Ở người Việt, tranh thờ là chủ đề phổ biến nhất trong các dòng tranh khắc gỗ đen trắng và in màu còn lại đến ngày nay, đó là tranh Đông Hồ (Bắc Ninh), tranh Kim Hoàng (Hà Tây) và đặc biệt là tranh Hàng Trống (Hà Nội). Các tranh thờ đều thể hiện sự pha trộn giữa Đạo giáo, Phật giáo với tín ngưỡng bản địa của người Việt. Ảnh hưởng đậm nét trong hệ thống tranh thờ các thánh mẫu của Việt Nam có tranh vẽ tứ vị thánh Mẫu. Để cân bằng âm dương, với ý nghĩa tương sinh tương hỗ làm cho muôn vật phát triển như quy luật của đất trời, người Việt còn sáng tạo ra tranh thờ các đức vua cha thể hiện nam tính, dương tính trong tín ngưỡng thờ chư vị thánh mẫu của mình. Các nhân vật trên có thể được vẽ riêng, nhưng các nghệ nhân Hàng Trống thường đặt các bức tranh vẽ chung cả 4 vị thánh mẫu cùng 4 đức vua cha trong một bức tranh lớn gọi là Tứ phủ Công đồng. Ngoài Tứ phủ Công đồng còn có tranh thờ chư vị Thánh mẫu như: tranh ngũ hổ, độc hổ, ông Hoàng cưỡi cá, ông Hoàng cầm quân trấn giữ các miền khác nhau.


Tranh ngũ hổ thờ Sơn thần trấn giữ đông, tây, nam, bắc và trung ương chính diện.


Tranh độc hổ thường có tranh hổ trắng trấn trị phương Đông và tranh hổ đen trấn trị phương Tây.


Tranh ông Hoàng cưỡi cá, ông Hoàng cưỡi lốt thờ các vị cai quản vùng sông nước.


Tranh ông Hoàng cưỡi ngựa cầm quân thờ các vị thần cai quản miền đất đai, rừng núi.


Những bức tranh nói trên là biểu tượng cho các vị nhiên thần cai quản trời, đất, núi, sông. Nghệ nhân Hàng Trống đã sử dụng màu sắc trên trang phục để phân biệt chức danh, chức vị của các vị nhân thần trong tranh. Ví dụ như: màu xanh thể hiện miền trời, màu đỏ thể hiện miền đất, màu trắng thể hiện miền sông nước, màu đen thể hiện miền rừng núi, màu vàng thể hiện trung ương chính diện.


Nghệ thuật nhân cách hóa và thủ pháp ước lệ hòa quyện với màu sắc tự nhiên của tranh thờ Hàng Trống đã thành công trong việc khắc họa hình tượng các vị nhiên thần vừa cao quý, vừa gần gũi với con người. Bởi vậy những bức tranh thờ không chỉ được treo trong những phủ điện uy nghiêm mà còn được sử dụng như một vật trang hoàng trong đời sống thường ngày.


Cứ vào dịp lễ tết hằng năm, ngôi nhà của người Việt lại bừng sáng với những sắc màu ấm áp trên tranh Đông Hồ và tranh Kim Hoàng. Kỹ thuật in cắt nét rành mạch, dứt khoát và kỹ thuật in đồ thô ráp, mộc mạc đã thổi hồn vào những mảng màu và trang giấy, khiến cho những hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam trong tranh sinh họat và tranh chúc tụng trang trí, hay những điển tích được truyền lại qua tranh tích truyện lịch sử trở nên sống động hơn bao giờ hết. Dường như đằng sau mỗi bức tranh đều ẩn chứa cả một thế giới tinh thần phong phú của
lớp người bình dân. Bởi vậy, hiểu được tranh khắc gỗ truyền thống, tức là đã hiểu được một phần sâu thẳm trong tâm hồn của người Việt.


So với những tranh khắc gỗ đương thời, có thể coi tranh Đông Hồ là dòng tranh xuất hiện sớm nhất và cũng là dòng tranh có sức sống lâu bền nhất.











 




Làng tranh Đông Hồ, trước vốn được gọi là làng Đông Mái hay ấp Kiêu Mại, nằm gần sông Thiên Đức, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh. Nghề in tranh ở Đông Hồ đã có cách đây từ 4 thế kỷ, với dòng họ Nguyễn Đăng (gốc ở Thanh Hóa) tham gia làm tranh. Xưa kia, cứ đến dịp tháng 3, 4 âm lịch hằng năm là thợ tranh trong làng đã rục rịch chuẩn bị cho mùa tranh tết năm sau. Các công việc như khắc ván in nét và khắc gỗ in màu, tập in tranh cho


thành thạo để đến tháng 10 âm lịch, làng đã có tranh bán cho chợ Tết ở các vùng lân cận, thậm chí vào tận Thanh Hóa, Nghệ An.


Cho đến ngày nay, chúng ta vẫn còn được chiêm ngưỡng những bức tranh Đông Hồ "gà lợn nét tươi trong", phần lớn là nhờ những cố gắng thầm lặng trong việc giữ gìn nghề truyền thống của các thế hệ nghệ nhân Đông Hồ. Song có lẽ, tranh Đông Hồ vẫn còn bởi vẻ đẹp giản dị của nó vẫn sống trong tâm thức người Việt. Vẻ đẹp đó là sự hòa quyện của đề tài, của chất liệu, của màu sắc và của kỹ thuật làm tranh, nhưng trên hết, đó là cái hồn dân tộc được truyền tải qua những bức tranh – những thông điệp của Đông Hồ.


Đề tài trong các bức tranh Đông Hồ giống như một sự trải nghiệm hồn nhiên của những nghệ nhân xưa. Người nghệ sĩ sống trong dân gian, vẽ những gì họ thấy và cả những gì họ muốn. Những điều họ thấy là những cảnh sinh họat làng xóm, cảnh những người dân quê trên đồng ruộng và cảnh quây quần mỗi gia đình sau một ngày lao động vất vả... Những điều họ muốn là sự may mắn trong cuộc sống, trong công việc, sự sung túc trong gia đình và sự ổn định trong xã hội. Đâu đó những bóng dáng con gà, con lợn trong Gà đàn, Lợn đàn, Lợn ăn cây dáy hay Gà thư hùng, Đại cát nghinh xuân hay đôi trai gái trong Hứng dừa phảng phất tín ngưỡng phồn thực về một cuộc sống gia đình hòa hợp, con cháu đông đúc, công việc chăn nuôi phát triển. Đâu đó trong những hình ảnh ngộ nghĩnh của Thầy đồ Cóc, Đánh ghen ẩn giấu nụ cười ý nhị của những người nông dân trước những thói hư tật xấu. Tranh Đông Hồ không chỉ mang giá trị thẩm mỹ đơn thuần, nó còn chứa đựng trong mình một giá trị nhận thức sâu sắc, giúp chúng ta tiếp cận và hiểu văn hóa của chính chúng ta.


Vẻ đẹp mộc mạc, hồn hậu của tranh Đông Hồ còn được thể hiện qua cách dùng chất liệu và màu sắc tự nhiên, một điểm phân biệt tranh Đông Hồ với tranh Hàng Trống. Chất liệu để in tranh Đông Hồ là giấy dó hoặc giấy vỏ dâu có quét một lượt chất điệp làm từ vỏ sò nghiền nát hòa tan với nước hồ loãng, với ba gam màu chính là trắng điệp, vàng chanh và đỏ cam. Trên nền giấy điệp lấp lánh nổi bật những sắc màu được chế từ tự nhiên như màu vàng của hạt dành dành hoặc hoa hoè, màu lam của lá chàm, màu xanh của rỉ đồng, màu đỏ của gấc, màu nâu của đá sỏi, màu đen của rơm cói... Khi in, nghệ nhân sử dụng bản khắc gỗ: bản in nét và bản in màu. Một tờ tranh có bao nhiêu màu thì có bấy nhiêu lần in vì mỗi lần chỉ in được một màu. In màu xong cuối cùng mới in đến ván đen viền những mảng màu. Khâu cuối cùng này được gọi là "in cắt nét" và thường do những nghệ nhân có tay nghề cao trong làng đảm nhiệm.


Nếu như tranh Đông Hồ được tiêu thụ trên một địa bàn rộng từ Kinh Bắc vào tận Thanh Hóa, Nghệ An thì tranh Kim Hoàng chỉ được biết đến ở vùng cửa ngõ phía tây của Thăng Long – Hà Nội. Làng Kim Hoàng, nay thuộc xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây, đã từng là cái nôi của một dòng tranh khắc gỗ nổi tiếng. Nhưng cùng với thời gian, dòng tranh Kim Hoàng đã mai một dần, đến nay chỉ còn giữ lại được hai bức - tranh Gà và tranh Lợn. Tranh Kim Hoàng chỉ khác tranh Đông Hồ ở kỹ thuật in tranh. Nghệ nhân Kim Hoàng chỉ dùng ván in nét để in đen viền, sau đó tô màu bằng tay. Điểm đặc biệt của tranh Kim Hoàng là sau khi tô màu, nghệ nhân lại dùng ván in nét để in chồng lên nét in đầu, gọi là "in đồ". Kỹ thuật in đồ này thể hiện rất rõ trong hai bức tranh nguyên bản của dòng tranh Kim Hoàng.








 


 


 


 


 


 


 


 


 





Cũng như người Việt, tín ngưỡng đa thần, tư duy hồn linh giáo (animisme) và phồn thực còn được giữ một cách đậm đà trong
các phong tục, tập quán, lễ nghi của các tộc người thiểu số ở miền núi, thể hiện trong đời sống. Theo Phan Ngọc Khuê([2]), nhân vật trong tranh thờ của các tộc người miền núi nước ta chủ yếu tập trung vào:


Các vị thần bảo vệ làng bản, đất mường;


Các vị thần bảo hộ mùa màng,
gia súc;


Các vị thần bảo vệ hạnh phúc gia đình, sinh đẻ, ốm đau;


Các vị thần bảo vệ linh hồn thể hiện trong tang lễ.








 


 


 


 


 


 


 


 


 


 





Trong hệ thống tranh thờ Đạo giáo của các tộc người ở Việt Nam như Tày, Nùng, Sán Chay, Sán Dìu và Dao đều cho thấy ảnh hưởng của loại tranh thờ Đạo giáo và các thần thánh khác nói chung tương tự các tộc người thiểu số ở khu tự trị Choang (Nam Trung Quốc) và mang dấu ấn thời gian khá rõ nét là thời nhà Thanh. Qua quá trình lịch sử, các tranh thờ thần đã được dân tộc hóa cho phù hợp với đời sống tinh thần, tín ngưỡng của các tộc người thiểu số ở Việt Nam. Chẳng hạn như toàn bộ tranh thờ của người Sán Chay là tranh tôn thờ các vị tổ nghề như: Thần Nông (tổ nghề nông), Địa trạch (tổ nghề chăn nuôi), Tứ Mục Tiên (còn gọi là Thương Hiệt, người tạo ra chữ Hán), Phục Dược Bà, Phật Dược Tiên, Trị Bệnh Công Tào (nghề thuốc), Tam Mã phu nhân (tổ nghề đi biển)... Trong tranh thờ của các tộc người Tày, Nùng, Cao Lan, có một bức tranh thờ nữ thần mang tên Nam Đường, Nam Cung hay Cầu Hoa, Nam Đường Hoa tiên thánh mẫu. Họ tin rằng cặp vợ chồng nào chưa có con thì cầu xin mẹ Hoa hay Mẻ Bióoc để mẹ ban cho hoa vàng (sinh con trai) hay hoa bạc (sinh con gái).


Tranh của tộc người Sán Dìu cũng mang đậm dấu ấn thời đại Minh Thanh, nhưng một số tranh còn mang tên các thần linh có nguồn gốc Phật giáo như Phật Tiên Bình.


Trong tranh thờ của người Dao vẫn còn lưu lại những bức vẽ về các thần linh của huyền thoại cổ đại Trung Hoa. Những tranh thờ này chỉ được thờ, được dùng trong tộc người Dao như tranh thờ hoàng đế Hiên Viên, thủy tổ của tộc người Trung Hoa, Đại Vũ nhà Hạ, Thánh Chúa và các thần bộ hạ của ông. Đáng chú ý là chỉ có trong tranh thờ của người Dao mới có tranh thờ Bàn Hộ tức Bàn Vương, với tên gọi là Ngũ Kỳ Binh Mã. Các nghệ nhân Việt Nam khi vẽ bức tranh này, theo yêu cầu của người Dao, đặt tên tranh là Thuyền Quan và Cưỡi Cá nếu vẽ thành hai bức. Các tranh thờ khác đều cho thấy ý thức Dao hóa, thể hiện qua việc các nhân vật trên tranh đều mặc y phục nam nữ của tộc người Dao và các cảnh sinh họat lễ nghi của tộc người Dao.


Vậy là hội họa truyền thống của Việt Nam đi theo con đường đặc biệt so với các bộ môn nghệ thuật khác. Lấy cảm hứng chủ yếu từ tôn giáo, lại được sáng tạo bởi bàn tay của những nghệ sỹ đầy tài năng, đó chính là những điều làm nên sức hấp dẫn riêng của hội họa Việt Nam. Như một mạch ngầm xuyên thời gian, kho tàng hội họa Việt Nam vẫn luôn ẩn tàng những giá trị bất tận, cần được giữ gìn và lưu truyền cho muôn đời sau.


Với việc mở Trường Mỹ thuật Đông Dương, một đội ngũ thầy trò được đào tạo theo lối phương Tây, tuy vậy vẫn tìm cách khai thác vốn cổ của hội họa dân tộc. Nhờ công của Trần Quang Trầm, Phó Thành cùng với một số họa sỹ khác, tranh sơn mài ra đời, là một sáng tạo lớn của hội họa Việt Nam, khai thác từ việc sơn mài chỉ phục vụ cho việc cảm thuyền, làm nền cho câu đối và khảm khắc các đồ mỹ nghệ. Những lớp nghệ sỹ đi trước như Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Khang, Lê Quốc Lộc, Lưu Công Nhân... đã sáng tạo ra những bức tranh sơn mài nổi tiếng không chỉ trong nước mà còn trên cả thế giới. Tranh sơn mài cùng với việc khảm xà cừ là nét độc đáo bắt nguồn từ Việt Nam sau được các họa sỹ nước ngoài học tập và sáng tạo thêm.


(còn tiếp)


Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.


 







([1]) Nguyễn Phi Hoành: Mỹ thuật Việt Nam, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1974, tr.122.




([2]) Phan Ngọc Khuê: Tranh đạo giáo ở Bắc Việt Nam, NXB Mỹ thuật, Hà Nội, 2001.



trieuxuan.info