Những năm trước công nguyên, nước ta là nước Văn Lang. Đó là thời đại Hùng Vương cách ta ngày nay bốn ngàn năm. Ngành khảo cổ học qua những di tích được phát hiện và nghiên cứu, cho ta biết có bốn giai đoạn phát triển kế tiếp nhau.
- Giai đoạn Phùng Nguyên
- Giai đoạn Đồng Đậu
- Giai đoạn Gò Mun
- Giai đoạn Đông Sơn.
Vào thời kỳ đó, có thể chúng ta cũng đã có những thủ đô, tùy theo hoàn cảnh.
- Thời đại Hùng Vương, thủ đô là ở vùng đất tổ bây giờ, tại nơi có đền vua Hùng, trên sườn núi Nghĩa Lĩnh (Phú Thọ).
- Thời Thục An Dương Vương, thủ đô là ở Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội).
Thành Cổ Loa đã là một trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế và văn hóa.
- Thời kỳ Triệu Đà: nước Âu Lạc sáp nhập vào với nước Nam Việt, thủ đô lại là Phiên Ngung (Quảng Châu, Trung Quốc ngày nay).
- Tiếp đó, nước ta bị lệ thuộc vào Trung Quốc, chia làm hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Nhà Hán thống trị, đất nước ta trở thành quận huyện. Đó là thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất.
- Hai Bà Trưng đánh đuổi quan quân cai trị nhà Hán, làm chủ được 65 thành ấp ở Lĩnh Nam, đóng đô ở Mê Linh (nay thuộc Hà Nội).
- Quân Hán lại sang xâm lược. Bà Trưng thất bại. Ta ở vào thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai.
- Bà Triệu khởi nghĩa chống quân Ngô, nhưng bị thất bại.
- Đến năm 542, Lý Bí (cũng gọi là Lý Bôn) đánh đuổi được nhà Lương, tuyên bố độc lập.
Lý Bí xưng là Lý Nam đế, lấy tên nước là Vạn Xuân, đặt kinh đô nơi có chùa Khai Quốc, bên bờ sông Hồng, vùng Yên Phụ (Hà Nội) ngày nay.
Lý Nam đế mất, Triệu Quang Phục thay nhưng bị Lý Phật Tử cướp quyền. Phật Tử xưng là Hậu Lý Nam đế, đóng đô ở Ô Diên.
- Nhà Tùy sang đánh chiếm nước Vạn Xuân. Lý Phật Tử đầu hàng, nước ta lại bị đô hộ. Đó là thời kỳ Bắc thuộc lần thứ ba.
Nhà Đường thay nhà Tùy thống trị nước ta. Ta vẫn bị thống thuộc, vẫn là quận Giao Chỉ. Trị sở Giao Chỉ trước ở Long Biên, sau chuyển về Tống Bình (Hà Nội bây giờ).
- Từ thế kỷ VIII, có một số cuộc khởi nghĩa.
Mai Hắc Đế nổi lên, xưng vua, đặt đô thành ở Vạn An (Nam Đàn, Nghệ An ngày nay), nhưng đến năm 722 thì vua Đen mất.
- Năm 767, Phùng Hưng đứng lên khởi nghĩa, diệt quân nhà Đường. Viên quan nhà Đường là Cao Chính Bình, sợ mà chết. Phùng Hưng chiếm thành Tống Bình. Dân chúng tôn là Bố Cái Đại Vương. Khi ông mất, con là Phùng An không chống cự nổi nhà Đường phải đầu hàng viên thái thú Triệu Xương.
- Từ 905, Khúc Thừa Dụ (Hải Dương) nổi lên thừa cơ đuổi được bọn quân lính nhà Đường và xưng là Tiết độ sứ Giao Châu. Trụ sở Giao Châu lúc này là thành Đại La.
Con trai ông là Khúc Hạo có tài tổ chức được các cấp hành chính: lộ, phủ, châu, giáp và ổn định Giao Châu. Ông giữ được cuộc trị an và khiến cho đất nước sang thời đại có tổ chức ổn định.
Nhưng khi ông mất, con ông là Khúc Thừa Mỹ không giữ được nước. Quân Nam Hán sang chiếm. Khúc Thừa Mỹ bị bắt. Quân Nam Hán chiếm thành Đại La.
- Sang năm 931, một tướng của họ Khúc là Dương Đình Nghệ (quê ở Thanh Hóa) xây dựng và củng cố binh lực kéo ra chiếm lại thành Đại La. Ông cũng xưng là Tiết độ sứ.
Nhưng một viên tướng của ông là Kiều Công Tiễn đã phản bội, dùng mẹo lừa giết chết ông để giành chức Tiết độ sứ. Từ Thanh Hóa, con rể của Dương Đình Nghệ là Ngô Quyền kéo quân ra, giết chết Kiều Công Tiễn, đoạt lấy chính quyền. Bọn xâm lược Nam Hán cho một thái tử là Hoằng Thao sang để cứu Kiều Công Tiễn. Nhưng tên này đã chết. Hoằng Thao bị giết trong trận thủy chiến ở sông Bạch Đằng do Ngô Quyền bố trí. Đây là chiến thắng Bạch Đằng lần thứ nhất, năm 938.
* *
*
Từ 939, Ngô Quyền đại thắng đã xưng vương đóng đô ở Cổ Loa. Ông tổ chức một vương triều có nề nếp hẳn hoi, nắm vững cuộc trị an. Đất nước bắt đầu thịnh vượng thì Ngô Vương mất sớm (944). Em vợ ông là Dương Tam Kha cướp ngôi Quyền. Hai người con của Ngô Quyền là Ngô Xương Văn, Ngô Xương Ngập lại xung đột nhau. Đất nước trở nên suy yếu. Có đến 12 thủ lĩnh mỗi người nổi lên hùng cứ một nơi, sử gọi là thời kỳ Thập nhị sứ quân. Không còn triều đình chính thống nên cũng không biết nơi nào là kinh đô cả.
Phải cho đến năm 968, Đinh Bộ Lĩnh dẹp được 12 sứ quân thống nhất đất nước, lên ngôi xưng là Đại Thắng Minh hoàng đế. Ông đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (tỉnh Ninh Bình là quê của ông).
Nhưng đến năm 979, ông bị Đỗ Thích giết chết, cùng với con trai của ông là Đinh Liễn. Ông ở ngôi được 12 năm. Trong thời gian ít ỏi, nhưng ông đã được tôn vinh làm vị vua mở triều đại chính thống đầu tiên của nước nhà, đem giang san về một mối.
Kinh đô Hoa Lư nằm gọn trong địa phận xã Trường Yên ngày nay. Có thành ngoại và thành nội. Phía đông bắc có núi Cột Cờ. Phía đông nam có Ghềnh Tháp, sát với sông Sào Khê và động Am Tiên. Đến đời Lê Hoàn, kinh đô Hoa Lư đã được hoàn chỉnh. Sách Đại Việt sử ký toàn thư, của Ngô Sĩ Liên ghi rõ: “Năm Giáp Thân (984) dựng nhiều cung điện, làm điện Bách Bảo Thiền tuế ở núi Đại Vân, cột điện dát vàng bạc, làm nơi coi chầu, và:
- Bên Đông là điện Phong Lan, bên Tây là điện Tử Hoa
- Bên tả là điện Bồng Lai, bên hữu là điện Cực Lạc
Lại còn có lầu Đại Vân, điện Trường Xuân làm nơi vua ngủ, cạnh đó còn dựng điện Long Lộc, lợp bằng ngói bạc v.v... Tóm lại có 8 công trình được xây dựng từ 984. Cuối thế kỷ X, kinh đô Hoa Lư đã có bề thế lắm.
* *
*
Con nhỏ của Đinh Bộ Lĩnh là Đinh Toàn được đưa lên nối ngôi, nhưng quá bé bỏng, không cáng đáng được nhiệm vụ. Vị tướng tài của Đinh Bộ Lĩnh đang làm quan Thập đạo tướng quân là Lê Hoàn được cử làm phó vương để giúp ấu chúa. Một số triều thần không phục đã chống lại Lê Hoàn (như Đinh Điền, Nguyễn Bặc) đều bị Lê Hoàn dẹp hết.
Thấy tình hình rối loạn, nước ngoài muốn nhân cơ hội để xâm chiếm nước ta. Ngô Nhật Khánh tuy đã được Đinh Tiên Hoàng sử dụng, nhưng thấy vua Đinh chết, đã chạy sang Chiêm Thành xui nước này ra đánh chiếm Hoa Lư. Quân Chiêm theo Nhật Khánh ra đến cửa biển Đại Ác thì bị bão đánh chìm. Phía Nam cũng tạm yên.
Ở phía Bắc, nhà Tống thấy nước Nam có loạn, ông vua Vạn Thắng thì lại chết rồi. Họ nhân cơ hội này, cử đại quân chia làm hai đằng sang xâm lược Việt Nam. Triều đình nước ta lo lắng. Vợ Đinh Tiên Hoàng là bà Dương hậu trao quyền cho Lê Hoàn tổ chức kháng chiến. Nhưng các tướng lĩnh, đứng đầu là Phạm Cự Lượng đã đề nghị suy tôn Lê Hoàn lên làm vua.
Bà Dương hậu thấy vậy, liền sai lấy áo hoàng bào khoác lên mình Lê Hoàn, trao ngôi vua cho ông. (Sau này bà lại tái giá với Lê Hoàn). Lê Hoàn cầm lấy quân quyền và binh quyền, đã chiến thắng rực rỡ, phá tan quân Tống do Lưu Trừng chỉ huy ở sông Bạch Đằng (chiến thắng lần 2 trong lịch sử), giết tướng giặc là Hầu Nhân Bảo, bắt sống Triệu Phụng Huân và Quách Quân Biện, đuổi Trần Khâm Tộ chạy dài. Vua Tống phải ra lệnh bãi binh.
Lê Hoàn lên ngôi năm 980 và mất năm 1005.
* *
*
Lê Hoàn, tức vua Lê Đại Hành mất. Các con của ông tranh nhau ngôi vua, rồi Lê Long Đĩnh thắng. Ông này đã giết anh, đánh dẹp nhiều nơi, nhưng lại có nhiều khuyết điểm. Ông là con người độc ác, hoang dâm, bị bệnh đến nỗi ra triều đường cũng phải nằm mà coi sóc công việc. Vì vậy người ta gọi ông là Lê Ngọa triều. Ông vẫn lấy Hoa Lư làm kinh đô của đất nước.
Dân chúng không phục, các quan trong triều thì thất vọng về ông. Người ta mong có một sự đổi thay để giữ vững đất nước. Giới thiền tăng, lúc bấy giờ còn uy tín nhất trong xã hội đã cùng với những vị quan có tâm huyết, bàn bạc cùng nhau. Họ truyền đi những bài ca, những câu văn mang tính chất như lời sấm vĩ để bóng gió báo trước sự cáo chung của nhà Tiền Lê. Phía nhà chùa thì có những vị đại sư như Vạn Hạnh. Phía quan lại thì có những đại thần như Đào Cam Mộc. Họ kín đáo vận động cho một vị quan thân vệ phải đồng tình. Quan thân vệ ấy là Lý Công Uẩn.
Lý Công Uẩn sinh ngày 8 tháng 3 năm Giáp Tuất (974), người hương Cổ Pháp (nay là phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Sử sách không ghi gì về người bố của ông, mà chỉ nói bà mẹ được gặp thần nhân mới sinh ra Lý Công Uẩn. Ông được làm con nuôi nhà sư Lý Khánh Văn, được học với nhà sư Vạn Hạnh, rồi theo quân ngũ dưới thời Lê Đại Hành. Đến đời Lê Ngọa Triều, ông đã làm đến chức Điện tiền chỉ huy sứ. Người đồng triều với ông là Đào Cam Mộc đã cùng với sư Vạn Hạnh vận động quan lại trong triều nhất trí tôn ông lên làm vua thay thế Lê Ngọa Triều.
Năm 1009, ông lên ngôi vua thì tháng bảy mùa thu năm Canh Tuất (1010), ông cho dời kinh đô ra Đại La thành. Thuyền ngự đến bên thành, có con rồng hiện ra. Đặt tên Thăng Long cũng đúng vào năm dời đô, năm mở đầu triều đại nhà Lý (Thuận Thiên thứ nhất).
Vũ Ngọc Khánh
Niên giám văn hiến Nghìn năm Thăng Long
thanglonghanoi.gov.vn
|