05.11.2010
Lương Văn Hồng
Lãng du trong các nền văn hóa (5-2): Hy Lạp

  Cũng như Khổng Tử, Socrates (469-399)  không để lại tác phẩm nào. Người học trò Plato của ông đã chuyển tải ý tưởng của thày mình bằng 56 quyển sách đề cập tới mọi vấn đề của thời cổ đại. Vì vậy Socrates  vẫn được coi là nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thế giới cổ đại. Socrates là người kiên định giữ chính kiến của mình:  ít nhất hai lần thà chết chứ không làm những điều mà ông cho là sai. Nhiệm vụ thiêng liêng của ông là kiểm tra sự thông thái bằng lối quy nạp. Ông cho rằng những cái Ác là do thiếu tri thức.


    Socrates có nhiều kẻ thù trong phái Bảo thủ, kịch gia nổi tiếng Aristophanes đã bày tỏ sự thù địch với Socrates bằng vở kịch “Những đám mây”(423 TCN). Năm 399 trước công nguyên, Socrates bị buộc tội vô thần và bị kết án tử hình. Ông thản nhiên uống thuốc độc trong nhà tù.


 


                Thế mới là Socrates


   Socrates sinh ra trong một gia đình tầng lớp dưới (trong khi đó ở thời ông, các nhà tư tưởng đều thuộc dòng thế phiệt trâm anh). Cha là thợ đẽo đá, mẹ là bà đỡ.


     Socrates cổ ngắn, đầu to hói, trán dô, mũi hếch, mắt lồi lại có cái nhìn như lườm nguýt thiên hạ (thuộc loại tướng dị dạng kỳ tài). Câu nói nổi tiếng của ông là:


-   Hãy nói ra để tôi nhìn thấy anh!  


   Ta thấy hình ảnh Socrates qua miêu tả của nhà hùng biện Antiphon:


-   Ông sống không bằng bất kỳ một tên nô lệ nào. Ông dùng thức ăn đồ uống như người nghèo, không những mặc quần áo rách rưới, mà còn mặc chỉ một bộ cho cả mùa hè lẫn mùa đông.


 


                              Hối thì đã muộn


    Socrates không có duyên với phụ nữ, mặc dù ông lấy vợ hai lần. Phải chăng vì ông sống giản dị, khinh của cải và tiện nghi!?  Ông thú nhận:


-  Cưới vợ hay không-  đằng nào cũng phải hối hận.


 


                Ai biết được, ai sẽ hơn ai 


    Socrates sống ở Athens khi thành phố này đang ở thời kỳ hoàng kim, nên các nhà khoa học, văn nghệ sĩ , sinh viên ở khắp nơi đổ về kinh đô thương mại của Hy Lạp. Những nhà giầu có từ các vùng xa xôi như  Sicile cũng gửi con đến học Socrates. Giới trẻ hết sức ngưỡng mộ Socrates, vì nhà triết học Socrates thường  đưa ra những quy tắc tổng quát về nghệ thuật sống. Điều này dẫn tới nỗi lo sợ của một số người. Khi Athens chiến đấu chống Sparte thì Alcibiade, một học trò của Socrates chạy sang hàng ngũ Sparte. Athens thất bại cay đắng liền lấy đó là cái cớ để dân kinh thành trút trách nhiệm lên đầu Socrates trong một phiên toà gồm 501 công dân, ông bị kết án tử hình vì tội:


-   Không tin ở thần thánh  đã được kinh thành  chấp nhận và “đã làm hư hỏng tuổi trẻ”.


     Ông nói lời cuối cùng trước tòa:


-   Đã tới lúc phải rời khỏi đây, tôi thì để chết, các người thì để sống, điều nào tốt hơn, không ai biết ngoài Thượng đế.


  Tên thật của Platon (427-347)  là Aristocles, có lẽ vì vóc dáng to lớn vạm vỡ nên ông có biệt danh là Platon. Ông là nhà triết học duy tâm cổ Hy Lạp. Sokrates là người thầy có ảnh hưởng quyết định đến cuộc đời Platon. Những điều giảng dạy của Sokrates  còn truyền đến ngày nay cũng là nhờ người học trò Platon. Năm 387, Plato thành lập Viện Hàn lâm Athen (có thể coi Viện này là trường Đại học tổng hợp đầu tiên ở châu Âu) và lãnh đạo viện này tới khi mất.


     Trước tác của Platon gồm 56 tập (phần lớn được viết dưới hình thức đối thoại), trong đó có các sách “Về tình yêu”, “ Sự bất diệt của linh hồn”,  “Chế độ cộng hoà”,  “Không tưởng”,  “Về bản chất Tri thức”,  Bản chất của Thế giới vật chất”v.v…


 


                  Học được gì ở nhà triết học


  Khi bạo chúa Diomici gặp nạn, có người hỏi ông học được gì ở Plato. Bạo chúa đáp:


-  Bình tĩnh, điềm nhiên  chịu đựng phong ba của số kiếp!


 


                  Điều  nhà triết học chân chính quan tâm


  Có người hỏi Plato, nhà triết học chân chính quan tâm điều  gì. Ông trả lời:


-   Nhà triết học chân chính không quan tâm tới thể xác ở chừng mực có thể lãng quên thể xác của mình, nhưng quan tâm tới tâm hồn, vì tâm hồn là bất tử và bất diệt.


           


                   Hỏi – Đáp


 


  Domici hỏi Plato:


Theo ngài, nhiệm vụ của người cầm quyền là gì?


Làm cho thần dân trở thành những người tốt.


Theo ngài, toà án công minh có tác dụng gì ?


Không đáng giá gì, vì quan tòa công minh giống như người thợ may có công việc là khâu vá chiếc áo đã bị rách.


                             Thầy sao, trò vậy


   Phương pháp đánh đổ mọi luận điểm của đối phương mà Sokrates áp dụng là Luận điểm mang tính định nghĩa. Plato hiểu sâu sắc phương pháp ấy, ông nói:


-     Chúng ta cần xem xét bản chất của lửa, nước, không khí và đất là gì trước khi Trời ra đời và trạng thái hiện nay của chúng ta là gì.


  Aristote/ Aristoteles  (384-322 tr. CN) là nhà triết học cổ Hy Lạp và là thầy dạy (từ 343 tới 334 trước công nguyên) hoàng tử con vua Philip xứ Macedon (Alexander Đại đế). Năm 335 trước công nguyên, Aristote mở trường “Lyceum” ở Athen, nơi thầy giảng bài, rồi đàm đạo với trò trong lúc đi dạo trong cánh rừng cạnh trường. Với cách làm này, vô tình Aristote  đã sáng lập ra học phái “Tiêu dao”. Lyceum trở thành một trung tâm giáo dục lớn nghiên cứu sinh học, sử học, khoa học quản lý nhà nước. Aristote đề cập tới toàn bộ tri thức của thời đại mình và làm sáng tỏ những vấn đề được giảng dạy qua các sách “Công cụ”,  “Chính trị học”,  “Đạo đức học”,  “Siêu hình học”,  “Nghệ thuệt thi ca”, “Logich học”,  “Vật lý học”,  “Lịch sử động vật”  “Về bầu trời” v.v… 


    Cùng với việc ra đi vào cõi vĩnh hằng của Aristote  thời kỳ văn minh rực rỡ nhất của Hy Lạp cũng cáo chung.


Thầy nào, trò nấy


     Thầy giáo dạy sử bực mình về một học trò lớn nhất lớp, nhưng lại  không thuộc bài. Thầy nói:


 


-   Khi Alexander Đại đế bằng tuổi em thì đã lừng danh thế giới!


     Bỗng có tiếng đáp:


-   Vì thầy dạy học ông ta là Aristoteles.


Cái mà nhà triết học suy tư


Các nhà triết học luôn đi tìm đạo làm người trong đời sống của xã hội con người. Kết quả của nó là hình thành luân lý/ đạo đức học. (Ethics / Ethik). Aristoteđã thống kê  12 đức tính  ở những trạng thái: đức độ, bất cập, thái quá. ( Đức độ là trạng thái thăng bằng. Nó còn được gọi là đức hạnh; bất cập và thái quá là hai trạng thái không thăng bằng ở con người):


      Đức độ                     Bất cập                     Thái quá


Can đảm                Hèn nhát                   Liều lĩnh


Đôn hậu                 Lãnh đạm                 Phóng đãng


Rộng lượng            Bủn xỉn                     Hoang phí


Đứng đắn               Hèn hạ                      Thô tục


Cao nhã                 Khiêm hạ                  Kiêu căng


Cầu tiến                Yếm thế                    Hãnh tiến


Dịu dàng                Lãnh cảm                 Nóng nảy


Trung thực             Dè dặt                      Khoác lác


Khôi hài                Đạo mạo                  Lố bịch


Qủang giao           Cáu kỉnh                   Quỵ lụy


Khoan hoà            Vô liêm sỉ                Rụt rè


Rạch ròi                Đa nghi                    Đố kỵ


 Aristote cho rằng:


-  Con người được sinh ra không chỉ sống để tồn tại, mà để sống một cuộc đời tốt đẹp.


Theo Aristote, đức độ là cái dung hoà giữa hai thái cực bất cập và thái quá, đức độ đòi hỏi tỉnh táo, kiềm chế, điều tiết và chừng mực, vì vậy nó là cái không phải ai cũng làm được.


 


Epicurus (341-270 tr. CN) là nhà triết học duy vật và vô thần Hy Lạp cổ đại. Epicurus  mở ở Athens một “ngôi trường” ngoài trời nổi tiếng, gọi là vườn Epicurus. Trong trường ấy, Epicurus sống chung với bạn bè và môn đệ. Trong những sáng tác của ông  thì ngày nay chỉ còn lại ba bức thư  tóm tắt học thuyết của ông về đạo đức.


Epicurus phủ nhận sự can thiệp của thần thánh   vào việc đời. Ông quan niệm: mục đích của triết học là hạnh phúc của con người, là đề cao lạc thú và tránh né khổ đau. Ông cho rằng con người phải biết sử dụng đúng đắn những lạc thú như là sự ban thưởng cho đạo lý, cho sự tu dưỡng tinh thần và sự thực hành đạo đức.


Chủ nghĩa lạc thú / khoái lạc (Hedonism) Epicurus sau đó phát triển ở Aicập, La Mã. Nó có ảnh hưởng đến nhiều nhà triết học phương tây thế kỷ XVII- XVIII, như nhà triết học duy vật Pháp P. Gassendi. Đạo đức vị lợi Anh của J. Bentham, J. S. Mill chịu nhiều ảnh hưởng của chủ nghĩa khác lạc của Epicurus.


 


               Chủ nghĩa lạc thú của Epicurus


Epicurus chia lạc thú ra làm ba lọai:


-  Lọai thứ nhất là lọai chúng ta phải đề cao; lọai thứ hai là lọai chúng ta phải thừa nhận; lọai thứ ba là lọai chúng ta phải lảng tránh.


Ông khuyên:


-  Chúng ta phải đề cao các lạc thú “tự nhiên”  và “cần thiết”.


 


 


            Hai trường phái trong chủ nghĩa khoái lạc


Trái ngược với trường phái của Epicurus là trường phái Cyrenaic của Aristippus (435-356 TCN). Trường phái khoái lạc của Aristippus đề cao việc tận  hưởng  lạc thú nhất thời như là mục đích chính yếu trong đời. Aristippus bảo:


-   Hãy ăn uống và tận hưởng lạc thú , bởi vì rồi mai đây chúng ta sẽ chết.


Epicurus cho rằng phải khôn ngoan  để phân biệt và chọn lựa những thú vui đáng hưởng thụ. Ông bảo:


-  Đa số những người tuân thủ triết lý “ăn uống và tận hưởng lạc thú, bởi vì rồi mai đây chúng ta sẽ chết” đều không chết ngay vào thời điểm “mai đây”. Họ vẫn tiếp tục sống  để hứng chịu  hậu quả tai hại của cuộc sống  sa đọa trong thú vui vô độ.


    Nhà triết học, nhà chính khách, nhà thơ Lucius  Aunacus Seneca ( 4 tr. CN – 65 s. CN) sinh năm thứ 4 trước công nguyên tại Cordoue  (Tây Ban Nha) trong một gia đình thế gia vọng tộc. Seneca học luật ở Rom. Tài hùng biện đã mang lại cho ông danh tiếng, địa vị và lợi lộc. Seneca viết nhiều khảo luận về triết học, trong số đó có  “Sự bình tĩnh của tâm hồn “; “Đời người ngắn ngủi”;   “Sự khoan hồng”;  “Về ân nghĩa”.


 


Gậy ông đập lưng ông


   Seneca là gia sư của hoàng cung , là thầy dạy của thái tử Nero. Seneca thường nói:


Các nhà triết học dù không phải luôn luôn hành động như họ nói, dẫu sao họ cũng đem lại lợi ích to lớn, vì họ đã bàn luận, họ chỉ ra các lý tưởng đạo đức.


      Hoàng đế bạo chúa  Nero sợ gặp khó khăn trong thi hành những việc tàn bạo nên mượn cớ một âm mưu phản nghịch mà ra lệnh cho Seneca được quyền chọn cách tự sát.


 


Biển – đất liền


      Seneca có tài hùng biện, nhưng ông lại sợ sóng to hío lớn ở biển. Có người bảo:


Seneca mới chỉ là nhà thông thái ở trên cạn.


Có mâu thuẫn?


      Có người hỏi Seneca:


Ông  dạy người ta coi thường của cải, tại sao ông vẫn là người giàu có ?


      Seneca thản nhiên đáp:


Nhà hiền triết không yêu quý sự giàu có, nhưng đề cao nó hơn sự nghèo khổ.


 


Epichte (50-138 s. CN) là nhà triết học La Mã, người đại diện trường phái khắc kỷ (Stoicism), tri túc (contentment) La Mã. Vốn là nô lệ được Epaphrodite giải phóng, Epictete chú tâm về đạo đức học. Đạo đức học của ông đề cao nội tâm. Theo ông, người chủ nô vẫn có thể là nô lệ cho chính những ham muốn dục vọng của bản thân mình, còn người nô lệ vẫn có thể là người tự do, vì có sự độc lập tinh thần của mình. Ông cho rằng, không phải cái thiện  và cái ác nằm trong các sự vật, mà là thái độ của chúng ta đối với chúng, do đó chính hạnh phúc phụ thuộc vào ý chí của chúng ta.


Epictete không viết sách, học trò của ông Arrianus cho xuất bản những ghi chép  lời thầy giảng thành 8 cuốn gồm  “Những bài văn đả kích”; 12 cuốn gồm “Những bài thuyết giáo”.


 


                        Thế nào là hạnh phúc


Theo Epichtete điều giá trị nhất trong cuộc sống là tri túc (biết đủ). Ông cho rằng:


-  Hạnh phúc là có một đời sống lặng lẽ, bình yên và điềm nhiên. – sự bình an tâm hồn.


Ông cho rằng, muốn làm chủ bản thân, chế ngự những ham muốn, người ta phải:


-  biết tự kiềm chế (self-control)  hay biết tự chủ (self-mastery).


 


Saint Thomas Aquinas (1225-1274)  là nhà triết học, thần học người Italia thời Trung cổ. Ông gia nhập dòng tu Đa Minh năm 1243. Tư tưởng của Aistotle  được chấp nhận trong cộng đồng Thiên Chúa giáo Tây Âu là nhờ công luận giải các công trình của Aristotle của Aquinas. Ông phân định rạch ròi giữa hai con đường, một nằm trong phạm vi khai phá bởi lý trí của con người và một là những gì chỉ có thể phát lộ nhờ thiên khải. Hai cuốn sách mang lại cho Aquinas danh tiếng là “Về Chân lý của niềm tin Thiên Chúa giáo chống lại những người ngọai đạo” (Summa  Contra Gentilles); “Tổng luận về Thần học” (Summa Theologiae). Ông được liệt vào hàng thánh năm 1323. Năm 1880, ông được chính thức công nhận là vị thánh bảo hộ các trường Công giáo.


                    


                 Phải cầm cân nảy mực cho đúng


Theo Thomas Aquinas thì bạo lực là điều đáng ghê tởm, chỉ nên sử dụng  như biện pháp cuối cùng để chống lại Cái Xấu và phải được giới hạn ở mức cần thiết,  ông nói:


- Mối quan hệ đúng mực giữa năng lực người dân và luật pháp  là cơ sở xác lập  trị an  mà không cần sử dụng đến bạo lực.


Ông khuyên:


-  Không bao giờ chấp nhận và tuân thủ các điều luật vô đạo (những điều luật bất công). Cách phản ứng của mỗi cá nhân chính Thomas Aquinas quan niệm:


-   Suy luận lôgíc  là cơ sở thích hợp  để đánh giá phẩm hạnh của con người, nh là thước đo lương tâm và đạo đức của bản thân.


 


      Mệnh lệnh của trái tim –mệnh lệnh của lương tâm


Thomas Aquinas quan niệm:


-   Suy luận lôgíc  là cơ sở thích hợp  để đánh giá phẩm hạnh của con người, nhưng chính quy luật tự nhiên  định hình nên khuôn mẫu suy luận đó.


Ông bảo:


-  Con người không nhận thức về quy luật tự nhiên thông qua con đường suy luận, mà thông qua sự trực nhận.


Ông cho rằng:


-  Con người hành thiện, vì tiếng gọi, mệnh lệnh hay nguyên tắc của lương tâm.       


 


    Giordano Bruno (1548-1600)  là nhà triết học Italia. Tuy là giáo sĩ dòng Saint – Dominique, nhưng ông phê phán vũ trụ học của Aristole, ông vượt lý thuyết của Copernicus. Theo ông, vũ trụ là vô tận và thế giới rất đa dạng. Ông khẳng định sự vĩnh cửu và sự thống nhất của vật chất.


    Những tác phẩm nổi tiếng của ông là  “Bàn về nguyên nhân, nguyên lý và sự thống nhất”,   “Bàn về sự vô tận của vũ trụ và các thế giới”,  “Khai trừ con vật đắc thắng”,  “Những cơn giận anh hùng”. Triết học của Bruno bị coi là tà giáo. Ông bị kết án tử hình và bị thiêu sống năm 1600 ở Rom.


 


Không có niềm tin


Bruno bị coi là “con người không có niềm tin”. Còn Bruno thì tin tưởng:


-   Sách của tôi sẽ còn sống tới khi trái đất còn quay bề mặt sống động của mình vào con mắt vĩnh cửu của những vì sao đang chiếu sáng.


Phương pháp lập hệ thống thế giới quan của Bruno


Bruno trình bày phương pháp làm việc khoa học của mình như sau:


Tôi không nói rằng, Platon là kẻ ngu dốt. Aristoles là con lừa, còn môn đệ của họ là những kẻ ngu xuẩn, dốt nát và cuồng tín. Nhưng tôi không muốn tin họ mà thiếu chứng minh, cũng không muốn tán thành những luận điểm của họ mà tính không xác thực đã được chứng minh rõ ràng và minh bạch.


 


LỜI BÌNH: Theo thời gian và sự phát triển của xã hội Hy Lạp hình thành một lớp người tổng kết trải nghiệm của lớp người đi trước - những nhà thông thái- rồi đưa ra những tổng kết có tính quy luật, lý luận. Đó là những nhà triết học Platon, Pyrrhon,  Bruno, Seneca, Aristote…Các nhà triết học quan sát,rồi đưa ra những nhận xét tổng kết, những quy luật về Lạc thú trần gian; về Cái Đẹp; về Thiện –Ác; về Tình (thương)  yêu; về Sám hối, về Phục thiện. Ở phương Đông cũng như phương Tây đều có những nhận định tương tự như nhau, nhưng  cách diễn đạt thì mỗi nơi có cách diễn đạt riêng (như người thuận tay phải, người thuận tay trái).


 


Đại vũ trụ- tiểu vũ trụ


Phương Đông có lý luận thiên nhân cảm ứng, về hiện tượng này, Bruno nói:


-   Vạn vật đều nằm trong vũ trụ và vũ trụ trong vạn vật. Chúng ta- trong nó, nó – trong chúng ta.


Đối lập:  âm > < dương


Mặc dù cách diễn đạt khác nhau, nhưng các nhà khoa học của phương Đông và phương Tây đều thống nhất với câu nói của Bruno:


Các thế giới được cấu thành từ những mặt đối lập có một số mặt đối lập sống và được nuôi dưỡng bằng các mặt đối lập khác. (Phương Đông có học thuyết âm dương (trong âm có dương, trong dương có âm).


Luật pháp, pháp lý, pháp chế


Thomas Aquinas  cho rằng, luật pháp phải được cụ thể hóa dưới dạng quy định pháp lý, phải trở thành một nghĩa vụ luật pháp, là cơ sở  cưỡng chế của xã hội (pháp chế). Ông định nghĩa:


-   Luật pháp là luật được định hình dưới dạng văn bản, thể chế hóa lẽ phải bằng lý luận thực tiễn.


Ý chí giúp vượt được khổ đau


Epictete đề cao quan điểm:


- Ý chí của con người phải giữ được trong tình trạng tự chủ và không thể khuất phục.


Ông khuyên:


-  Chúng ta phải học cách sống với nỗi thất vọng bất khả kháng, học cách chấp nhận mọi sự mất mát không thể vãn hồi và học cách chịu đựng sao cho nỗi khổ đau vơi dần và phai nhoà đi.


Rồi ông bảo:


-  Nên   thành tâm đón nhận mọi khó khăn trắc trở trong cuộc sống.


Vô bổ không ?


     Có người nói, các nhà triết học nghiên cứu biết bao thứ vô bổ. Seneca  giáo huấn:


-     Triết học chấn chỉnh cuộc sống, chỉ đạo hành động, chỉ ra cần làm gì và không nên làm gì.  Mỗi giờ lại có một sự kiện diễn ra, nó đòi hỏi phải có lời khuyên. Việc này chỉ có triết học mới có thể đưa ra được.


 


Cam chịu đau khổ- chiến thắng nỗi sợ cái chết


Theo Epicurus, có những khoái cảm cần được lọai trừ hoàn toàn, nhưng  có những kinh nghiệm đau khổ lại cần cam chịu vì lợi ích tương lai. Ví dụ:


-   Một bệnh nhân cần uống thuốc đắng , hoặc trải qua một cuộc phẫu thuật, nếu đó là cần thiết cho cuộc sống tương lai.


Một trong những sợ hãi thường thấy là Nỗi sợ hãi cái chết. Epicurus nhận định:


-  Chiến thắng được nỗi sợ cái chết sẽ khiến cuộc sống an lạc và “đáng sống” hơn.


 


Hạnh phúc


Có nhiều định nghĩa khác nhau về hạnh phúc. Theo thuyết Tự phát triển nhận thức  (Self-Realizationism) của Aristote thì:


-  Hạnh phúc là có cuộc sống tốt đẹp, là phát triển toàn mãn năng lực, thiên tư và nhân cách của một con người.


Tôi có nghe đâu


  Một người gặp Aristote ở ngoài đường. Người này kể đủ mọi chuyện trên đời. Khi thấy Aristote cứ ngước mắt nhìn trời, người này liền xin lỗi. Nhà hiền triết trả lời:


-   Không dám, tôi có nghe đâu.


Người mù không thấy được Cái đẹp


  Có người hỏi  Aristote:


-   Tại sao ông lại thích Cái đẹp.


     Nhà hiền triết đáp:


-    Đúng là câu hỏi của một người không nhìn thấy gì – một người mù.


Thiện – Ác


  Có người hỏi Platon về  thiện –ác trong xã hội. Ông đáp:


-   Loài người sẽ không tránh được cái Ác  cho tới khi các nhà triết học chân chính chưa được giữ các chức trách nhà nước  hoặc là các nhà cầm quyền chưa trở thành các nhà hiền triết.


   Và Plato định nghĩa:


-   Nhà triết học chân chính là người ưa thích phát hiện ra chân lý.


            Tình yêu nuôi dưỡng cái gì ? 


  Có người hỏi quan niệm của Plato về tình yêu. Ông đáp:


-   Tôi cảm thấy rằng,  người ta hoàn toàn không ý thức được sức mạnh đích thực của tình yêu, vì nếu họ ý thức được nó, họ đã xây dựng các đền thờ lớn nhất cho tình yêu và hiến dâng những lễ vật quý báu nhất cho tình yêu, nhưng điều đó không xảy ra. Tình yêu có sức mạnh khủng khiếp, chúng nuôi dưỡng những tm hồn  vĩ đđại.


 


                            Sám hối


  Trong cảnh chiều tà cuộc đời, Socrates  nói:


-   Tôi lại nghiên cứu tôi – một quái vật phức tạp hay một sinh vật đơn giản, mà mặc dù khiêm tốn, song xét về bản chất thì vẫn có liên can tới một cái gì đó mang tính thần thánh!


 


Phục thiện kiểu Alexander


Pyron từng tham gia vào những cuộc viễn chinh châu Á của  Alexander và được chứng kiến cuộc trò chuyện của Alexander với nhóm các triết gia khổ hạnh  Ấn Độ- những triết gia mặc khố (không quần áo) - bị bắt làm tù binh . Họ gày gò,rách rưới, trên cơ thể họ không có gì ngoài cái khố. Cuộc đàm đạo bắt đầu bằng câu hỏi của Alexander:


Người chết hay người sống nhiều hơn?


Người sống, vì con người không chết.


Đất hay biển nuôi dưỡng nhiều người hơn?


Đất, vì biển là một phần của trái đất.


Con vật nào tinh ranh nhất


Con vật mà con người tới nay vẫn chưa biết.


Ngày và đêm, cái gì xuất hiện sớm hơn?


Ngày, sớm hơn một ngày.


Làm thế nào trở thành người được yêu quý nhất?


Trở thành người hùng mạnh nhất, nhưng không phải là người khủng khiếp nhất.


Sống và chết, cái gì mạnh hơn?


Sống, vì chỉ có nó mới mang lại những đau khổ như vậy.


Con người làm thế nào để trở thành Thượng đế?


Làm điều mà con người không làm được.


Thích thú với những câu trả lời, Alexander đã thả họ. Pyrrhon lầm rầm:


-   Ai mà biết được, có thể lối ứng xử kỳ quặc của một kẻ xâm lăng vĩ đại đã đem lại cho thế giới một con người kỳ quặc nữa.


Cách đối nhân xử thế trong lịch sử nhân lọai thường có hai kiểu: 1. xem con người là cứu cánh   2. xem con người là phương tiện. Ở đầu thế kỷ 21 người ta sử dụng cả hai kiểu với phương châm:  quyền lợi và ảnh hưởng.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Lãng du trong các nền văn hóa. Biên soạn: Lương Văn Hồng. NXB Văn học sắp xuất bản.


 


 

trieuxuan.info