MỸ (HOA KỲ)
Tên nước: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (United States of Armerica)
Cả châu Mỹ (trong đó có Mỹ) là quê hương của người Indian. Ngày 12.10.1492, Colombus cùng thủy thủ đoàn đổ bộ lên đảo Bahama (miền Bắc nước Mỹ ngày nay). Một thế kỷ sau, người châu Âu ồ ạt di cư sang mảnh đất này. Người Anh đến sớm nhất, sau đó là người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, người Đức, Hà Lan, Pháp, Nga, rồi người tứ xứ. Họ mong ở miền Đất hứa này sẽ có ấm no hạnh phúc. Những người di cư đến đây mang theo di sản văn hóa của dân tộc họ, cùng tạo nên một đời sống văn hóa mới mang sắc thái dung nạp yếu tố của nhiều nền văn hóa trên thế giới. Năm 1787, Hiến pháp Mỹ chính thức khẳng định tên nước là United states of Armerica.
Diện tích : 9. 809. 155 km2
Dân số : 273.800.000 người
Quốc khánh: 14 tháng 6
Quốc ca: Lá cờ ánh sao chói lọi Lời: Francis Scott Kee - Nguyễn Kim Dân dịch
A! Bạn ơi có thấy chăng, một tia bình minh xuyên qua, với cái gì mà chúng ta phát ra làn sóng hoan hô? Lá cờ sao và vạch của ai qua một đêm lửa pháo, vẫn đón gió tung bay trên lô cốt của quân ta? Hỏa pháo lấp loáng rực sáng, đạn pháo ùng oàng nổ vang, chúng đều chứng kiến, quốc kỳ vẫn ngang nhiên phất phới. Bạn nhìn lá cờ sao vạch mà xem, chẳng phải vẫn bay cao phất phới trên đất nước tự do này, trên quê hương dũng sĩ đó ư?
Xuyên qua sương mù dày đặc, thấp thoáng nhìn sang bờ bên, kẻ thù ngoan cố đang say, bốn phía vắng lặng, đêm sắp hết. Gío nhẹ từng cơn thổi qua đỉnh núi cao chót vót, bạn bảo đó là cái gì, cái gì thoắt ẩn thoắt hiện trong gió thế? Bây giờ trên mình nó, bừng lên ánh rạng đông, bầu trời soi bóng mặt nước, chốc lát một mầu đỏ rực. Đó là lá cờ sao vạch, cầu mong cho nó mãi phất phới trên đất nước tự do này, trên quê hương dũng sĩ này.
Đi đâu cả rồi, những người lời thề sang sảng? Cái mà họ hy vọng là có thể may mắncòn sống trong chiến tranh, quê hương và tổ quốc, đừng vứt bỏ họ. Họ dùng máu của mìnhđể rửa sạch dấu chân bẩn thỉu. Những kẻ tay sai, đánh thuê này không nơi lẩn trốn, không thóat khỏi thất bại và tử vong. Nhưng lá cờ sao vạch sẽ mãi mãi phất phới bay trên đất nước tự do này, trên quê hương dũng sĩ này.
Ngọc vỡ hay ngói lành bày ra trước mắt chúng ta, người tự do sẽ phấn chấn bảo vệ quốc kỳ bay mãi. Tổ quốc có mệnh trời, thắng lợi hòa bình đang đợi, xây dựng đất nước, bảo vệ quê hương, cảm ơn sức mạnh của Thượng đế. Chúng ta nhất định sẽ thắng lợi, chính nghĩa thuộc về chúng ta. “Chúng ta tin vào Thượng đế”, lời đó nhớ mãi không quên. Bạn thấy lá cờ sao vạch sẽ mãi mãi phất phới bay trên đất nước tự do này, trên quê hương dũng sĩ này.
Quốc kỳ :
hình chữ nhật nằm ngangcó 13 dải sọc đỏ, trắng xen kẽ nhau (7 đỏ, 6 trắng), tượng trưng cho sự đoàn kết và bình đẳng của 13 bang (khi mới lập nước). Sọc đỏ tượng trưng cho sự lớn mạnh và dũng khí, sọc trắng tượng trưng cho sự thuần khiết và tự do. Góc trên bên trái là vùng 50 sao năm cánh trắng trên nền xanh lam (mỗi khi thêm một bang mới lại vẽ thêm một ngôi sao lên vùng màu xanh lam). 50 ngôi sao trắng tượng trưng cho 50 bang của nước Mỹ ngày nay. Màu xanh lam tượng trưng cho sự trung thành và chính nghĩa.
Quốc huy
Nổi bật là hình chim ưng đầu trắng đang dang cánh muốn bay lên, hai chân doạng ra hai bên, đuôi xòe thành hình dẻ quạt. Chim ưng đầu trắng là loài chim đặc trưng cho nước Mỹ, là quốc điểu.Ở ngực chim ưng là cái khiên (lá chắn) nửa trên là vùng màu xanh lam – tượng trưng cho cơ cấu Nhà nước. Nửa dưới là 13 sọc đỏ trắng đứng xen kẽ nhau, tượng trưng cho 13 bang đầu tiên của nước Mỹ. Chân trái chim ưng quắp cành nguyệt quế màu xanh lục – tượng trưng cho hòa bình. Chân phải quặp bó 13 mũi tên bạc – tượng trưng cho quyết tâm chiến thắng quân thù, bảo vệ đất nước bằng vũ lực. Mỏ chim ưng ngậm một dải màu vàng có dòng chữ La tinh „Hợp chủng làm một “(hãy liên kết thành một chỉnh thể: “Hợp chủng quốc Hoa Kỳ“). Bên trên đầu chim ưng là 18 vòng tròn mầu trắng bạc, bên trong là ánh sáng vàng,: mặt trời hiện ra từ tầng mâychiếu rọi khắp nơi, tượng trưng cho sự phồn thịnh của Hợp chủng quốc. 13 ngôi sao năm cánh trắng tượng trưng cho 13 bang đầu tiên của nước Mỹ. Hội nghị liên bang năm 1782 chính thức phê chuẩn việc sử dụng quốc huy này.
Thủ đô: Oa-sinh-tơn (Washington)
Ngôn ngữ chính thức: tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha
Tôn giáo: đạo Tin Lành, Thiên Chúa giáo La Mã, đạo Do Thái
Đơn vị tiền tệ: US Dollar.
LÃNG DU TRONG VĂN HỌC MỸ
Henry James (1843-1916) là nhà tiểu thuyết và phê bình Mỹ gốc Ireland. Ông là em nhà triết học chủ nghĩa thực dụng William James (1841-1910). James xuất thân từ một gia đình đại tư sản. Ông sống chủ yếu ở châu Âu và nhập quốc tịch Anh năm 1915. Ông chịu ảnh hưởng của văn học cổ điển, thích đọc Balzac, Mérimée, Flaubert, George Eliot, George Sand. Ông kết bạn với Howells, I. Turgeniew, Flaubert, Maupassant, Daudet. Ông chịu ảnh hưởng của Hawthorne. Những truyện ngắn đầu tiên của ông đặt trong bối cảnh nước Mỹ. Cuốn Roderick Hudson (1876) kể về thành công và thất bại của nhà điêu khắc J. theo quan niệm của Turgeniev, coi nhân vật quan trọng hơn cốt truyện. Ông chủ trương nghệ thuật vị nghệ thuật, đề cao lối sống quý tộc Anh.
Một số tác phẩm giai đoạn đầu của James đề cập tới mối tương quan phức tạp “giữa hai bờ đại dương”- giữa tân lục địa -nước Mỹ và châu Âu -lục địa già nua. Những tác phẩm mang tính thế giới chủ nghĩa của Henry James là Những bài du ký, Người Mỹ, Chân dung một vị phu nhân. Người Mỹ (The Armerican, 1877) và Chân dung một vị phu nhân (Portrait of a Lady, 1881) biểu hiện rõ ảnh hưởng châu Âu đến cách suy nghĩ của người Mỹ. Giai đoạn thứ hai của James chủ yếu là vấn đề nữ quyền và cải cách xã hội trong
Người Boston (The Bostonians, 1886) và mưu đồ chính trị trong Công chúa Casamassima (The Princess Casamassima, 1886). Giai đoạn thứ ba là thời kỳ James đã điêu luyện trong nghệ thuật viết tiểu thuyết. James trở nên nổi tiếng bởi ba cuốn tiểu thuyết về những đề tài quốc tế Những vị đại sứ (The Ambassadors, 1903); Bát vàng (The Golden Bow, 1904); Đôi cánh chim câu (The Wings of the Dove, 1902).
James là người mở đường cho tiểu thuyết tâm lý hiện đại trong văn học phương Tây. Ông và Mark Twain là hai nhà văn lớn của văn học hiện thực Mỹ nửa sau thế kỷ 19.
Jack London (1876-1916) là tiểu thuyết gia của văn học hiện thực Mỹ. Ông tên thật là John Griffith London, sinh ở San Francisco trong một gia đình nghèo. Rời ghế nhà trường ông sang miền Klondike thuộc Canada. Cuộc đời ông ba chìm bảy nổi. Ông làm nhiều nghề khác nhau như bán báo, công nhân, cảnh sát hàng hải, thủy thủ trên chuyến tàu sang Nhật Bản, đi săn hải cẩu ở biển Thái Bình dương, sinh viên, đi tìm vàng ở Alaska, phóng viên ở Mexiko. Jack London chịu ảnh hưởng đồng thời của Darwin, Karl Marx, Herbert Spencer, Nietzsche.
London nổi tiếng ngay từ tác phẩm đầu tay của mình với tập truyện ngắn Đứa con của Sói (The Son of the Wolf, 1904)với bối cảnh là vùng Klondike ở Alaska và Yukon ở Canada. Hai tác phẩm phản ánh “luật chó sói” của trật tự xã hội tư bản là tiểu thuyết kể về chuyến đi tìm vàng “Tiếng gọi nơi hoang dã” (The Call of the Wild, 1903) và tiểu thuyết kể về sự giành giật sự sống trong thiên nhiên, nơi chỉ kẻ mạnh nhất tồn tại “Răng nanh trắng” (White Fang, 1907). Tiểu thuyết tự truyện Martin Eden phản ánh “giấc mơ Mỹ”- đi từ nghèo hèn lên đài danh vọng, đồng thời cho thấy những căng thẳng nội tâm của Martin Eden, khi là người của tầng lớp trên nhưng chối bỏ các giá trị vật chất của tầng lớp quý tộc.
Cuộc sống sôi động, phiêu bạt khắp nơi, kiếm sống bằng nhiều nghề khác nhau của Jack London chính là tư liệu sống để ông viết những tiểu thuyết hấp dẫn. Có thời gian ông là tác gia có nhuận bút cao nhất. Sức sáng tác của Jack London mãnh liệt như cuộc đời sôi động của ông. Ba yếu tố làm nên con người Jack London là đọc sách ngấu nghiến, cuộc sống phiêu bạt đó đây cùng với ước nguyện mãnh liệt muốn trở thành nhà văn nổi tiếng.
Ông nhanh chóng trở thành nhà văn nổi tiếng đương thời. Cuộc đời sáng tác của ông chỉ có 18 năm (1898-1916), nhưng ông để lại cho đời sau 19 bộ tiểu thuyết, 150 truyện ngắn, 3 vở kịch v.v…
Jack London là nhà văn được công chúng trong và ngoài nước yêu chuộng. Ông có ảnh hưởng lớn đến những nhà văn tiến bộ sau này.
Khát vọng mãnh liệt chính là động lực ghê gớm
Một hôm đi lang thang, vô tình Jack London bước vào một thư viện công cộng. Hình như linh tính dẫn bảo. Cuốn sách đầu tiên mà chàng thanh niên nghèo đói cầm là cuốn “Robinson phiêu lưu ký”. Chàng đọc say mê như bị hút hồn và tỏ ra hết sức xúc động. Từ đó chàng coi nơi đây là “nơi trú ngụ”, chàng ham đọc sách như một kẻ đói khát, chàng đọc từ Darwin tới Karl Marx, Nietzsche. Jack London thấy, xuất hiện đằng sau những trang sách là một thế giới kỳ diệu .
Năm 1898, Jack London quyết định sống bằng viết văn chuyên nghiệp. Lòng khao khát trở thành tiểu thuyết gia nổi tiếng nên Jack London viết sách ngày đêm. Có lần vợ nói:
Em chẳng còn gì để mặc.
Jack London đang mải viết, ông nói với vào phòng:
Em im lặng để anh viết nào.
Chỉ trong vòng 5 năm (1898-1903), Jack London cho ra đời 6 bộ tiểu thuyết, 125 truyện ngắn.
Nhà văn Mỹ William Faukner (1897-1962) sinh ngày 25.9.1897 ở New Albany, bang Mississipi, miền Nam nước Mỹ trong một gia đình sống đã lâu đời ở nơi đây. Faukner hiểu biết sâu sắc các cảnh quan, phong tục và tính cách, nên tác phẩm của ông làm người đọc cảm thấy xốn xang nỗi niềm nhớ mảnh đất quê hương miền Nam của nhà văn.
Hai tác phẩm nổi tiếng của Faulkner là “Âm thanh và cuồng nộ” (The Sound and the Fury, 1929) và Khi tôi hấp hối (As I Lay Dying, 1930).
Faulkner là nhà văn cách tân táo bạo: các sự kiện đan xen nhau, diễn ra trong những
thời điểm khác nhau. định mệnh, sự tha hoá của con người là yếu tố thứ hai tạo nên phong cách của Faukner, làm cho ông trở thành người tiên báo của tiểu thuyết hiện đại.
Ông có ảnh hưởng lớn đến sự chuyển mình của tiểu thuyết ở châu Âu. Ông được giải thưởng Nobel văn học năm 1949.
Ngày xưa... ngày nay
Một nữ đôc giả sau khi đọc các tác phẩm của Faulkner đã viết thư hỏi nhà văn, phải chăng con người bây giờ ác độc và tồi tệ hơn ngày xưa nhiều. Faulkner viết thư trả lời:
- Con người ngày nay không tồi tệ hơn con người ngày xưa, nhưng những bản tường trình ngày nay viết về những hành động ác độc của con người thì đáng tin cậy hơn ngày xưa, chi tiết hơn ngày xưa nhiều, hay hơn ngày xưa rất nhiều.
Khách đỡ lời- chủ chống chế
Trong một buổi tiệc do Faulkner chiêu đãi. Ông đứng đón chào khách tới. Một ông khách tới, Faulkner nhớ mặt khách, nhưng không nhớ tên và nghề nghiệp. Ông nói:
- Xin chào ông chủ tịch hội những người chống uống rượu.
Khách đỡ lời:
- Cũng tương tự như vậy ông Faulkner. Tôi là chủ tịch hội chống mại dâm.
Faulkner chống chế:
Đúng rồi. Tôi nghĩ mình không thể mời ông làm một chuyện gì đó.
LỜI BÌNH: Nước Mỹ rộng bao la, khí hậu đa dạng, khoáng sản nhiều, thể chế dân chủ nên dân di cư thoả sức thỉ tí tài năng. Vì vậy chỉ mới hơn hai trăm năm, nước Mỹ ngày nay chẳng thua nước nào trên thế giới về kinh tế, văn hoá, kỹ thuật... chỉ không có bề dày lịch sử, văn hoá.
Văn học Mỹ có nhiều nhà văn đoạt giải Nobel. Họ mỗi người một vẻ. Trong khi sáng tác của James mang tính thế giới chủ nghĩa thì đề tài chính của Faulkner là gia đình, cộng đồng đất đai, chủng tộc, tham vọng, tình yêu, truyền thống của con người phương Nam nước Mỹ. Khác hai nhà văn trên là Jack London. Ông lại kể về giấc mơ Mỹ (làm việc cật lực để đi từ nghèo hèn đến đài danh vọng).
Văn học Mỹ sôi động, muôn màu muôn vẻ trong sự cách tân, đề cập những vấn đề nóng bỏng của xã hội, nhằm đưa ra những cảnh báo, dự cảm tương lai để kịp thời có những giải pháp, những điều chỉnh phù hợp, tạo đà cho sự phát triển của đất nước. Văn hoá Mỹ (Armerican Culture) còn đang trong giai đoạn định hình chưa rõ nét. Thời gian sẽ trả lời chúng ta.
LÃNG DU TRONG TRIẾT HỌC MỸ
Nhà sư phạm và triết học Mỹ John Dewey (1859-1952) nhấn mạnh các khía cạnh thực nghiệm và đặc tính công cụ của chủ nghĩa thực dụng. Ông triển khai thuyết thực dụng (pragmatism) có hệ thống, bàn đến những vấn đề trọng tâm của tri thức luận, đạo đức học, thẩm mỹ học. Dewey còn đi sâu vào vấn đề xã hội đương thời: canh tân các trường học ở Hoa Kỳ. John Dewey là nhà thực dụng có ảnh hưởng lớn tới hoạt động ở các trường học, tới các thủ tục lập pháp và tư pháp ở Hoa Kỳ. Ta cảm thấy được ảnh hưởng của Dewey ở Nhật Bản và Trung Hoa.
Công cụ làm việc & Công cụ tư duy
Chủ nghĩa thực dụng hình thành với lý thuyết nguyên thủy của Charles Sanders Peire, được truyền bá rộng rãi nhờ các tiểu luận đặc sắc của William James, được đưa vào một cách có phương pháp vào các sinh hoạt hàng ngày của các tổ chức ở Mỹ nhờ công của John Dewey. Theo John Dewey , tri thức và ý tưởng là công cụ tư duy được lý trí vận dụng để giải quyết hiệu quả các vấn đề cụ thể trong đời sống thực tế, vậy thì:
- Các ý tưởng có thể coi như những công cụ trí tuệ, không phải là bản thân chân lý.
James giải thích chủ nghĩa công cụ của John Dewey:
- Bất kỳ ý tưởng nào giúp ta liên kết các lãnh vực kinh nghiệm, nối kết các sự vật một cách hữu hiệu, giúp ta hành động một cách an toàn hơn, đơn giản hơn ít tốn kém hơn .v.v… đều chân xác, hoàn toàn chân xác theo ý nghĩa công cụ.
Phát triển: mất thăng bằng. Thăng bằng: ổn định
Dewey chống lại các phương pháp giáo dục độc đoán thế kỷ XIX, ông chú trọng vào sự canh tân thực tiễn trong giáo dục. Ông không coi trẻ em là những cái bình rỗng để ta đổ kiến thức vào. Ông coi trẻ em như những cái nôi sống động của những hối thúc, được môi trường xung quanh tác động, nhưng chúng cũng tác động lại môi trường. Chúng ta cần tạo sao cho:
- trẻ em minh mẫn, có những hưng phấn, trưởng thành trong các khả năng và trưởng thành trong các năng lực cho kinh nghiệm.
Sự thay đổi liên tục là nét đặc trưng của thế giới ngày nay. Dewey cho rằng:
- Nhịp điệu liên tục bị mất thăng bằng rồi lại trở về thăng bằng, vì vậy toàn thể cộng đồng xã hội cần tư duy và hành động tối hảo để thiết lập sự thăng bằng trở lại.
William James (1842-1910) sinh trong một gia đình có trình độ văn hoá cao ở New York. Em ông-Henry James- là một tiểu thuyết gia. William James học Y ở đại học Havard, ông từng đi thăm nhiều đại học ở châu Âu. W. James là giáo sư tâm lý học và triết học đại học Havard, Mỹ. Ông coi sự thành công và điều hữu ích như một tiêu chí của chân lý, dù là kinh nghiệm tôn giáo hay tri thức khoa học. Kiểm tra thực nghiệm hướng về hành động và tín ngưỡng thoả mãn những nhu cầu sâu xa của con người trong cuộc sống là hai đặc trưng của chủ nghĩa thực dụng kiểu William James.
Lập luận của chủ nghĩa thực dụng
James truyền bá chủ nghĩa thực dụng bằng các công trình phân tích nền tảng thực tế của nó. Chủ nghĩa thực dụng (Pragmatism) là triết lý tôn vinh các thành quả thực tế, triết lý này khởi phát, hình thành và phát triển ở cuối thế kỷ XIX từ công sức đóng góp độc đáo của các nhà triết học Mỹ. James nhận định:
- Chủ nghĩa thực dụng là một tên gọi mới cho những phong cách tư duy cổ xưa.
James nghĩ rằng:
Chức năng của triết học là khám phá sự khác biệt giữa bạn và tôi vào những thời điểm nhất định của cuộc đời.
Tư duy triết học phát sinh khi người ta muốn hiểu biết các sự vật và môi trường họ sống. Mục đích có được ý nghĩa của nó từ sự ý thức về cảm giác hiện hữu trong vũ trụ. James bảo:
Thuyết thực dụng chỉ là một phương pháp, bạn phải rút ra được trong mỗi từ giá trị thật của nó.
LỜI BÌNH: Ngày 12.10.1492, Colombus cùng thuỷ thủ đã đổ bộ lên đảo Bahama (miền Bắc nước Mỹ ngày nay. Một thế kỷ sau người châu Âu mới ồ ạt di cư sang vùng đất mà ngày nay gọi là nước Mỹ. Người Anh đến sớm nhất và đông nhất. Năm 1607, nhóm người Anh gồm những người là thành viên của Nhà thờ Anh, trung thành với với chế độ quân chủ Anh. Họ định cư ở Virginie, miền Nam nước Mỹ. Những năm 1620-1630 thì nhóm thứ hai sang miền Bắc nước Mỹ, họ là những người phải trốn chạy, những phần tử cấp tiến về chính trị, có tư tưởng dân chủ. Họ lập ra các khu Plymouth, Massachussetts. Tiếp đến là người Tây Ban Nha sang sống ở vùng Florida và New Mexico, , người Pháp tràn từ Canada sang vùng Hồ Lớn, người Hà Lan sang sống chủ yếu ở vùng New York… Cuối thế kỷ 19 lại có một làn sóng người Nga, người Letoni, người Trung Quốc, người Nhật Bản... di cư sang Mỹ.
Ngày 4 tháng 7 năm 1776, Thomas Jefferson đọc Tuyên ngôn độc lập. Nước Mỹ chính thức ra đời, đồng thời cũng là sự ra đời của Nhà nước dân chủ tư sản hoàn chỉnh đầu tiên trên thế giới (không có dấu vết của phong kiến, quân chủ). Những người di cư sang Mỹ mang theo di sản văn hoá của quê hương mình (văn hoá Pháp, Anh, Nga, Đức...), do đó văn học Mỹ hình thành và phát triển trên cơ sở dung nạp mọi sắc thái của các nền văn hoá trên thế giới. Tất cả dân di cư sang Mỹ đều có mục đích, hy vọng: ấm no hạnh phúc, làm giàu nơi miền đất hứa. Những người này rất thực tế , coi trọng hiệu quả, chú ý hiện tại và tương lai. Tóm lại họ rất thực tế và thực dụng. Cái mà ta thường gọi là lối sống Mỹ (The way of Armerican life), hay kiểu sống Mỹ (Armerican style life). Chủ nghĩa thực dụng là đóng góp của các nhà triết học Mỹ với triết học thế giới.
(còn tiếp)
Nguồn: Lãng du trong các nền văn hóa. Biên soạn: Lương Văn Hồng. NXB Văn học sắp xuất bản.
|