Truyện ngắn
30.09.2014
Lê Văn Thảo
Đứa con

Đứa con của Ba Lắm sanh năm 1955, không ai tính được anh có được đứa con vào những năm đó. Kháng chiến chống Pháp anh là bộ đội đi đây đó nhiều, lại thêm tính tình hay mắc cỡ vụng về, hơn ba mươi tuổi vẫn chưa vợ. Vậy rồi đến đầu năm Năm Tư, trong lúc đơn vị đang hành quân liên tục, chuẩn bị giáng cho thằng Tây đòn cuối cùng, bỗng nghe Ba Lắm cưới vợ, một cô giáo làng khá xinh đẹp. Đám cưới Ba Lắm tôi không được dự, nghe kể Ba Lắm hôm đó làm “bễ mặt nam nhi” lắm. Khi hai họ đằng gái đằng trai (đơn vị) mời vợ chồng ra trình diện, Ba Lắm run lập cập không nói được gì, mướt mồ hôi như vừa đánh xong một trận giặc, chị vợ thấy vậy khóc ròng Ba Lắm cũng khóc theo. Đám cưới vào khoảng tháng sáu. Vậy là vợ chồng ăn ở với nhau không được bao lâu. Tháng bảy thằng Tây đầu hàng ký hiệp định đình chiến, Ba Lắm đi tập kết ra Bắc. Không biết anh rời nhà từ tháng nào (không biết có nhà không nữa), anh xuống Cà Mau gặp tôi chia tay vào khoảng tháng mười một. Tôi ở lại trong Nam. Đêm cuối cùng chúng tôi thức với nhau tới sáng. Ba Lắm vốn vụng nói nhưng thường khi chỉ có hai người với nhau anh rủ rỉ rù rì những chuyện thật thú vị. Đêm hôm đó anh nói suốt, tôi chỉ có nằm nghe. Gà gáy hiệp nhứt rồi sang hiệp hai. Anh say sưa kể chuyện anh gặp vợ như thế nào, hai người thương nhau ra sao, trong đêm tối, tôi như thấy anh mỉm cười sung sướng. Bỗng anh quay sang ôm siết tôi giọng nghẹn ngào:


- Tôi có đứa con rồi anh à!


Tôi nghe cũng thấy nghẹn ở cổ. Là tôi lo cho anh. Tôi nói:


- Tình hình sắp tới sẽ còn khó khăn lắm…


- Tôi biết rồi… - Ba Lắm vẫn vui.


- Anh chắc không?


- Gì?


- Vụ đứa con…


- Ai biết đâu, vợ tôi nói vậy.


Tôi thở dài hỏi sang chuyện khác, vợ con anh sẽ ở đâu, làm gì, sinh sống như thế nào, anh đáp không đâu ra đâu cả, đang vui thấy chuyện gì cũng đẹp đẽ dễ dàng. Thấy vậy tôi phải cùng tính với anh, cách là như thế này: Vợ anh vẫn dạy học ở đó nhưng con đẻ phải gởi đi nơi khác, bọn giặc sau này biết được gia đình có dính tới kháng chiến bộ đội sẽ làm khó dễ. Tôi ở lại trong Nam phải lo chuyện đó. Lúc đó mặc dù biết tình hình rồi sẽ gay go, chúng tôi vẫn tin tưởng hai năm sẽ có bầu cử hòa bình, mọi chuyện sẽ suôn sẻ.


Nhưng hai năm qua rồi Ngô Đình Diệm trả lời những lý lẽ đấu tranh hòa bình của chúng tôi bằng súng và máy chém, dằn tay chúng tôi ra khỏi những lưỡi liềm, lưỡi hái, gán cho tội “Việt Cộng” đem ra bắn. Chúng lùa chúng tôi từ trong rừng về đồng bằng, về thành phố rồi giăng lính đánh quật trở lại để có cớ giết hàng loạt. Những thằng lính làng, lính xã cũng có thể vỗ ngực nói: “Ừ tao là lính tay sai nè, nhưng tao giết được tụi bây”. Khắp nơi quần chúng sôi sục, khí uất bốc lên tới tận trời xanh, đi đâu cũng nghe nói chuyện khởi nghĩa, chuyện cách mạng, được cầm súng rửa thù rửa hận.


Chuyện vợ con Ba Lắm cũng không yên ổn gì. Đẻ con xong vợ Ba Lắm không gởi con đi đâu được, việc dạy học cũng không thể nghĩ tới. Chị ở xã trước đó phong trào kháng chiến rất mạnh, từ ngày “hòa bình” trở thành xã “điểm”, trường học biến thành trụ sở hành chánh, sau biến thành ty cảnh sát, có phòng điều tra trại giam. Chúng đưa về đó thằng ác ôn cấp tỉnh làm cảnh sát trưởng, một thằng khát máu nổi tiếng, chuyên dùng dao gâm, hàng ngày có thể giết mấy chục người. Tôi nghe vậy lo lắm, thấy mình có trách nhiệm với Ba Lắm, hình ảnh đứa con ra đời trong những ngày cuối cuộc chiến tranh ghi đậm vào ký ức tôi. Nhưng tôi không có cách gì liên hệ được với chị vợ Ba Lắm, phần lớn thời gian tôi phải ở trên rừng nằm hầm ngủ bụi, có bám về được xóm dân cũng phải chun trong khạp gạo, tủ áo. Một dạo nghe tin chị vợ và đứa con Ba Lắm được yên ổn tôi cũng mừng, nhưng rồi lại nghe tin chị vợ đã bị giết chết, đứa con không biết lưu lạc phương trời nào. Nghe tin tôi chết điếng, phần thương người bạn ở xa, phần uất ức vì những ngày tháng nằm hầm ngủ bụi, không có người báo tin tôi đã bật khóc. Sau đó rồi tôi bình tĩnh lại nghe chuyện như sau.


Sau ngày hòa bình biết được chị vợ Ba Lắm có chồng bộ đội, bọn giặc tìm cách cô lập, bắt cất căn chòi ở giữa đồng, cửa nhà sơn đen, ngoài ngõ dựng tấm biển đỏ, ban đêm đốt ngọn đèn treo ở đó, muốn đi đâu, làm gì phải đến xã xin phép, hằng tuần phải lên quận trình diện. Sau hai năm phá hoại hiệp định tới thời kỳ khủng bố, đối với nhiều người khác chúng mặc tình chặt đầu mổ bụng, chôn sống hoặc giam cầm cho tới chết, riêng đối với “cô giáo trẻ một con xinh đẹp” chúng có cách khác. Đêm đêm từ hướng bót trụ sở xã, những thằng mật vụ, chiêu hồi, cán bộ xã, lính dân vệ bảo an nhằm hướng ngọn đèn đỏ nhà chị đi băng ra. Rồi lại đi về. Nhiều đêm như vậy không thấy có chuyện gì xảy ra, không nghe ai nói chuyện gì. Cho đến một hôm thằng cảnh sát trưởng nổi trận lôi đình, điều hiếm thấy vì nó vốn mềm mỏng, giảo hoạt. Nó hét lên với đám lính:


- Tụi bây dở ẹt! Để tao!


Không đợi trời tối nó để nguyên bộ đồ rằn ri vừa mới lội rừng về, cởi thắt lưng vất lại khẩu súng, chỉ giữ lại con dao gâm, nháy mắt với bọn lính nói không để đâm ai, mà là để…


Nó nhằm căn nhà có tấm biển đỏ đi băng ra, rất chậm, giả bộ đi khệnh khạng như người say rượu, thỉnh thoảng quay lại sau coi đám lính có nhìn theo không.


Nhưng khi nó đến vào nhà rồi mọi chuyện xảy ra rất mau. Đám lính đi theo rình coi, đầu tiên nghe tiếng cười rộ lên của thằng cảnh sát trưởng, tiếng la thét của chị vợ Ba Lắm, tiếng đứa nhỏ khóc. Rồi cửa mở, đứa nhỏ bị đạp tuôn ra ngoài. Cửa đóng lại, không nghe thấy gì nữa, cho đến lúc cửa lại mở toang, và lần này thì mở luôn. Thằng cảnh sát chạy vọt ra ngoài sân như con cá lóc bị dập đầu, đứng sựng lại cười sặc sụa rồi đổ sụp xuống, máu ở bụng tuôn ra như suối. Đám lính hoảng sợ bỏ chạy, bà con trong xóm sau đó hay tin chạy ra. Chị vợ Ba Lắm đã chết, thằng cảnh sát trưởng cũng chết, đứa nhỏ chết giấc ngoài bụi chuối được bà con cứu chữa. Người ta kéo xác thằng cảnh sát chôn dập ngoài ruộng, chị vợ Ba Lắm được chôn ở nghĩa trang, mả nằm dưới tàn cây bông sứ, mùa mưa, mùa nắng đều có hương thơm ngào ngạt.


Hơn một tháng sau tôi có về thăm mả chị, lấy làm lạ thấy cỏ mọc xanh rì. Ngày đi Ba Lắm có gởi lại tấm huân chương tôi treo ở đầu mả. Vậy là chị đã chết rồi, như bao cái chết của nhiều người miền Nam trong những năm đó, hào hùng hay không cũng ghi dấu được một cái gì. Giờ tôi còn phải lo cho đứa con.


Đứa con được bà con nuôi nấng, lớn mau như thổi, sức vóc rất giống Ba Lắm, bảy tuổi đã bưng được thúng gạo, mười tuổi theo được tay cày. Duy chỉ có tính tình là khác hẳn: xốc nổi, cười nói bất chợt, nhiều ngày lao động cần cù bỗng có mấy ngày bỏ đi rong chơi lêu lỗng. Từ những năm đó tôi không rời nó ra nữa, nhứt là sau ngày đồng khởi, đôi tháng một lần tôi tìm gặp nó kể chuyện ba má nó cho nó nghe. Coi vẻ nó cũng là đứa biết điều, nghe chuyện ba nó nó lặng thinh, tới chuyện má nó thì nó khóc. Nhưng rồi sau đó vẫn chứng nào tật nấy, chuyện rong chơi lêu lỗng càng xảy ra thường hơn. Xã chỗ nó ở tới những năm đó vẫn chưa được giải phóng, thậm chí ngày càng bị kềm kẹp chặt hơn, chúng cho đóng một cái đồn ở đầu làng, thêm một đồn ở cuối làng, lính bảo an ở tỉnh thường đi lùng sục, lại có đám chiêu hồi phượng hoàng thiên nga ngày đêm la cà rủ rê thanh niên trai gái đàn ca xướng hát, chơi trò kịch nghệ tấu hài. Thằng con Ba Lắm tới năm mười hai tuổi đã chạy bám theo đám “văn nghệ nhân dân” đó. Tôi đang bù đầu nhiều việc sau ngày đồng khởi. Quân Mỹ đã bắt đầu đổ quân vào, làng nào, xã nào cũng thấy có lính Mỹ, đường nào, ngả nào cũng thấy vương vãi rác rến Mỹ. Trên giao cho tôi thành lập đại đội vũ trang, đi dâu phải kéo theo cả mấy trăm quân. Tình hình thật gay go, tôi không thể tìm gặp thằng con chuyện trò, và thật sự cũng không biết nói gì. Nó đã lớn rồi, chẳng lẽ tôi cứ nói hoài chuyện “ba má” với nó?


Chỉ trong thời gian ngắn thằng con Ba Lắm đã vuột khỏi tay tôi.


Ba Lắm vượt Trường Sơn về Nam năm 1966. Năm đó Mỹ đã có nửa triệu quân ở miền Nam, hung hăng giở trò “bủa lưới phóng lao”, “tìm để diệt”. Ta cũng thành lập những sư đoàn quân chủ lực đầu tiên, Ba Lắm về tới được điều về đó, dự ngay trận đánh Bàu Bàng vẻ vang. Liền sau trận đánh, quần áo còn nực mùi thuốc súng, dính đầy đất đỏ vườn cao su, anh theo giao liên về gặp tôi, sau hơn mười năm chúng tôi lại thức với nhau suốt đêm. Lần này tôi kể và Ba Lắm lắng nghe. Tôi phân vân không biết nên kể chuyện vợ con anh trước hay chuyện đồng bào miền Nam trước. Cuối cùng tôi kể hai chuyện một lượt, những năm đó chuyện đồng bào và chiến sĩ là một, ai cũng là dân ai cũng cầm súng, cái chung cái riêng hòa vào nhau. Tôi kể xong, hút đến hai điếu thuốc, Ba Lắm vẫn nằm im. Cũng như đêm nào, gà gáy hiệp nhứt rồi hiệp hai. Ba Lắm vùng dậy đi ra ngoài ngồi ở bờ ruộng một lúc lâu, nghe tiếng hỉ mũi, chửi rủa rầm rĩ. Rồi trở vào, bình tĩnh trở lại, nói:


- Những chuyện như vậy ở miền Bắc tôi cũng có nghe, chỉ có khác đây là chuyện vợ con tôi. Cám ơn anh và bà con bấy lâu nay đã lo cho vợ con tôi, còn chuyện đến nước đó là do thằng Mỹ thôi. Thôi tôi về đơn vị đây - Anh nói sang chuyện khác, cố lấy giọng vui vui - Mười mấy năm ở ngoài kia chỉ có cầm cày, tưởng tay súng quên đi, nào ngờ vẫn thành thạo. Dân mình đánh giặc giỏi là do cái nòi.


Anh quảy bòng lên vai ra đi liền, tôi tiễn anh một khoảng đồng. Tưởng không còn gì nói với tôi nữa, lúc bắt tay từ biệt anh nắm chặt tay tôi nói giọng nghẹn ngào:


- Đành nhờ anh chuyện này nữa… Ở dưới này anh ráng tìm thằng con tôi, coi nó sống chết thế nào, hư hỏng ra sao…


Anh hấp tấp quay đi, chắc để khỏi bật khóc trước mặt tôi.


Từ đó tới lúc xảy ra câu chuyện tôi sắp kể sau đây, tôi không gặp Ba Lắm, cũng không liên lạc thư từ. Cuộc chiến đang hồi gay go ác liệt, chúng tôi đánh giặc gần như hằng ngày, còn bao nhiêu chuyện khác nữa, tải lương, tuyển quân, tổ chức binh vận, đứa con Ba Lắm dù sao không thể choán hết tâm trí tôi. Một dạo tôi nghe tin đơn vị Ba Lắm hành quân qua tỉnh, có nhận được lời nhắn “nhờ vả” của anh, tôi bứt rứt không biết làm sao. Đứa con anh như cánh chim nhỏ xíu trong bầu trời mù mịt khói lửa, biết đâu mà tìm. Một hôm tôi nhận được tin đứa con Ba Lắm đã đăng lính từ hồi nào vừa chuyển về ở đồn gần xã nhà, cùng lúc lịnh trên đưa xuống tôi phải san bằng đồn đó. Tôi điện báo tin cho Ba Lắm, triển khai kế hoạch chiến đấu, trận đánh định vào hạ tuần tháng sau, lúc trăng mọc vào giữa đêm.


Đứa con Ba Lắm tính sao đây? Suốt ngày đêm bù đầu vào công việc, rảnh rỗi một chút hình ảnh đứa con Ba Lắm lại hiện ra, hồng hào khỏe mạnh giống y Ba Lắm, chỉ có khác khẩu súng trong tay của Mỹ mà thôi.


***


Tuần lễ sau Ba Lắm về tới, đi thẳng vào chỗ tôi, vẫn bộ quần áo nực mùi thuốc súng và dính đầy đất đỏ, hỏi tôi vắn tắt mọi tin tức rồi ra ngoài sân ngồi một lúc lâu. Tôi nhìn theo anh lòng đau xé. Chao, người chiến sĩ ấy suốt đời đi kháng chiến, nếu còn có gì đó riêng tư thì chỉ có đứa con đó thôi. Anh trở vào, tráng anh có thêm mấy nếp nhăn, má thêm hóp, mắt trũng sâu như người bịnh. Tôi tính tìm lời an ủi nhưng anh gạt đi:


- Tôi về đây một phần vì đứa con, nhưng phần lớn học tập cách đánh công kiên của mấy anh dưới đồng bằng. Nghe nói thằng Mỹ vừa mới bố trí lại các chi khu hình thù kỳ dị lắm phải không? Thêm nữa tôi cũng xin trình bày vài chiến lệ áp dụng thành công ở trên rừng để các anh tham khảo…


Ngày hôm sau Ba Lắm lao vào công việc với chúng tôi. Đúng như anh nói, sau mười mấy năm cầm cày ở miền Bắc về đây trở lại đời lính tay súng của anh càng lão luyện, tinh xảo hơn, mắt anh không còn trông xa được nữa nhưng trí phán đoán thì vượt hẳn. Chúng tôi bố trí hỏa lực tập trung vào hướng trung tâm, anh nói: “Sao không tính có một đơn vị tuần tiễu của chúng bất ngờ trở về đi ngang qua đó?”. Về giờ giấc anh nói: “Phải tuyệt đối đúng giờ, chính xác từng giây đồng hồ, vân vân và vân vân… Anh lôi tôi đi thực địa lần thứ ba, thứ tư. Chúng tôi đo đường đất tính đến từng phút đi đường, tính đến cả hai trường hợp trời mưa và trời khô. Chúng tôi lội bưng để đo mực nước, vào tận bên trong đếm các vòng rào. Anh đi với tôi tháo vát không thua gì tôi, am hiểu chiến trường như người ở địa phương. Đó là một chiến sĩ dày dạn hoàn toàn. Nhiều lúc nhìn anh uốn mình lăn qua bờ ruộng, hoặc ngâm mình dưới nước chỉ để hở một nửa khuôn mặt, tôi không khỏi đau xót nghĩ thầm: “Trời ơi, coi người cha đang lo kế hoạch hoàn tất để giết con mình kìa!”.


Chúng tôi cố gắng không nhắc gì tới đứa con, cho tới lúc mọi chuyện chuẩn bị xong, nhìn chiếc mi-ra-đo đồn giặc nhọn hoắc nhô lên cao, anh nói:


- Tôi quên báo cho anh biết sau này tôi còn có tài bắn tỉa nữa. Tỉ như giờ đây thằng con tôi bò lên cái lồng cu kia, tôi chỉ cần nổ một phát nó rụng như chim.


Anh vừa nói vừa cười, còn tôi nghe lạnh ở dọc sống lưng.


Hôm sau chúng tôi lên sa bàn lần cuối cùng, Ba Lắm không dự chỉ đi lòng vòng bên ngoài. Cuối cuộc họp tôi chìa ra miếng giấy nhỏ:


- Tôi vừa nhận được lịnh trên: đồn tuy là lính bảo an nhưng đa số là lính tân binh. Ta đang thắng lớn trên khắp các chiến trường, lợi dụng chúng đang tan rã ta có kế hoạch gọi đầu hàng…


- Nhưng trước tiên phải đánh dập đầu chúng - Ba Lắm nói vọng vào.


- Phải rồi - Tôi nói - Sau khi đã đánh thật rát, và trước lúc bảo đảm tiêu diệt chúng. Đây là lịnh, một phương án trong chiến đấu.


- Phải, lịnh thì ta chấp hành - Ba Lắm cười gượng chen đi vào - Hình như các đồng chí chưa phân công người chỉ huy mũi hỏa lực chủ yếu (gồm khâu DK và mấy khẩu B40, mũi này thật ra do tôi chỉ huy), tôi xin phụ trách mũi đó.


Chiều hôm đó sương mù xuống sớm phủ mù mịt cả cánh đồng. Đại đội chúng tôi hành quân trong sương, trời sụp tối đến điểm tập kết cuối cùng. Trăng chưa lên, trời nhiều sao, vắng lặng lạnh lẽo. Mặt ruộng phẳng lặng như gương, mấy con cá nhỏ gợn móng lăn tăn. Tôi cho các mũi tỏa ra các điểm qui định, quay lại mũi của mình nghe có tiếng động nước. Ba Lắm đi tới dáng cao to trong mù sương.


- Có gì không? - Tôi hỏi.


- Không… - Anh đáp, nói tiếp - Tôi nói với anh điều này… - Anh đứng sát vào tôi, cố nén cơn ho - Lúc sáng ở sa bàn tôi thấy anh có gì như ái ngại cho tôi. Không nên vậy. Thật ra đây chỉ là trận đánh nhỏ ta sẽ chiến thắng dễ dàng, nhưng trước lúc vào trận đánh lòng ta còn gợn cái gì…


- Không đâu… - Tôi nói.


- Phải, tôi cũng tin như vậy. Thằng con tôi tôi coi như nó đã chết rồi. Hay không sinh ra nó. Tôi đi chiến đấu bao nhiêu năm, hiểu thằng giặc như thế nào, phải đối phó với nó ra sao. Anh nên tin tôi.


- Sao tôi không tin anh?


Chúng tôi nổ súng vào lúc trăng lên. Vầng trăng nhô lên khỏi ngọn cây, đỏ như máu, thỉnh thoảng một đám mây bay ngang như có ai cầm chiếc khăn che lại. Ba mũi chúng tôi dùng bộc phá và tiểu liên đánh vào các lô cốt vòng ngoài, nhanh chóng bắt chúng đầu hàng. Nhưng vào vòng trong thật bất ngờ, sau hồi đánh trả một cách rời rạc chúng bỗng quật lại thật dữ dội, đánh bật chúng tôi ra khỏi các đường hào. Trận đánh bắt đầu gay go, bọn tân binh thiếu kinh nghiệm nhưng lại có tính hung hăng. Phải đánh phủ đầu, tôi bò đi gặp các mũi. Ba Lắm cho DK, B40 gài đạn mở khóa chờ sẵn, đưa mắt hỏi tôi. Tôi nói: “Chưa đâu, phải cho chúng biết xung kích mình như thế nào đã”. Ba mũi xung kích lại dựng dậy từ các bờ rào, bám sát các bao cát đánh thốc trở vô, lô cốt thứ hai, thứ ba lần lượt bị tiêu diệt. Có tiếng la thét chửi rủa của bọn sĩ quan thúc bọn tân binh. Tôi truyền lịnh: “Đánh thốc một đợt nữa, rồi dừng lại chờ lịnh”, rồi cho đem ống loa lên. Đợt thứ hai xung kích đánh toàn thủ pháo dù, lửa bùng lên từ các gian trại, lô cốt, cháy dữ dội mấy gian nhà, lửa sáng cả một góc trời. Chúng hoảng sợ lắm rồi, tôi nghĩ vậy, cho ngưng nổ súng, cho người đi kêu Ba Lắm, leo lên một mô đất kê loa nói vọng vào:


“Hỡi anh em binh sĩ, trận đánh sắp kết thúc rồi, chắc anh em cũng đã rõ, nhiễu điều phủ lấy giá gương, anh em quân giải phóng biết các bạn chẳng thù hằn gì với nhân dân, với cách mạng, chẳng qua một phút thiếu suy xét đi cầm súng Mỹ… Các bạn hãy hồi tâm lại, hãy buông súng…”


Ba Lắm đi tới, mồ hôi chảy thành dòng trên mặt.


- Anh lịnh cho tôi nổ súng hả? - Anh hỏi.


- Không - Tôi nói - Anh nói vô đây, gọi thằng con anh đi.


Ba Lắm đứng lặng nhìn tôi trân trân, tay run run cầm lấy ống loa, tay kia vuốt mồ hôi, có cảm giác anh sắp bật khóc tới nơi.


- Biết nó còn trong đó không?


- Còn… Tôi bám đất này hơn hai mươi năm, biết những thằng đáng giết. Anh nói đi!


Ba Lắm vác ống loa bước đi lao chao, chút sau tôi nghe tiếng anh vọng vào một cách khó khăn:


“Hỡi anh em binh sĩ, hãy buông súng ra với quân giải phóng, anh em sẽ được khoan hồng, theo đúng chính sách của chính phủ cách mạng…”.


Anh ngưng một chút rồi nói tiếp, giọng bỗng vang đi một cách khác thường:


“Sau đây là lời của ba là Ba Lắm nói với con là Trần Văn Lẫm. Lẫm con ơi! Con cầm súng bắn ai? Ai đã giết má con? Hơn hai mươi năm nay ba đi kháng chiến chịu cực khổ, không ngại đổ xương máu là vì ai? Con là núm ruột của ba, dòng máu của ba, đời ba ngoài cách mạng chỉ còn có con thôi…”.


Cả trận đánh như im hẳn cho tiếng nói của Ba Lắm vang đi:


“Con hãy trở về với bà con chòm xóm, với nhân dân cách mạng, trở về với ba, để hai cha con mình cùng đi chung với nhau…”.


Ba Lắm chưa dứt lời bỗng từ lô cốt chính có tiếng kêu thét lên, tiếng kêu non nớt, nghe thảm thiết như tiếng con chim non giữa cơn giông bão:


- Ba ơi!


Ba Lắm quăng loa nhào xuống chạy tới như con thú bị thương, cất tiếng kêu:


- Ôi con tôi!


… Chúng tôi kết thúc trận đánh chỉ trong mấy phút, tiếng súng im hẳn tôi lo mọi chuyện rồi đi tìm cha con Ba Lắm, tìm thấy họ đang ngồi với nhau ngoài bờ ruộng.


Tiếng đứa con:


- … Về đồn ở xã nhà con chờ ba hoài, biết thế nào ba cũng đi tìm con. Sao ba đi lâu quá vậy? Con nghe tiếng ba kêu chạy ra nhưng thằng sĩ quan dằn con lại, con tính không sống được định kêu ba một tiếng rồi cùng chết với nó…


Tiếng người cha:


- …Hay tin con đi lính ba buồn lắm, nghĩ bụng coi như con đã chết, hoặc không sinh ra con… Nhưng đâu được, ba đã sinh ra con, dù thế nào con cũng là con của ba…


Trời đã sáng hai cha con còn sụt sùi hoài, tôi đi tìm người liên lạc:


- Cơm nước cho tù binh đã lo xong chưa?


1966.


(còn tiếp)


Nguồn: Lê Văn Thảo Tuyển tập. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info

trieuxuan.info