Truyện ngắn
29.12.2019
Nguyễn Hải Yến (Hải Dương)
Quán thủy thần

“Tháng ba ngủ trên triền sóng


Khát hoa gạo lưng trời


Xô bến cạn vỡ thành muôn mảnh



            Soi mảnh nào cũng thấy trùng khơi…”                                                                        


I- Từ  làng tôi ra cửa sông phải đi qua một con đường đất gồ sống trâu xuyên cánh đồng, bốn mùa hun hút gió. Đến cuối đường, nếu quay đầu nhìn lại sẽ thấy làng mạc tan thành vệt xanh lơ, những hôm ẩm trời lẫn cả  vào màu mây đang sà xuống lan như khói, sẽ thấy mình cô đơn đến ngộp thở giữa sắc màu đơn điệu không biết là đất hay trời nếu như mắt không tìm thấy một điểm dừng - một cây cầu quán cũ, nền đất cao vượt hẳn lên, lặng thinh nằm bên gốc gạo già buông bóng sừng sững, mái ngói âm dương xô từng mảng, quanh năm gió đồng hút qua khe hở chiếc mõ dài hình con cá gỗ treo phía trong cột quán, nghe u u, vang và lạnh như tiếng sáo thủy thần. Ngày nhỏ, mẹ vẫn hát ru tôi trong âm thanh buồn bã và đơn điệu đó. Tôi ngủ trong lòng thúng cái trải rơm  chòng chành và êm như sóng, thấy nước chảy róc rách, tiếng sóng âm âm vỗ ngay dưới chỗ mình nằm. Lớn lên lẫm chẫm tôi cũng chẳng bao giờ đòi mẹ bế, cứ thẩn tha lê la khắp cầu quán, lúc mệt cuộn mình vào một góc nào đó. Và lúc ấy, mẹ  bắt đầu hát ru, mặt đất chỗ tôi nằm lại bắt đầu bồng bềnh như sóng, đưa nôi chao giấc ngủ cho tôi trong thì thầm tiếng sáo kể chuyện thủy thần…


…Mẹ tôi không phải người vùng này mà ở đâu đó ngược lên đầu nguồn xa lắm, một đêm xuôi đò dọc dừng chân bên bến vắng có gốc gạo đang vào mùa, hoa sẫm đen thành khối đứng trong trăng. Nhìn về phía làng, cây gạo nối một vệt dài thẳng tắp với hai khối đen sừng sững nữa, sáng ra mới nhìn rõ hai khối đen đậm bóng ấy cũng là hai gốc gạo. Một gốc giữa đồng, bên cầu quán. Và một gốc cuối làng, cao vượt hẳn lên trên nền cây lá sẫm xanh.


Là người duy nhất lên bến ấy trong đêm, gia tài của mẹ chỉ vẻn vẹn một đôi quang gánh. Một bên là cái bị cói đựng đồ và một đùm men rượu bọc trong lá chuối khô. Bên kia là đứa con gái nhỏ ngủ yên trong lòng thúng, ôm gọn trong lòng cái mõ gỗ hình con cá. “Cô có chắc là lên chỗ này không?” - ông lão lái đò tần ngần đỡ cây cầu ván, hạ xuống nửa chừng, lưỡng lự, băn khoăn. Cây cầu xoải từ mép thuyền nghiêng trên lợi sóng, nhún theo bước chân người. Gió ở đâu bỗng dồn về từng đợt. Chiếc mõ cá bắt đầu ngân từng vệt âm dài, lạnh và vang. Cây gạo rùng mình, buông một tầng hoa phủ kín vạt đất mềm dưới gốc. Đêm mẹ tôi dừng ở bến, dòng đang tĩnh bỗng duềnh lên, cửa sông vốn rất hiền bỗng dựng lên thành vách mở ra một xoáy nước rộng và sâu hun hút, réo ồ ồ từ trong lòng thẳm như tiếng âm binh.


Chỗ xoáy nước ấy về sau dân làng gọi là Vực Thủy Thần.


Tuổi thơ tôi quẩn quanh với gió và với sóng. Mỗi buổi sáng mẹ sang bên cầu, treo con cá mõ lên cây cột đầu tiên hướng ra sông, đặt tôi nằm trong lòng thuyền thúng trải rơm, mặc cho gió đồng quẩn với gió sông và sáo thủy thần ru ngủ rồi gồng quang gánh, băng tắt đồng sang chợ, non trưa trở về thong thả ngả chõng ở một góc cầu quán dọn hàng. Quán đầu bến lại cuối đồng là nơi nghỉ chân duy nhất nên chẳng lúc nào vắng khách. Ấm chè xanh,  tích nước vối ủ gừng, mẹt bánh đúc đậy tấm lá chuối già bóng sẫm ru lòng người lỡ độ.  Và đặc biệt chẳng lúc nào thiếu rượu - thứ rượu mẹ tự cất, đựng trong hũ sành, trong suốt đáy, chỉ cần nghiêng một chút là tăm sủi lên từng đợt, thơm sực lên trong mùi hương mát ngọt, sắc và nồng. Lớn lên một chút, buổi sáng, tôi tự mình sang  quán, bắc ghế, kiễng chân treo mõ cá rồi lần ra tận lợi sóng vầy nước một mình. Mẹ chẳng cản vì biết tôi bơi như rái cá, có thể lặn xuống, nguồn một mạch ra tận mép vực rồi quay về. Đôi khi tạnh nắng còn nằm nghe sông hát rồi ngủ quên dưới gốc gạo già. Lúc bừng mắt dậy chỉ thấy còn mình giữa nhập nhoạng mênh mông. Dòng trước mặt thẫm lại, đẩy bãi bờ ra tít tắp. Cánh đồng sau lưng dâng lên theo sương, im lặng đỡ mảnh mai một vệt khói chiều. Mẹ đã dọn hàng về, nổi lửa rơm nhóm bếp - nhóm một dải xanh lơ nối đất với trời.


Nhưng cũng có những tối mẹ tôi không dọn hàng mà treo cây đèn chai lên cột quán dưới con mõ cá rồi ngồi ôm tôi, im lặng chờ qua đêm nghiêng về sáng. Khách đặc biệt bấy giờ mới đến. Chỉ là đàn ông. Người lúc nào cũng ướt lướt thướt, rất kiệm lời, chỉ mua rượu và hẹn trả sau.


Đó là những đêm con nước.


Tháng nào cũng có hai đêm như thế.


Chỉ trừ mùa xuân, khi cây gạo đầu bến bắt mùa hoa. Những ngày ấy mẹ ở nhà ủ men cất rượu. Rượu nấu quanh năm nhưng men rượu chỉ làm vào mùa xuân, khi cây gạo bến sông bung lửa rừng rực thắp đuốc giữa mưa phùn. Những nắm men tròn như quả ổi găng hong trên giàn sấy dưới quầng lửa liu riu của thân mía tươi chẻ nhỏ thơm sực lên mùi khói mật keo lại trong thuốc bắc xen lẫn vị sắc nhưng không nồng mà man mát ngọt - vị của cánh hoa gạo sấy khô. Làng có ba cây gạo nhưng  chỉ có cây gạo bến sông, gần vực nước, hoa dầy và thẫm như máu mới cho cánh ủ men. Mùa hoa, hàng đêm, mẹ treo mõ cá lên cành nhánh, nghe mõ gọi, cây gạo cho bông nào rụng xuống mới nhặt đem về.


Cứ bình yên như thế đến năm tôi mười hai tuổi.


                                                            *


Mùa hoa năm ấy…


Dòng mùa xuân không bình yên mà cuồn cuộn lũ nghịch mùa. Nước đầu nguồn dồn về lật tung bờ bãi, mở xoáy miệng Vực Thủy Thần dấn sâu vào dựng vách nước sát mặt đê.  Âm binh rít điên cuồng từ lòng thẳm, nuốt chửng cả cánh đồng đang vào mùa xuống hun hút đáy sâu.


“Thủy Thần đòi người!”.


Mẹ nói với tôi như thế trong buổi chiều đầu tiên lũ về, khi hai mẹ con đứng trên mặt đê, thấy dập dềnh dưới chân mình sóng vỗ, thấy con đê mảnh như chỉ cõng đoàn người hộ đê như đàn kiến. Thấy sau lưng mình cánh đồng mướt mát xanh thì con gái, thấy làng mạc, cầu quán. Và thấy cả hai cây gạo già đang cháy rừng rực giữa hoàng hôn. Nếu Thủy Thần không dọa mà dấn thêm một nhịp, tất cả sẽ chôn vùi trong miệng vực. Nơi đây sẽ là sông. Như chưa từng có làng mạc, bãi bờ.


“Thủy Thần đòi người!”.


Mẹ thì thầm với tôi như thế rồi quay sang: “Ông bảo mọi người về đi! Ngày mai nước sẽ rút. Ở đây chẳng ích gì!”. “Sao cô biết?” - Ông lão chở đò ngang bên gốc gạo sửng sốt quay nhìn mẹ. “Con biết! Thủy Thần đòi người. Sáng mai nước rút, con đi rồi, ông trông nom cháu hộ con!”.


                                                            *


Đêm ấy mùa xuân…


Chỉ có tôi và mẹ trên mặt đê sũng nước. Mõ cá ôm trong tay im lặng không hát nữa. “Cha con đi trước rồi. Bây giờ đến lượt mẹ. Mõ cá là quà của cha. Con ở nơi đâu cứ treo lên trước gió. Mẹ sẽ tìm về.”. “Sao mẹ phải đi?”. “Sau này nếu có duyên, con sẽ hiểu. Còn không chỉ cần nhớ: Gia đình mình li tán là tội của con người chứ không phải ý trời.”.


Mẹ tôi về vực trong đêm  mùa xuân ấy.


Bàn tay ấm mềm rời tay tôi rồi nhoài ra ngoài mép sóng. Nước lút lưng, lút vai rồi lút cả mái tóc dài loang theo sóng hút về đáy vực. Trả lại bãi bờ. Trả lại gốc gạo già nguyên vẹn mùa hoa.


Tôi nằm lại trên mặt đê với mẹ tròn đêm. Mõ cá lại hát nhắc tôi ngày mai con nước. Tôi sẽ ra đầu bến nhặt hoa gạo ủ men. Quán bên cầu vẫn dọn hàng và sẽ không bao giờ thiếu rượu - thứ rượu đựng trong hũ da lươn, qua lần nút, nếu lắng nghe vẫn thấy sóng sánh mềm, thấy tăm sủi lên từng đợt, và thấy mùi thơm nồng vấn vít những ngón tay…


                                                II


Giữa con đường mòn nối từ bến sông vào làng có một cây cầu quán cũ bốn mùa trầm mặc đứng trong hun hút gió đồng. Cây mõ cá bao giờ cũng treo đầu cột cái. Cô chủ quán mái tóc mềm như sóng, đôi bàn tay với những ngón muốt dài quanh năm nồng hương rượu, một tháng đôi lần hai buổi chiều trước đêm con nước lại băng qua đồng ra bến, ngồi bên gốc gạo già, ôm mõ cá hướng ra sông.


Hôm nay cũng là một buổi chiều mùa xuân không hoàng hôn. Cây gạo bên cầu quán bắt đầu buông những cụm lửa đầu tiên xuống vạt nghiêng âm dương mái quán, xuống nền đất ẩm dấp dính tơ trời. Một đôi bông còn đậu trên hàng rào cúc tần đầu ngõ mùa này bắt đầu vấn vít tơ hồng.


“Hôm nay con nước. Sao con dọn hàng về?”. “Vâng! Con ra bến. Hoa gạo vào mùa rồi! Ông chuẩn bị hộ con chưa?”. “Cây đèn chai, giỏ mây ông để bên chái bếp. Cả nón và áo tơi.”. “Mưa ấm rồi ông ạ! Giậu cúc tần của con xanh lá lại rồi! Cả tơ hồng nữa. Chỉ tuần sau có rượu là ủ được!” .


Cẩn trọng và khẽ khàng, cô gái gạt lần lá cúc tần và dây tơ hồng khô trong thùng gỗ ủ hũ rượu từ mùa xuân năm ngoái: “Cúc tần vẫn còn thơm nguyên ông ạ! Hương rượu năm nay sắc hơn mọi năm! Cả cái hộp gỗ ủ chén ngọc này cũng thế! Ngày đi, mẹ con đưa bó cúc tần, cứ tưởng chỉ để giâm thành ngõ. Nào ngờ còn dùng lá khô để ủ rượu qua mùa. Năm nay còn có thêm cả dây tơ hồng nữa. Hũ rượu này con dâng Thần vực đêm nay.”.


Bao giờ con bé cũng ra bến một mình.


Năm nào cũng thế.


Ông nhớ mãi buổi sáng hôm ấy, khi quay trở lại cửa sông trước vực, đã thấy sông trả lại bãi bờ, thấy bình minh lên nồng như lửa. Con bé đang ngủ, đầu gối lên thân một bó cúc tần xanh, mõ cá ôm trong tay vẫn hát với mặt trời. Ông ứa nước mắt nghe nó thì thầm: “Mẹ con ngoài ấy!”. “Hai ông con mình về nhà đi!”. Con bé lặng lẽ đi theo ông về quán, quét dọn như ngày thường rồi nhờ ông hạ khung giàn sấy xuống: “Ngày mai con làm men.”.


Rồi đêm ấy nó đi… Thui thủi ôm mõ cá, nâng cái quầng đèn chai vàng tái xuyên qua mịt mùng đêm. “Ông cứ ở nhà! Con đi một mình thôi!”. “Con bé thế sao treo mõ lên cành được?”. “Phải nâng lên đầu để gọi hoa rụng xuống. Mẹ con dặn thế. Và chỉ được đi một mình…”.


Như đêm nay…


“Hũ rượu trong giỏ xách. Cẩn thận kẻo đường trơn!”.


“Con vâng!”


 Tiếng con bé chìm trong ngõ cúc tần cao ngang ngực nó. Đôi mầm lá xanh như ngọc nhoài xuống chạm tay vào miệng thúng có chiếc hũ da lươn. Mùi rượu thơm kéo thành sợi, sắc ngọt và mảnh như tơ. Hương cúc tần dưới chân dâng thành sóng. Cứ nương theo làn hương ấy là ra đến bến. Với cây gạo mùa hoa.


                                                *


Đêm yên lặng. Đâu đó hình như nghe tiếng bông gạo rơi nghiêng trên đất mịn.    Chấm đèn vàng lẫn vào sương.


Tiếng mõ cá chìm sâu trong gió.


Cô gái vượt chéo triền cỏ mượt lên mặt đê rồi băng qua gốc gạo già xuống bến. Đất dưới chân mịn như tơ trời. Dòng tĩnh. Sông mùa xuân  không gió nhưng có sóng. Sóng vẫn dựng thành vách nhưng yên tiếng âm binh. Cái tĩnh lặng như thế này chỉ có trong những đêm dâng rượu Thủy thần.


Mỗi năm chỉ có một đêm mùa xuân như thế.


Người con gái giở chiếc giỏ mây, mở nắp hộp gỗ lấy ra đôi chén ngọc đặt lên lòng đĩa men sứ men lam. Miệng chén khẽ chạm vào nhau. Một nét mảnh ngân rung lòng đêm tĩnh. Hương rượu  tràn lên, sóng sánh ánh đèn. “Đêm nay là đêm con nước đầu tiên của mười hai con nước. Mộc miên hoa lại vào mùa. Như thường lệ, con xin kính rượu Thủy thần!”.


Tiếng đêm thì thầm nghiêng theo triền sông. Gió bốn phía ùa về nóng hừng hực và nồng thơm như rượu. “Mộc miên tửu chén đầu tiên, là chén của con xin kính Thủy thần! Vẫn là Mộc miên tửu nước đầu tiên ủ tròn một năm trong lòng đất. Hương vẫn sắc thế nhưng năm nay ngọt thêm vị tơ hồng con sấy khô trên giàn củi mía. Ủ trong tơ hồng, bốn mùa rượu men hoa lúc nào cũng ấm. Ngày đi, mẹ để lại cho con mõ cá và một bó cúc tần, bảo giâm xuống rồi chờ tơ hồng đến. Sáu năm rồi cúc tần thành ngõ, lá thơm nhất vào những đêm mùa xuân nhưng năm ngoái mới nở tơ hồng. Con đem vị tơ hồng thêm vào men rượu. Năm nay, con xin kính Người Mộc miên tửu ủ tơ hồng.”.


Triền sông vẫn tĩnh. Gió vuốt theo những ngón tay, vẽ những đường rượu lấp lánh bạc trên nền đêm. “Mộc miên tửu chén thứ hai cũng là chén của con dâng Người, tạ ân Người luôn bên con che chở. Ngày đi, mẹ con dặn mõ cá là của Cha để lại, đi đâu nhớ mang theo, nghe mõ hát mẹ về. Sau này con mới biết, mõ cá là của Cha nhưng tiếng sáo hát ru con thủa bé lại là của Người. Sáo kể chuyện con nghe từ khi con còn nằm trong lòng thúng, đi cùng con xuyên đồng ra bến, gọi thần cây cho hoa rụng xuống để cả vùng  chỉ có duy nhất cầu quán này có rượu men hoa… Sáo dẫn con  ra ngoài lợi sóng, giục con bơi đi, ra tận ngoài mép vực, nắm lấy mép sóng trên cùng, buông mình vào lửng lơ khoảng không trên miệng vực, xoáy tròn. Ở đấy, trên đầu không là trời, dưới chân không là đất. Âm binh ngừng tiếng. Chỉ có mình con với hun hút vực Thủy thần…”.


 Sóng rì rầm  dưới chân. Dòng mùa xuân bắt đầu dâng lên mấp mé gót trần. Ấm và mềm như hơi thở. “Mộc miên tửu chén thứ ba con xin thay mặt Cha Mẹ kính Người! Sẽ có lúc con ngược sóng lên tận đầu nguồn, để tìm một cửa sông. Nơi ấy thác ghềnh vừa hết, dòng mở ra chuẩn bị chia đi muôn ngả, chỗ ấy ngày xưa cũng có vực Thủy thần, nghe kể chuyện về một người con gái phú ông yêu chàng trai đánh cá nghèo, lấy thuyền làm nhà, dạt trôi theo dòng nước. Âm dương hai thế giới, phạm luật trời nên duyên chẳng bền lâu. Người con trai đi trước  trong một đêm mưa gió, xác trôi về bến hạ nguồn có gốc gạo đang mùa hoa. Thủy thần thương người con gái, che chở cho lên bờ, theo về bến ấy nuôi con. Gia tài dưới vực mang theo chỉ là đôi chén ngọc trong hộp gỗ. Đôi chén ấy năm nào cũng được ủ cùng với rượu. Và chỉ để rót rượu dâng Người.”.


Những ngón tay bàng bạc nghiêng miệng chén rót vào lòng đêm tĩnh. Đêm thì thầm bên tai. Xuôi xuống cổ, xuống vai, xuống những ngón tay loang màu rượu lấp lánh, xuống đôi gót chân trần còn bện hương cúc tần mướt mát màu sương. “Con nấu rượu nhưng không uống rượu. Đêm nay là đêm đầu tiên con phá lệ, thay mặt dân làng đang yên giấc sau lưng xin kính cùng Người một chén tạ ơn. Tạ Thủy thần thương chở che cho bao năm bình yên bờ bãi. Đêm nay vực Thủy Thần sẽ đổi dòng. Con sẽ lại bơi ra, đứng giữa sóng để nghe dưới chân mình nước chuyển. Bao giờ dòng cũng chuyển từ con sóng đầu tiên cách bờ chừng một với, về hướng đông trước. Sau đó càng xa càng biến hóa khôn lường. Mặt trên sóng bao giờ cũng hiền nhưng miệng ngầm lại hút người, hút thuyền bè về vực. Con phải tìm ra hướng chuyển ấy trong đêm để sáng mai bảo ông chuyển bến đò ngang. Thuyền bè và dân làng cứ thế nương theo lánh dữ. Con biết Người thương con mới cho phép con làm thế. Cũng biết  Người và con làm thế là phạm luật thủy thần…”.


Đêm im lặng như nhung. Mịn mướt và mềm thơm như da thịt. Mộc miên tửu nghiêng những chén cuối cùng. Gió bắt đầu lên từ dưới đáy sông. Gió ẩm nhưng vẫn hừng hực và nồng như rượu. Dòng dưới chân thẫm lại, chuyển màu.


Vực Thủy thần bắt đầu đổi hướng. Một lần duy nhất đêm nay.


Gió bắt đầu gọi người. Gọi mái tóc cho xoải xuôi theo chiều sóng. Gọi da thịt  hắt ánh sáng ngược vào đêm. Da thịt trinh nữ mát như lụa, nõn nà thơm, ngọt như vị tơ hồng và mềm như hương rượu. Đôi cánh tay trần quạt nước rướn mình lên trên sóng.


“Ra ngoài vực cùng ta!


Chỉ còn đêm nay. Nếu bừng mắt dậy ngày mai sẽ khác. Bơi đi em! Nương trên đầu con sóng, đừng để dòng ngầm dưới chân với ngàn cánh tay cuốn mình về đáy vực. Nơi ấy không thuộc về em. Em phải ở trên kia, ôm mõ cá chờ ta trên bến, chong ngọn đèn dầu chai mỗi đêm con nước và uống cùng ta đôi chén ngọc Mộc miên tửu ủ tơ hồng.


Vực Thủy thần ngay trước mặt…


Ta là ngọn sóng đầu tiên. Thêm một nhịp nữa là nắm được. Nhịp cuối cùng…”.


Một khoảng mênh mông. Trên không là trời. Dưới không là đất. Đêm chụp xuống thành màn. Sóng dựng lên làm vách. Thịt da trinh nữ lấp lánh nước và rời rợi sáng. Dòng mùa xuân vẫn tĩnh nhưng ở trong đây chớp bể mưa nguồn.


                                                            *


Những ngón tay loang màu rượu vẽ những đường viền trong đêm. “Con không bao giờ nhìn thấy mặt Người nhưng ngón tay con sẽ nhớ! Kiếp sau con sẽ nhận ra Người bằng những ngón tay mình. Nhận ra bằng tiếng sáo Thủy thần và bằng vòng tay ấm mềm như dòng mùa xuân ngoài bến.”. “Và dấu hiệu chờ ta là một gốc gạo già.”. “Thì bến này có gạo. Con ở đây đợi Người! Nhưng…”. “Nhưng gì thế?”.  “Con thấy hình như có sự bất thường.”. “Em đã thấy? Nói ta nghe!”. “Dòng ngầm ngoài kia không định hướng mà lan rộng. Sát vào bờ. Chân vực ăn vào mặt trong đê rồi Người ạ!”. “Em giỏi lắm! Không hổ là người của Thủy Thần! Em biết gì thêm nữa?”. “Mười tám năm một lần vực Thủy thần đổi bến. Đúng không Người? Nhưng đổi bến về đâu? Chân vực lấn vào đê… Chẳng lẽ vực đổi bến vào trong ấy? Sao Người im lặng thế? Đúng không Người?”. “Em biết hết rồi còn hỏi làm gì nữa!”. “Nhưng trong ấy là làng mạc?”. “Bến mới đã được định sẵn từ bao nhiêu năm trước em biết không?”. “Từ lúc con ra đời. Và không ai thay đổi được. Trừ Người… Nhưng làm thế là phạm luật Thủy thần…”. “Em đừng khóc. Đau lòng ta lắm!”. “Con yêu Người!”. “Ta đi rồi em đưa con về bến mới. Treo mõ cá lên, ta nghe mõ hát tìm về. Nhớ mang theo bó cúc tần và dạy con nấu Mộc miên tửu ủ tơ hồng!”. “Con vâng!”. “Đừng khóc! Cho ta yêu em thêm lần nữa! Lũ sắp về rồi!”.


Ngoài kia cuồn cuộn lũ nghịch mùa. Nước đen quánh lừ lừ dâng lên, yên lặng mở dòng lấn sát mặt đê.


Ở trong đây vẫn chớp bể mưa nguồn.


Rồi sấm sét. Rồi mưa. Rồi âm binh gào rú. Cuồng phong dựng nước lên ngang trời. Mỗi lần sét rạch màn đêm lại thấy trên mặt đê, dưới gốc gạo già đang mùa hoa có hai bóng người một nam, một nữ, nắm chặt tay nhau đối mặt với vực Thủy Thần.


Sáng hôm sau nước rút.


Chẳng ai biết điều gì đã xảy ra đêm trước. Chỉ thấy bờ bãi tan hoang như vừa qua một cuộc thủy chiến. Xác cá tôm dạt vào đầy bến. Dòng vẫn sủi ngầu lên như máu. Tanh nồng. Giữa sông, nổi lên xác một con giải lớn nằm trên chiếc bè kết bằng ngàn vạn thân cúc tần xanh tỏa hương thơm buốt cả một triền mênh mông sóng.


Vực Thủy thần không còn nữa. Cả cây gạo. Cả cầu quán… Tất cả biến mất như chưa từng có bao giờ. Bến bình yên như hàng trăm năm vẫn thế.


Và người chở đò ngang nói rằng ông nghe kể, phía dưới nữa hạ nguồn cũng có một bến sông. Có một vực Thủy thần sóng dựng lên thành vách, quanh năm nước réo ồ ồ như tiếng âm binh. Ở đó có một cây cầu quán cũ, mái ngói âm dương xô từng mảng, nằm bên gốc gạo già. Cô chủ quán ánh mắt mềm như sóng, những ngón tay loang màu rượu, mỗi đêm con nước lại treo cây đèn chai lên cột quán, ôm đứa con gái nhỏ với mõ cá trong tay, hướng về vực sâu hun hút đợi chờ…


Cái quán ấy, về sau dân làng gọi là Quán Thủy Thần.


NHY.


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


trieuxuan.info