Truyện ngắn
27.06.2009
Viễn Phương
Kế Châu Do (2)

Ba Đấu hỏi tiếp:


- Có phải nó lẩm nhẩm:


“Ai về nhắn với Châu Công Cẩn


Thà mất lòng anh, đặng bụng chồng.” không?


Sầm Bành sáng con mắt lên:


- Phải rồi! Vậy đó! Sao chú biết hay vậy?


Ba Đấu cười hô hố:


- Đó là mấy câu thơ của ông Tôn Thọ Tường nói về bà Ngô phu nhơn.


Tư On nóng nảy cắt ngang:


- Mà cái đám nầy có dính líu gì tới tụi vượt biên không?


Ba Đấu vẫn tỉnh rụi:


- Có chớ!


Tư On đắc ý, vỗ đùi đánh bốp:


- Biết lắm mà! Nghi là. đúng! Nghi là. đúng!


Ba Đấu vẫn tỉnh queo nói tiếp:


- .Ừ. vượt biên theo ông Khổng về với Lưu Bị hồi thời Tam Quốc.


Tư On ngồi đực mặt, bần thần lẩm bẩm:


- Chuyện ông Khổng hồi đời “cố lỷ cố lai”. cái thằng mặt lông nó còn nhắn nhủ chi cho rối vậy? Làm người ta tốn công mấy bữa.


Ba Đấu cười hề hề giải thích:


- Thì cái ý của nó nói mình như là anh, Mỹ mới là chồng nó. Thà mất lòng anh là Việt Nam mà vừa bụng chồng là Mỹ. Ba Đấu đã học xong cấp ba lại thích đọc văn chương lắm nên hiểu biết khá nhiều về văn học.


Sầm Bành nổi giận trợn con mắt trắng dã:


- Nó nói Mỹ là chồng nó hả. để tối cháu chở nó ra biển, cháu đạp nó xuống biển cho nó lội về Mỹ với chồng nó.


Tư On cau mặt:


- Thôi mầy! Nghe có mấy câu mà cũng không đúng còn quạu “ẩu”, phải nhớ chánh sách chớ.


Sầm Bành xẻn lẻn rút êm.


Từ đó Sầm Bành không kêu Tư Đém là thằng mặt lông nữa mà theo đúng chánh sách nó kêu là anh Châu Văn Cẩn đàng hoàng.


Tư Đém thì từ khi biết Sầm Bành hăm đạp mình xuống biển để lội sang Mỹ cũng hết dám ngâm thơ Châu Công Cẩn. Nó tâm sự với bạn tù:


- Tao cũng dân “dao búa” mà sao tao ngó mặt thằng Sầm Bành nầy tao ớn quá! Con mắt nó tròng trắng không! Trợn lên trắng dã. Cái tướng nầy, chọc nó giận nó dám dứt ẩu lắm đa!


Từ đó Tư Đém cũng trở nên ngoan ngoãn. Còn bạn tù thì từ đó cũng kêu thành danh Tư Đém là Châu Do cho gọn vì Châu Do với Công Cẩn cũng là một.


Nhưng hãi hùng nhất đối với Tư Đém là chuyến vượt biên thứ ba mà nó cũng tính đó là trận cuối cùng.


Lần thứ ba ra biển chạy được hai ngày tàu hết xăng, chơi vơi giữa mênh mông trời nước, gặp hải tặc. Thằng nào thằng nấy mặt mày như thiên lôi quỷ sứ, lớp cầm súng, lớp cầm chỉa, lớp cầm đinh ba, mã tấu, cặp lại nhảy qua đụng ai lụi nấy. Tư Châu Do nhanh trí quớ cái thùng “can” không nhảy đùng xuống biển.


Sóng dập, gió dồi suốt một ngày một đêm mới gặp đoàn tuần tra. Nó nói cái mạng nó lớn lắm mới còn sống sót. Những người cùng đi chuyến ấy không bao giờ còn gặp lại người nào. Nghe nói đàn ông thì bị hải tặc đập đầu, bắn giết vụt xác xuống biển, đàn bà thì bị hiếp dâm đến chết rồi cũng vụt xuống biển luôn. Ai còn sức, còn xài được thì chúng bắt theo, đưa đi mất tích. Chiếc tàu, chúng bửa cho chìm luôn. Lần nầy, nhờ miệng lưỡi Châu Do, Tư Đém khỏi ở tù nhưng nó tuyên thệ với “Đức A La” không bao giời vượt biên nữa.


Bây giờ nói tới chuyện vượt biên, nó còn nghe gai ốc nổi cùng mình, nhưng giấc mộng xuất cảnh sang giàu thì nó vẫn ngày đêm ấp ủ. Nó quyết bằng mọi cách cặp tàu theo gia đình bà giáo mà đi xuất cảnh hợp pháp, công khai, sang trọng quý phái như các đấng Việt kiều.


*


*           *


Từ ngày Tư Đém về làm rể trong nhà, bà giáo ít khi nói chuyện với nó. Mà có chuyện gì để nói. Tụi nó thì tính toàn chuyện mưu mô, chụp giựt, mánh mung lường gạt. Còn bà thì suốt đời chỉ biết nhân nghĩa, đạo lý. Đêm về lo niệm Phật, tụng kinh.


Nhưng cũng may là nó chưa dám hỗn với bà. Có lẽ nó thấy bà hiền quá nên nó nể. Hơn nữa có lẽ nó cũng sợ quả báo.


Bà trăn trở mãi, bà buồn, bà giận, nhưng nào biết giận ai? Giận con gái? Giận thằng rể? Hay giận mấy cái. thùng. của thằng Trung? Ba cái của nầy, nó chen vô tới đâu thì nát tan tới đó. Vậy mà sao người đời mê nó quá? “Thời buổi nầy bà suy nghĩ như thế hèn chi rể con nó khi bà “quá đát”.


Từ ngày bà đồng ý xuất cảnh thì không khí gia đình có dễ thở hơn. Cô Ba Hiếu cũng tỏ ra hiếu thảo hơn, đối với bà nó dịu dàng hòa nhã hơn, ít khi dằn mâm, xán bát.


Bà cũng tạm yên sống chờ ngày lên đường. Đêm nào bà cũng thao thức, suy nghĩ, bà cố hình dung cuộc sống ở nước ngoài, bà giở tự điển Larousse tìm xem các nước Belgique ấy nó thế nào.


- Ờ theo tự điển: nước nầy nằm giáp nước Pháp về phía biển Bắc. Nước cũng nhỏ thôi, dân số chưa đầy mười triệu. Nước còn có vua, có nuôi nhiều bò nhiều ngựa, ruộng rẫy cũng nhiều. có lúc cũng bị Pháp đô hộ. Vậy cũng giống nước mình. và bà thấy cũng vui vui.


Còn thằng Trung, nó làm gì bên đó sao nó cũng không nói rõ. Nó nói nó làm nhà thương. Ừ thì làm nhà thương. Nhưng làm nhà thương là làm cái gì mới được chớ? Bác sĩ? Y tá? Y công hay giám đốc bệnh viện? Biết đâu? Nhưng bà nghĩ, gì thì gì, nó không thể làm thấp hơn cái nghề trung sĩ phát lương của nó. Đã bỏ xứ sở “đem chuông đi đánh xứ người” thì phải lập nên sự nghiệp chớ! Bà nghĩ thế và cũng thấy hơi vui vui. Bà hy vọng.


Thủ tục đã xong cả rồi. Việc ra đi của bà chỉ còn là vấn đề thời gian. Vợ chồng Ba Hiếu mừng như mở cờ trong bụng. Kế Châu Do đã hiệu lực bước đầu. Mà bước đầu là bước khó khăn nhất. Đầu xuôi đuôi lọt mà.


*


*           *


Bữa bà giáo ra sân bay sang Bỉ, cả xóm đều đi đưa. Bà khóc mùi và nhiều người khóc. Ở cái tuổi gần thất thập của bà, ra đi biết có còn thấy lại Tổ quốc quê hương, biết có còn gặp lại bạn bè quyến thuộc.


Vợ chồng Ba Hiếu cũng đi đưa tiễn. Nhưng bà vừa bước vào phòng cách ly, máy bay chưa cất cánh là hai đứa đã vội vã nhảy lên xe cúp đèo nhau chạy ù về nhà. Chúng chuẩn bị bữa nhậu thịt “thầy” để tiếp đãi đám bạn chợ trời, ăn mừng ngày thực hiện kế hoạch Châu Do, cũng là ăn mừng cái ngày chúng được hoàn toàn tự do, được hoàn toàn làm chủ ngôi nhà nầy. Bà già ra đi, từ đây không còn ai cản mũi cản lái chúng trong việc mánh mung và nhậu nhẹt. Bọn chợ trời nâng ly hét vang: “Hoan hô đại ca!. Hoan hô!”. Tư Đém xúc động cười hà hà. chòm lông heo giựt giựt.


*


*           *


Bà giáo sang Bỉ. Mẹ con xa cách trên mười lăm năm, gặp lại nhau mừng mừng tủi tủi. Hai đứa cháu nội, một trai, một gái quấn quýt lấy bà. Hai đứa nhỏ ngoan ngoãn, dễ thương quá. Con dâu cũng hiền thảo.


Hai Trung thì có mập mạp trắng trẻo hơn, nhưng sao da thịt nó coi bủng xì như miếng mắm “bò hóc”. Bà nghĩ, có lẽ tại xứ nầy thiếu nắng.


Từ ngày có bà sang, cửa nhà vui vẻ và ấm áp hơn.


Cô dâu mét với bà: Từ khi có má sang, anh Trung vui vẻ hơn. Trước đây ảnh dàu dàu suốt ngày. Động một chút là cau có, quạu quọ. Ảnh hay rầy rà con, hay nạt nộ mấy đứa nhỏ.


Bà nghĩ: “Có lẽ tại nó nhớ xứ sở quê hương, nó buồn; chớ còn bà, bà biết. Từ nhỏ tánh tình của nó điềm đạm, trầm tĩnh, dịu dàng như con gái. Ít khi nó quạu quọ gây gổ”.


Trung đi làm việc về đêm. Mỗi ngày, độ tám giờ tối thì nó ra đi, đến bảy tám giờ sáng nó mới về tới nhà.


Hỏi nó làm gì? Nó cau mặt không nói. Nó chỉ nói nó làm ca đêm. Thế thôi. Bà chú ý trong nhà, không có ống chích, không có ống nghe, không có sách thuốc. Chắc nó không phải là bác sĩ.


Buổi sáng, về tới nhà coi bộ nó mệt lắm. Nó tắm rửa kỳ cọ rất kỹ. Xong xuôi nó ăn sáng qua loa rồi ngả lưng ra ngủ như chết.


Bà thường ngồi nhìn con ngủ như ngày xưa lúc nó còn nhỏ. Bà thấy hình như giấc ngủ của nó không được yên tĩnh. Trong giấc ngủ, nó thường nói ú ớ, nói mê, nhăn mặt, nhíu mày rồi giật mình thét lên, bật ngồi dậy, hãi hùng.


Bà thấy hình như thần kinh nó không ổn, bà rất lo cho sức khỏe của nó.


Bà lại gặn hỏi nó làm nghề gì? Nó nín lặng hồi lâu, rồi trả lời cụt ngủn: “Làm nhà thương!”, rồi bỏ đi, vẻ giận dỗi.


Bà lại hỏi riêng vợ nó. Con vợ cũng kín miệng như thằng chồng: “Ảnh làm nhà thương, má à!”. Cô dâu trả lời dịu dàng, lễ phép nhưng chẳng hé ra một điều gì khác: cái điều mà bà muốn biết.


Bà lại được thơ Ba Hiếu gởi sang. Đây là bức thư thứ ba trong vòng một tháng. Nó than giá cả tăng vọt, cuộc sống khó khăn không có hàng để bán. Từ ngày bà sang đây, Hai Trung không có gởi thùng về nữa. Mà như thế, nghĩ cũng phải. Gia đình Hai Trung đâu có dư giả gì. Qua bên này bà mới biết. Chẳng qua thương mẹ, thương em thì chắt mót gởi về. Còn bây giờ mẹ đã sang đây, nó phải lo nuôi mẹ. Còn con Hiếu đã có gia đình riêng rồi thì phải ráng mà lo liệu với nhau chớ ai nuôi tụi nó suốt đời cho được.


Nhưng theo trong thơ thì điều cấp bách nhất hiện nay đối với gia đình Ba Hiếu là: “Má phải lo tiến hành bước thứ hai của kế hoạch tức là má phải lãnh cho con sang gấp.” rồi sẽ tính nữa.


Bà suy nghĩ nhiều. Tuy trước đây có lúc Ba Hiếu ăn ở với bà không ra gì. Những lúc ấy, bà cũng có hờn, có giận, nhưng bây giờ, sống ở xa, bình tĩnh suy nghĩ lại, bà thấy thương con. Nó muốn sống sung sướng thì có tội tình gì? Trên đời, ai không muốn sống sung sướng, miễn là đừng làm điều gì trái đạo lý. Nó lo tương lai cho con nó. Ai mà không lo cho tương lai, hạnh phúc của con. Như chính bà đây, con của bà đã an bề gia thất cả rồi mà bà vẫn lo cho nó từ bữa ăn giấc ngủ. Ôi! Tình mẹ thương con như biển hồ lai láng.


Phải lo lãnh nó sang thôi! Phải bàn với thằng anh nó. Bà đã suy nghĩ kỹ rồi. Hồi nào tới giờ anh em nó thương nhau lắm.


Một bữa sáng, Hai Trung đi làm về, tắm xong vừa ngồi vào bàn ăn sáng thì bà giáo đến ngồi bên. Giờ nầy chỉ có hai mẹ con ở nhà. Vợ Hai Trung đưa hai con đi học và lo chuyện chợ búa.


Nói chuyện riêng gia đình giờ nầy thật là thuận tiện. Bà bắt đầu gợi chuyện:


- Trung à! Em con nó ở bên nhà cực khổ lắm, má lo cho tụi nó quá. Không biết sinh sống ra sao?


Trung vẫn cúi gầm mặt vào đĩa “óp pla”.


- Thì ai sao nó vậy. Bên này có sung sướng gì.


Bà giáo tiếp lời:


- Hay là con coi bảo lãnh cho nó qua. Có mẹ có con, có anh có em.


Bà nói chưa dứt lời, Trung bỗng đẩy mạnh đĩa trứng ra, đấm rầm xuống bàn rồi khóc ngất. Ly sữa nhảy tưng lên rồi rớt xuống. sữa trong ly sóng sánh bắn tung cả ra mặt bàn.


Trung rên rỉ: “Trời ơi! Trời ơi!”.


Nước mắt nó chảy tràn xối xả.


Bà giáo phát quýnh, đứng dậy nhìn nó trân trân:


- Chuyện gì? Chuyện gì vậy con?


Trung bỗng ấm ức thét lên, nói trong tiếng nấc:


- Bộ bên nhà tưởng bên nây con sung sướng lắm sao? Con không muốn cho ai biết hết. Cả má, cả gia đình, con cũng giấu. Má biết con làm nghề gì không? Con làm nghề gì má có biết không? Qua bên nây thất nghiệp suốt mấy năm, ăn trộm không được, ăn cắp không được, ăn mày không được đối cùng phải làm cái nghề nầy. Má có biết con làm nghề gì chưa? Nó lại khóc nức nở. Bà vỗ về con:


- Bình tĩnh lại con! Bình tĩnh lại! Có gì thủng thẳng nói! Đừng khóc lóc la hét. Con làm má sợ.!


Nó lại gào lên:


- Bình tĩnh! Bình tĩnh sao được! Con muốn phát điên lên đây nè! Má có biết hiện nay con đang làm nghề gì chưa? Trời ơi là trời. Cái nghề gì mà độc địa vậy trời.


Nó gục đầu vào tường khóc ngất, khóc đến lặng người.


Hồi lâu. cơn đau lắng xuống nó đến bên bà gằn từng tiếng, hàm răng khít rịt:


- Má biết con làm nghề không? Con của má đang làm nghề rửa xác chết, rửa thây ma. Má có nghe không? Con của má làm nghề rửa thây ma. Nó nín lặng hồi lâu rồi nói tiếp:


- Bác sĩ mổ xác bịnh nhân xong, về nghỉ, con đến, sắp xếp lại ruột gan tim phổi, rồi rửa ráy cho sạch máu me trước khi liệm. Những người bị tai nạn xe cộ, dập nát đầu, bể banh ngực. đem về đó. con đến con rửa ráy, sắp xếp lại. Cái nghề của con ghê gớm lắm. Má biết tánh con từ nhỏ, con nhát nhúa, hiền lành; ban đêm thì sợ ma quỷ, ban ngày gặp người lạ cũng sợ, giữa trưa cũng không dám đi ngang bãi hoang, xóm vắng. Vậy mà bây giờ, hằng đêm, con phải tiếp xúc với người chết - những xác chết vì bạo bịnh, vì tai nạn ghê gớm, chết bất đắc kỳ tử. Có những vụ án mạng, năm bảy ngày sau nhà chức trách mới phát hiện, xác đã sình trương thối rữa, có những xác chết vì đâm chém gan ruột đổ từng đống, dòi bọ lúc nhúc, thứ dòi lớn bằng ngón tay, có lông đen như con sâu rọm, ngó thấy phát rùng mình, ớn lạnh. mùi hôi thối của xác chết, má đâu có biết. Trời ơi!. Con ói, con mửa. Con nốc rượu vào cho say, cho điên, cho hết biết mình là ai. Con đâu phải là con nữa. Con chỉ nghĩ đến tiền. đồng tiền nuôi vợ, nuôi con, nuôi em, nuôi mẹ. Còn tấm thân con, ghê tởm lắm, hôi hám lắm. Có phải con ở tận đáy xã hội nầy rồi không? Vậy đó. con của má vậy đó. Ngày xưa. Con còn nhỏ. má xem con như vàng như ngọc. má hôn cả bàn tay con, bàn chân con. con lỡ té trầy da chảy máu má đau lòng xót ruột. còn bây giờ. con của má vậy đó. con đã lăn vào những nơi ghê tởm nhất, hôi thối nhất. Tất cả chỉ vì đồng tiền, vì cuộc sống. Không làm thì đói. Muốn xin làm ban ngày cũng không được. Ca ban ngày tụi Bỉ nó dành hết rồi. Nó cũng sợ ma. Con phải làm ca đêm. Sợ ma thấy mẹ! Nhưng (nó lại nghiến răng) vì đồng tiền. Con sợ lắm má ơi! Buổi sáng, về đến nhà, con nghe ở đâu cũng có mùi xác chết. Con tắm rửa kỳ cọ. Mùi xác chết vẫn theo con. Nằm nhắm mắt, con thấy xác chết lởn vởn trước mặt. Trong mơ, con thấy toàn xác chết. Con ghê tởm cả con. Sang đây mấy tháng rồi. Má thấy đó. Có khi nào con dám hôn mấy đứa con của con đâu? Con sợ mùi xác chết bám vào nó. quanh con đâu cũng có mùi xác chết. Nghề của con còn ghê gớm hơn nghề đạo tỳ, ghê gớm hơn nghề liệm xác. Vinh dự gì đâu má ơi!. Con giấu, con giấu tất cả mọi người, con giấu cả má, cả em. cả con con nữa. Vậy mà tụi nó còn muốn sang đây. Sang đây sung sướng như vậy đó.


Rồi Trung gục xuống, ôm lấy đầu rên rỉ:


- Không được! Không được! Đừng cho tụi nó qua đây má ơi!. Má ơi!.


Bà giáo đứng chết trân, im lặng như trời trồng, đôi mắt ráo hoảnh. Con của bà. nó khổ đến nước nầy sao? Ở bên nhà. Khi tới tuổi quân dịch. cả xóm lo cho nó khỏi ra mặt trận, lo cho nó làm trung sĩ phát lương. sợ bàn tay nó chạm đến cò súng. vậy mà. bây giờ hai bàn tay ấy hằng đêm nó vọc vào xác chết. Trên đất nầy bây giờ. ngoài bà, ngoài vợ nó, ngoài con nó. Không còn một ai lo đến nó. Ôi! Con hẻm nhỏ thân yêu. phải chi có những người ấy! Bà mụ Có, bác Hai xích lô, chú Bảy thợ hàn. thì chắc chắn nó đâu khổ sở đến nỗi này.


Bà thấy nhớ da diết con hẻm nhỏ nghèo nàn, ấm áp xóm Bàn Cờ. Khi bà nhìn lại. Hai Trung đã bỏ đi rồi. Nó đi đâu? Đứa con thương yêu của bà? Nó đi đâu rồi? Phải nó đi trốn mùi xác chết? Nó đi trốn bà. Nó đi trốn bản thân nó.


Ngoài trời, tuyết bắt đầu rơi.


Bà nhìn ra trời xa, đôi mắt ráo hoảnh. Đôi mắt bà sao mà bầm đen, sâu hoắm. Hai giếng mắt khô cạn. Bà đâu còn nước mắt.


*


*           *


Đã ba giờ chiều. Sài Gòn trời nắng như thiêu. Tư Đém cởi trần quần cụt đang ngồi nhậu giữa nhà. Trên bàn, chén dĩa lỏng chỏng, chỉ còn ba cái đầu cá trơ xương, mấy cái khu lẳng khô khốc, vài cọng rau héo. Cuộc nhậu kéo dài từ 9 giờ sáng đến giờ vẫn chưa dứt. Mấy thằng bạn hữu chợ trời đã “gục” ói mửa tùm lum. Chỉ còn Tư Đém ôm chai đế mắt đỏ như tôm luộc, nói lè nhè:


- Năm thằng. mới sáu lít mà gục hết rồi. chỉ còn đại ca đứng vững.


Nó vừa nói vừa gục tới gục lui.


Bỗng Ba Hiếu bước vào. Mặt nám đen nám đỏ. Cô vừa từ chợ trời về tới.


- Có thơ của má! Cô vừa nói vừa móc túi.


Tư Đém tỉnh rượu ngay. Nó giơ tay chộp lấy lá thư giở ra, đánh vần đọc, bầy ruồi xanh cứ vo ve quanh cái mồm hôi hám của nó. Nó tức tối vỗ “bốp” vào má. “Đ.M. mầy!”. Nó chửi bầy ruồi. Rồi nó lè nhè lải nhải:


- Không phải thơ của bà già. thơ của thằng anh Hai mà.


Nó rặn từng chữ. từng chữ. bỗng nó vụt lá thơ xuống đất, trừng mắt ngó Ba Hiếu:


- Đ.M. thằng Hai viết thơ in con c. Nó biểu tui đừng qua! Nó nói ở bên đó cực lắm. nhục lắm. Cực lắm. nhục lắm. sao nó cứ ở lì ở bển? Cực sao nó không về bên nầy ở. cho sướng?


Nó lại quắc mắt, chỉ tay thẳng vô mặt Ba Hiếu:


- Đ.M. Mầy viết thơ đòi bà già về! Biểu thằng anh Hai mầy trả bà già lại cho tao. rồi gởi thùng về tao làm. tao nuôi bã tới mãn. Từ bà già đi. nó cúp viện trợ tao. Đ.M. Mỹ nó cúp viện trợ. Nguyễn Văn Thiệu còn ngủm, hà huống chi tao?.


Nó lảo đảo đứng dậy. Ua ụa ọt ọt mấy tiếng rồi. ào! Xà tất cả những gì nó tọng vào họng từ sáng tới giờ bỗng xà ra đường miệng, đường mũi. Nó nôn thốc nôn tháo, ba cái đồ uế tạp ấy bắn cả vào đầu vào mặt mấy thằng bạn say đang nằm ngất ngư dưới đất.


Một thằng sực tỉnh, nhướng mắt, lè nhè:


- Cái gì? Cái gì vậy? Trời mưa hả?.


Rồi chẳng cần trả lời, nó giơ tay phủi phủi những cơm, những rượu, những nhớt, những dãi đang văng tung tóe cùng mặt cùng đầu nó. Rồi nó lại day ngang, nằm úp lại, ngủ tiếp.


Tư Đém cố nhổm dậy, chỉ thẳng tay vào mặt Ba Hiếu, nghiến răng nghiến lợi:


- Đ.M. Không cho tao qua hả. chừng đại ca qua bển được. Đại ca cho mấy thằng em út chém thấy mẹ hết.


Nói chưa dứt câu, Tư Đém lảo đảo rồi bỗng ngả uỵch xuống, huynh hoang như cái xác chết sình.


Ba cái tiết canh chó trào ra miệng đỏ ngầu.


Cô Ba Hiếu nhìn cái hình ảnh ghê gớm ấy chợt nhớ đến lớp Châu Do thổ huyết trong tuồng Tam Khí Châu Do trên sân khấu hát bội.


Cô đứng chết trân một lúc rồi ôm mặt khóc hu hu.


Con chó mực từ trong bếp chạy ra nhìn cái hiện trường hỗn độn ấy, cúi xuống ngửi ngửi mấy bộ mặt tanh hôi rồi như quá hãi hùng vì mùi xú uế quá lạ lùng này, nó bỗng tru lên một tiếng dài rồi cụp đuôi chạy mất.


 


Tháng 3-1991


Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.

trieuxuan.info