Phố mới có nhiều thứ mới, nhất là nhà. Đa phần là nhà mới xây. Đủ loại kiểu dáng kiến trúc. Nhà ấy không phải là nhà mới xây, cũng không phải chỉ là nhà cũ cải tạo nâng cấp. Bởi, trong đó, có cái mới xây, có cái cải tạo nâng cấp... Nói là nhà cũng được, nói chung cư hay một tổ hợp nhà cho thuê cũng đươc. Một khối kiến trúc mái bằng vuông thành sắc cạnh lắp kính màu theo đúng chuẩn nhà hộp hiện đại của nền văn minh máy điều hòa nhiệt độ cộng thức ăn nhanh. Kế đó là một cấu trúc mái ngói, tường gạch có nhiều cửa sổ và rèm cửa thêu đủ các loại hoa. Một sắc thái của nền văn minh cơ khí phát triển. Ở dưới, nơi phía sau của hai nền văn minh ấy là một căn nhà nhỏ lợp lá dừa nước, cây cối um tùm, ngày hai lần tỏa khói xanh lam và mùi gỗ mục. Nhà ấy có 8 người. Đứng tên chủ hộ là ông Bảo. Không có trẻ con. Nói cho hợp nhẽ đời, là chưa có trẻ con. Ba thế hệ chung sống theo cấu trúc từ dưới lên. Ông nội, cha ông Bảo ở nhà lợp lá dừa nước, coi như ở dưới trệt. Ông không chịu ở trong nhà hộp, bảo ở đó không khác gì bị đi tù. Vợ chồng ông Bảo ở nhà lợp ngói, địa thế mặt tiền. Con cái ở nhà hộp mái bằng lắp kính màu ở sau. Ba người con đều là những người lớn thứ thiệt. Người trai đầu đã 30 tuổi là phó giám đốc một công ty trách nhiệm hữu hạn, có rất nhiều bạn gái nhưng lên kế hoạch đến 35 tuổi mới lấy vợ. Người trai thứ hai 28 tuổi, giảng dạy khoa học ở trường đại học, chưa thấy dẫn bạn gái về nhà, cũng không thấy kế hoạch cưới vợ. Người con gái út 25 tuổi làm việc ở một công ty du lịch, quen biết nhiều, giao thiệp rộng, nhiều bạn trai nhưng chưa có ý định lấy chồng. Ba người con, ba tính cach và sở thích khác nhau. Họ thường xuyên vắng nhà. Có về cũng chỉ để ngủ qua đêm. Ông nội ca cẩm, rền rẫm:
– Tụi nó coi căn nhà này như quán trọ.
Ông bố hớn hở, vui vẻ bào chữa cho con:
– Thanh niên thời nay là vậy. Mốt đấy!
Ông nội lo lắng:
– Phải có cách gì để biet chúng đi đâu, làm gì chứ?
Ông bố trịnh trọng nói:
– Tụi nó đều là cán bộ, công chức, công dân có danh tiếng trong xã hội. Luật pháp quản lý chúng.
Ông già miệt vườn hay bị mắc nghẹn trong họng, ậm è một lúc, mới bật ra được câu nói:
– Thế còn gia đình?
Ông Bảo thản nhiên bảo:
– Gia đình hay xã hội đều vậy thôi. Ai chi tiền người ấy làm chủ, người ấy quản lý...
Ông nội muốn thấu hiểu một nhẽ, gặng hỏi tiếp:
– Anh nói vậy là ý làm sao?
Ông Bảo có công chuyện vội đi, nhanh chóng xuê xoa:
– Ba hiểu kỹ làm gì! Thế là được rồi...
Chưa bao giờ hai người to nhất trong nhà nói chuyện với nhau được 5 phút. Mọi câu chuyện đều được diễn ra ở ngoài cửa khi ông Bảo đi giày và kiểm tra lại lần cuối hình dáng ở chiếc kiếng lớn. Kết thúc mọi câu chuyện “tiện dịp gặp nhau” bao giờ cũng thuộc về ông Bảo: “Thế là được rồi!”.
Ông nội rút về nhà vườn, nổi lửa đun nước. Ông Bảo lên xe Honda đi đây đi đó, đến các công trình xây dựng và quán nhậu. Trước uống bia, sau uống rượu Tây. Ngày nào cũng vậy. Nửa đêm mới về.
Ông Bảo và vợ ở nhà lợp ngói. Ông ghét máy lạnh. Thích sự thông thoáng. Ông bảo, ngủ trong ánh trăng sao mới khỏe, mới tự nhiên. Vợ ông cũng có sở thích như vậy. Từ ngày nghỉ hưu, cũng như ông, bà bỏ tiền hùn vốn mở một cửa hàng ăn uống. Quán “Nướng” của bà làm ăn phát đạt, tưng bừng nhộn nhịp suốt từ trưa cho tới nửa đêm. Bà làm công việc thu tiền. Một việc làm ưa thích, lại rất hợp với tính cẩn thận của bà. Ông và bà đều phát tướng như nhau. Cái giường ngay xưa vừa đủ cho hai người, nay trở nên chật chội. Vậy là ngủ riêng. Mỗi người một giường. Khoảng cách hai người lại được dãn xa hơn khi ông thích xem phim bộ kiếm hiệp, bà thích các băng tấu hài. Hai tivi, hai đầu máy để trong một phòng chẳng tiện chút nào. Ông nói thợ ngăn đôi phòng bằng những tấm ván gỗ ép phủ sơn chống cháy. Thỉnh thoảng, bà dò xét, chất vấn:
– Ông có bồ nhí hả?
– Có thì sao? – Ông cười, hỏi lại. Thái độ tự tin, tư nhiên của ông khiến bà yên tâm.
Bà thuộc dạng đàn bà không bị cảm tính chi phối. Niềm tin không dựa vào tình cảm. Nó được tạo ra từ những dữ kiện, dữ liệu và sự phân tích, khái quát.
Bà biết rõ, ông là thứ đàn ông ham vui, thích chỗ đông người, tán chuyện hão huyền nhăng cuội, không có máu “thả dê bừa bãi”. Thêm nữa, ông là tay keo kiệt có hạng, không bao giờ chi tiền mà không tính lời lãi ở chỗ nào. Từ ngày bụng phưỡn to như đàn bà mang thai đến tháng thứ 6, nhu cầu sinh hoạt vợ chồng của ông dường như còn lại rất ít. Bà buồn! Nhưng rồi tắm xong nước nóng, nỗi buồn phiền tiêu tan.
Thật ra, có một tháng, ông cũng bị một em ở tiệm mát xa “Hồng” làm cho mê mẩn. Đến đoạn nàng đòi ông phải tặng một căn nhà riêng vừa là nơi buôn bán vừa là tổ uyên ương trị giá trên 100 cây vàng, ông tỉnh ra, vội ù té bỏ chạy. Có lần, do khích bác của đám bạn nhậu, ông cũng đen khách sạn với một em nào đó gọi qua điện thoại di động. Ở cửa khách sạn, ông gặp thằng con đầu dẫn bạn gái mua sắm đồ ở cái shop thời trang bên cạnh và đang chuẩn bị bước vô khách sạn. Cũng may nó không nhận ra ông. Từ đó, ông hãi luôn, từ bỏ ý định vui vẻ nơi khách sạn. “Hay ho gì chuyện đó, về nhà coi chưởng thích hơn”. Ông dứt khoát từ chối mọi lời dụ khị, khích bác. Gần đây, tai ông có vấn đề, như người ta thường nói bị “nặng tai”, không nghe tiếng nhỏ được, xem băng phải mở vô lum lớn. Bà chạy sang gắt gỏng:
– Nhỏ lại đi, đêm hôm khuya khoắt, ầm cửa ầm nhà...
Ông nghễnh ngãng hỏi lại:
– Đứa nào gọi cửa. Chúng có chìa khóa cả rồi kia mà.
Bà lầm bầm, phiền muộn:
– Chẳng ra làm sao...
Cho dù có xích mích nhỏ thường ngày, nhưng ông và bà vẫn là một kíp lãnh đạo, là ông chủ, bà chủ tốt, đoàn kết trong việc quản lý gia đình. Tiền chi tiêu hàng tháng do bà chi. Nguồn thu từ nghĩa vụ đóng góp theo 3–2–1. Nghĩa là, ông nộp 3, bà nộp 2, các con nộp 1. Khoản chi gồm: tiền ăn, tiền điện nước, tiền trả công người giúp việc và các khoản chi tiêu công cộng khác. Việc ăn ở nhà ấy theo nguyên tắc chỉ lo cho người ở nhà, còn lại tùy nghi di tản. Người ở nhà chỉ có ông nội. Ông không thích người khác phục vụ nên tự mình nấu ăn. Chị giúp việc mua hàng theo yêu cầu của ông. Ông nội không phải nộp tiền. Con một thành viên nữa trong nhà cũng không phải nộp nghĩa vụ là em gái ông Bảo.
Chị tên là Bân, gần 40 tuổi (tính theo tuổi ta là 40 rồi), nhân viên vi tính – một tay thợ loại giỏi về nhập liệu dàn trang ở một công ty in an lớn của thành phố. Nhìn bề ngoài, chị không có gì đặc biệt. Một phụ nữ đầy ắp nữ tính với cái nhìn cầu an, tiếng nói cầu thị.
Nơi nhiệm sở, chị là con người của kinh tế cạnh tranh, hội nhập toàn cầu. Không một ai có thể chê trách chị về năng lực làm việc và giao tiếp. Mặc đồ đúng mốt, nói tiếng Anh chuẩn, thạo vi tính. Bao năm nay, chưa bao giờ chị vi phạm kỷ luật lao động. Đi, về đúng giờ. Thời gian làm việc ở nhiệm sở đầy đủ, có nang suất cao. Nhanh nhẹn, mạnh mẽ, tháo vát là đặc điểm nổi bật của chị ở nơi làm việc.
Khi về đến nhà chị lại là một con người khác hẳn. Một khối cô đơn như đá vọng phu. Rất ít khi nghe thấy tiếng nói của chị. Chị không tiếp ai, cũng không đi chơi, thăm ai ở những ngày nghỉ. Nơi chị ở không phải là nhà, chỉ là một căn phòng dưới chân cầu thang dẫn lên nhà hình hộp. Giống như một cái hang. Đêm đêm, chị đan áo. Đan hết áo này đến áo khác. Không phải để bán... đan rồi để đó làm kỷ niệm cho mình. Cũng chính vì chuyện đan áo len chị mới có tên gọi là Bân. Tên khai sinh của chị là Bản. Hồi ấy đời sống còn nhiều khó khăn. Nghèo là phổ biến. Ngôi nhà này cũ kỹ loang lổ như một chiếc áo rách vá đủ thứ vải. Mái nửa ngói, nửa tôn. Tường gạch tróc lở lói trơ ra như những vết sẹo nhăn nhúm. Nhà nhỏ, đất rộng. Trồng rau, nuôi heo, nuôi gà. Rào xung quanh không còn là cây bông giấy hoa nở rườm ra nữa mà là chuối, đu đủ và sabôchê để lấy trái. Bán là chính, ăn ít thôi. Lúc đó, ông Bảo là cán bộ phường, trước giải phóng ông là dân thầu xây dựng. Nói là thầu nhưng thật ra ông chỉ mới tập sư, theo người ta để học nghề. Chị nghỉ học giữa lớp 11 gánh phần trách nhiệm “làm kinh tế” để ông anh, bà chị dâu yên tâm công tác phấn đấu làm cán bộ. Nuôi có 5 con heo, 20 mái gà đẻ trứng. Chị làm quần quật suốt ngày đêm. Làm gì cũng chậm. Bữa cơm đạm bạc chỉ có rau và cá khô chiên chị cũng làm đến hơn một giờ. Bà chị dâu phải nhảy vô, đay nghiến:
– Cô sợ bị đau tay à?
Chị nói câu gì đó, lít nha lít nhít như tiếng chuột nhắt kêu trong hang.
Đầu năm, ông anh được cất nhắc đưa lên quận công tác. Một chức sắc nho nhỏ ở phòng quản lý nhà đất. Gần cuối năm, ông dẫn về nhà một chàng trai dáng vẻ hiền lành mặc đồ cũ kỹ, đi dép nhựa cáu bẩn. Chàng trai làm bảo vệ ở cơ quan. Là trẻ mồ côi cha mẹ từ nhỏ, một tay bà ngoại nuôi dưỡng. Bà ngoại mất. Anh không thể ở chung nhà với cậu, phải lấy bàn làm việc ở nhiệm sở làm giường ngủ đêm. Ăn uống thiếu thốn, người ốm nhom, chậm lụt lờ đờ. Ông anh bảo:
– Hai đứa đẹp đôi đấy. Tìm hiểu nhau đi, rồi cưới.
Hai người có vẻ hợp nhau. Ông anh nói như ra lệnh:
– Tết này tổ chức đám cưới.
Chị vui, không nói ra, chàng mừng, cũng không nói ra. Chàng trực đêm ở cơ quan. Ban ngày cùng nàng quẩn quanh bên lũ heo, gà. Chẳng thấy họ tâm sự với nhau. Có nói, cũng chỉ là lời nói của công việc.
Giáp Tết năm đó trời lạnh nhiều hơn mọi năm. Chị Bân bảo:
– Để tôi đan cho anh chiếc áo len.
Chàng ngất ngây cảm động. Nói theo nhịp tim đập liên hồi:
– Ừa! ừa...
Chị mua hai cuộn len về. Tối tối ngồi đan. Có khi ngủ thiếp đi, tay vẫn cầm que đan. Ông anh thương xót, bảo:
– Tao cho tiền, đi mua cho rồi! Đan lát làm chi cho cực thân!
Chị lại nói lít nhít câu gì đó, nghe không rõ.
Tết đến, bỗng nhiên chàng may mắn được bổ sung đi lao động ở Liên Xô. Có một người trong đoàn bị bệnh đột xuất không thể đi được. Chàng thế chân thay người đó phút chót. Chỉ có ba ngày chuẩn bị. Cơ hội thoát nghèo đã tới. Mừng rơi nước mắt. Đám cưới được tổ chức gấp ngày 30 Tết. Chẳng mấy tốn kém. Không có xe hoa, chẳng có rước dâu, đón rể. Chỉ là lễ tuyên bố trong bữa cơm cúng ngày 30 Tết. Vậy là chị có chồng. Ngày mùng 3 Tết, chồng lên máy bay, bay tới vùng đất xa xôi lạnh giá của nước Nga để xây nhà, sửa đường, dọn tuyết. Chiếc áo len vẫn chưa xong, cho dù ngày Tết chị thưc đêm, ráng sức đan. Vẫn còn thiếu một tay áo. Chị buồn lắm, nước mắt chảy dài trên gò má. “Em vụng về quá, có lỗi với anh”. Chồng chị nhỏ nhẹ bảo: “Không có gì cực khổ hơn cảnh nghèo. Anh đi chuyến này, giàu mới về. Em ráng chờ”.
– Em chờ! – Chị lau nước mắt, nói như tiếng thở dài. Bà chị dâu vui vẻ, véo von: “Phải gọi cô là Nàng Bân mới đúng”. Tích truyện dân gian có kể, ngày xưa Nàng Bân may áo cho chồng. Mùa đông qua đi, áo vẫn chưa xong. Nàng Bân buồn khóc. Ngọc Hoàng thượng đế thương nàng nên bắt trời rét trở lại. Rét tháng ba “bà già chết cóng”, khốc liệt lắm, nhưng lại được gọi tên rất thơ mộng là “rét Nàng Bân”.
Chị mang tên Bân từ ngày ấy. Thực ra, tên Bân chỉ gọi ở nhà. Nơi nhiệm sở chị vẫn tên là Bản.
Những năm giữa của thập niên 90 của thế kỷ trước, kinh tế thị trường phát triển rầm rộ. Đúng là trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tranh làm giàu. Ông anh chị tận dụng cơ hội quản lý đất đai, chân trong, chân ngoài mua đi bán lại những mảnh đất vô chủ. Ông giàu lên từng ngày, từng giờ. Khuôn mặt trái khổ qua héo úa ngày nào nay bừng bừng khí thế, hồng hào sung mãn sinh lực. Cuối năm 1997 khi nghỉ hưu, làm Chủ tịch Hội đồng quản trị một công ty xây dựng, ông sực nhớ tới nỗi cô đơn hiu quạnh của em gái. Chồng chị Bân không về nước theo đúng thời hạn. Anh ta đã theo một nhóm người di tản sang Đưc làm ăn. Ba năm rồi biệt vô âm tín, không biết sống chết ra sao.
“Cô lấy chồng khác thôi! Thằng ôn dịch ấy bỏ cô rồi. Để tôi giới thiệu cô người mới”.
Không còn heo, gà, vườn tược nữa, chị chỉ lo cơm nước trong nhà, học tiếng Anh và vi tính. Chị nói: “Em cần có việc làm!”.
Miệng nhà giàu cũng có gang, có thép không kém gì lãnh đạo sở, ban, ngành. Chị đến làm việc ở một xí nghiệp in, không qua giai đoạn thử việc. Chị chăm chỉ và làm viec giỏi, có hiệu quả cao được lãnh đạo xí nghiệp và sau này là công ty tín nhiệm, có ý đề bạt làm cán bộ. Chị từ chối dứt khoát “xin để tôi làm thợ, tôi chậm lụt kém cỏi lắm!”. Lời nói thật. Không phải giả vờ khiêm tốn hoặc nói lẫy. Ai cũng nhận ra.
Có một ông phó giám đốc, tuổi ngoài 40 chưa có vợ chính thức lần nào, nhà riêng sang trọng, tiền bạc dồi dào, ngỏ ý muốn cưới chị. Ông anh kêu lên như bắt trộm:
– Lấy ngay!
Chị dâu ho hoán như bắt cướp:
– Cưới ngay tức thì. Của trời cho, không lấy là phạm tội với trời.
Ba đứa cháu đã đến tuổi trưởng thành đồng thanh hô khẩu hiệu:
– Đồng ý! Đồng ý đi!
Ông bố oai vệ nói:
– Cưới đi! Không được chậm trễ. Tội vạ đâu tao chịu!
Thật tội cho ông già miệt vườn. Từ ngày bán đất quê lên thành phố ở với con cháu đã qua bốn năm, bây giờ ông mới có dịp để chứng tỏ quyền lực của mình. Nếu có đám cưới, dĩ nhiên ông là người cao nhất, to nhất trong nhà. Ông có quyền hạch họe con cháu, buộc chúng phải làm thế này, thế nọ theo ý ông. Lần trước, chúng đã quên, lấy cớ cưới gấp, ông không có điều kiện chứng tỏ quyền làm cha. Lần này, ông phải làm cho to chuyện. Con gái xuất giá đi về nhà người khác đâu thể làm sơ sài được. Nghĩ vậy thôi, nhưng ông cũng không tự tin lắm vào quyền lực của mình.
Chị Bân nói lít nhít gì đó. Không rõ câu, nhưng mọi người hiểu được ý. Chị từ chối cầu hôn của ông giám đốc xưởng in hiện đại nọ. Ông anh làm dữ, quát nạt:
– Bộ tính ở goa suốt đời sao.
Bà chị dâu chuyển hệ trữ tình, dịu dàng khuyên nhủ:
– Người xưa nói, chòng chành như nón không quai, như thuyền không bến, như ai không chồng. Phận đàn bà cực khổ trăm đường. Cái đường khổ nhất vẫn là không có chồng. Ở hoàn cảnh cô, có người quan tâm hỏi cưới là may mắn nhiều lắm!
Người cha cảm thấy cơ hội để tỏ rõ quyền lực không còn nữa. Giận mình, giận người, giọng ông lạc vô đoạn đường đầy ổ voi ổ gà, âm thanh dằn xóc khập khiễng:
– Tại sao, là cớ làm sao không chịu lấy người ta? Cái thằng trời đánh ấy bỏ mày rồi, quên nó đi.
Lần này thì chị Bân nói rõ từng tiếng, âm lượng vừa phải, sắc thái trầm tĩnh như việc hỏi bệnh của các thầy thuốc:
– Con đã hứa chờ là chờ. Đừng ép buộc nữa. Nếu ép, con xin dọn đi nơi khác ở.
Mọi thành viên trong nhà đều sững sờ ngơ ngác. Hóa ra cùng tồn tại với lẽ thường tình vẫn có chuyện không bình thường. Vẫn có người chọn cái khó khăn, nặng nhọc, hy sinh quyền lợi thay vì chọn cái nhàn nhã nhiều lợi ích. Ở thời buổi thơi gian là vàng bạc này vẫn có người chấp nhận chuyện chờ đợi nhọc nhằn thay cho cái quên dễ dàng. Không bình thường. Dĩ nhiên, không thể lấy cái tình, cái lý bình thường để thuyết phục, cảm hóa. Ông nội lùi lại, lầm bầm:
– Không ép nữa, không ép.
Ông Bảo lùi xa, nhanh nhảu kêu:
– Thôi, được rồi, không ép.
Chuyện qua đi. Như chuyển kênh trên tivi. Đang sụt sùi than khóc về tình đã tan, duyên đã lỡ, đoạn đường chia ly dài ngoằng theo tiếng đàn violon nỉ non một cách giả tạo lại diễn ra cảnh quảng cáo “Omo áo trắng, ngời sáng tương lai”. Tiếp đó là cảnh hội nghị, hội thảo, khánh thành cầu, đường, khởi công xây dựng nhà máy... Chị lại lít nhít nói, nghe kỹ mới thấy, mới biết: “Nghèo không đáng sợ, cô đơn không đáng sợ, có những cái còn đáng sợ hơn...”.
Chị trở về hang động của mình. Một cái hang có mắc điện và kết cấu bê tông. Đó là căn phòng xép ngăn đôi nhà bếp với nhà vườn, dài 8m, rộng 4m, cao 2,5m. Thấy ra, có nhiều nền văn minh dồn chứa trong gian phòng hẹp này. Bên cạnh đầu máy CD và tivi hiện đại là chiếc giường gỗ trải chiếu hoa. Bên cạnh bộ váy áo hiện đại sang trọng là bo bà ba dân dã bạc phếch. Bên cạnh những thỏi son môi hàng hiệu đắt tiền là những trái bồ kết đen nhánh...
Chị ăn tối với cha. Bữa ăn kéo dài lê thê như bộ phim tâm lý xã hội loại dở. Chị ăn như người đãi cát tìm vàng. Ông già ăn ít, nói nhiều. Ông kể chuyện ngày xưa ở quê, chuyện về chú Tư, dì Năm, ông Sáu nào đó. Không đầu, không cuối. Hết thảy đều lửng lơ, nhưng hàm ý mọi chuyện đều lộ ra rất rõ, người ta sống ở đời nhất thiet phải có gia đình, đàn ông phải có vợ, đàn bà phải có chồng, có con. Ông bền bỉ, nhẩn nha. Ngày nào cũng kể chuyện giáo huấn cho con gái nghe. Thỉnh thoảng ông lại thăm dò, xem kết quả giáo dục ra sao.
– Con thấy sao?
– Chuyện gì ạ?
Chị Bân vẫn chăm chú lắng nghe. Chuyện của cha chị như những tiếng xe máy chạy trên đường trong đêm khuya. Có thể biết được tiếng xe gắn máy hai bánh, xe ô tô. Còn như xe chạy về đâu, hướng nào, chị không biết.
Ông già lại bị nghẹn giọng. Uống thêm một ly rượu đế cho thông, nghẹn ngào nói:
– Con ơi, đàn bà ở quê mà bị chồng bỏ, ế chồng không khác gì bị bệnh cùi. Ai cũng khi dễ, xem thường...
Chị ngơ ngác hỏi:
– Sao kỳ vậy?
Hồi trước lúc ở quê, ông già hay nổi nóng, thích quậy phá sau khi nhậu đến ly thứ 3. Khi lên thành phố, hồi đầu ông cũng quậy. Rồi lần lần, ông thôi không quậy nữa. “Múa gậy vườn hoang, có hay gì!”. Ông ca cẩm, rền rỉ. Trươc khi uống ly thứ tư, ông gặng hỏi:
– Cứ chờ đợi mãi sao?
Chị buông đũa, bát. Nặng nề đứng lên. Câu nói rơi xuống: “Ai cũng phải có một người thân ở quê chứ!”. Bữa cơm kết thúc lúc 8 giờ tối. Ông già lắc đầu ngao ngán: “Hết thuốc chữa rồi”. Ông trở về căn nhà lợp lá dừa nước, ôm đàn cò kéo bản vọng cổ quen thuộc. Bản góa phụ thủ tiết thờ chồng “Thiên lý mênh mang, mịt mờ thiên lý mênh mang, chàng đâu có hay đêm dài đằng đẵng, sầu nối sầu mênh mang...”. Chị thẫn thờ ngoài cửa. Nhiều lần chỉ muốn an ủi cha, bày tỏ niềm tin của mình với cha. Chị biết chồng chị vẫn còn sống, làm thuê ở đâu đó, chưa giàu. Chị tin, một ngày nào đó anh ấy sẽ trở về. Nhưng chị không biết nói với cha làm sao...
Chị về phòng mình lúc 9 giờ tối. Rồi đan áo len. Không có thời gian đi mua len cuộn, chị tháo áo cũ ra đan lại... 11 giờ 30 tối, tức 23 giờ 30 chị tắt đèn, ngủ. Tối nào cũng vậy.
Ba người cháu chị Bân bỗng nhiên nổi máu cá cược. Họ cá nhau chuyện chồng chị Bân có trở về không. Anh hai phó giám đốc tư nhân mạnh mẽ nói:
– Không về là cái chắc. Có khác gì đội bóng đá nước ta giành chức vô địch the giới.
Cô em út đồng tình, khẳng định:
– Đúng vậy!
Chàng giảng viên đại học có vẻ tự tin, nói:
– Hãy tin vào điều kỳ diệu...
Tỉ lệ cho về – không về là 1 – 100.
Ông Bảo đánh cửa về. Vợ ông thắc mắc:
– Ông uống lộn thuốc hay bị trúng tà hào phóng ở xó xỉnh nào vậy?
Ông cười hì hì, bảo:
– Muốn có hy vọng cũng phải chi tiền chứ!
Tháng 8-2000.
T.V.T.
Nguồn: Truyện ngắn hay mười tác giả. NXB Văn học, 2008 (Sắp phát hành). |