Tháng 8 âm lịch, nước lũ từ miệt trên đổ về cuồn cuộn. Chỗ ngã ba ngã tư sông và cạnh mấy cây cầu lớn, nước xoáy thành vực tròn, ai ngó thấy cũng nổi gai ốc. Ủy ban xã Mẹt Lung nằm trên một miếng đất cặp con kinh nhỏ, khoảng sân trước đã bị nước liếm vô ngập xem xép.
Chị Hai Nở chống cây dầm đẩy mạnh chiếc xuồng ra phía trước, chiếc xuồng rướn lên nằm nửa lườn trên sân Ủy ban, nhờ vậy mà chị khỏi buộc dây cũng không sợ xuồng trôi mất. Một tay cầm đôi dép, tay kia cầm cái bọc màu đen có quai xách. Chị bước lên, dáng vẻ trầm tư đi rẽ về phía tấm bảng nhỏ có ghi hai chữ Tư Pháp. Trên chiếc ghế dài đặt phía trước, một đôi vợ chồng mặt mũi còn non choẹt chắc chưa đến tuổi hai mươi, đang ngồi chờ tới lượt mình để đăng ký kết hôn. Nhác thấy vài người quen cùng xóm đi vô, chị Hai Nở te te bỏ qua bên quán cà phê gần đó kêu ly cà phê đá, ráng chờ tới khi người cuối cùng đi ra.
Lúc này độ chừng bốn giờ chiều. Anh nhân viên tư pháp của xã đang trực giải quyết công việc là Út Tươi, em chồng của Hai Nở. Mới ngó thấy chị dâu Út Tươi lẹ làng đứng dậy, ngạc nhiên hỏi:
- Ủa chị Hai? Nhà có chuyện gì à?
Chị Hai Nở hụp hử, lời nói khó nghe hệt người đang trối chết:
- Chị tính lên gởi đơn… xin ly dị… anh Hai của chú!
Út Tươi tưởng chị dâu giỡn chơi nên cười khì khì:
- Chị Hai đừng nhát ma vậy chớ, dễ làm cho em út đứt tim mà chết.
Tay chị Hai Nở run run khi móc trong túi ra lá đơn, từng hàng chữ màu xanh nắn nót nằm nghiêng nghiêng trên trang giấy đôi, xé ra từ tập học trò. Đập ngay vô mắt là bốn chữ viết hoa rõ ràng “Đơn xin ly dị”.
Chị Hai Nở mở bọc lấy ra một cái gói nhỏ hình chữ nhật, bên ngoài gói cẩn thận lớp lá chuối tươi, buộc quấn nhiều vòng bằng dây nilon màu vàng. Mới dòm sơ qua cứ tưởng là đòn bánh tét nhỏ, loại bán một ngàn đồng một cái. Hai Nở đặt mạnh cái gói lên bàn đánh cộp, muốn khóc khi nói tiếp:
- Còn đây là bằng chứng.
Út Tươi đọc lá đơn của chị dâu đưa xong với tay lấy vật chứng, bàn tay anh sắp đụng vô thì đột nhiên gói lá rung lên phát ra tiếng kêu è è lạ lùng, khiến anh giật mình rụt tay lại. Chị Hai nở ngó thấy thái độ của Út Tươi, giọng chị không vui:
- Điện thoại di động chớ bộ lựu đạn hay mìn sao mà chú sợ? Chắc bồ của anh Hai lại nhắn tin nên cái điện thoại nó rung. Đây nè… - Chị mở lớp lá chuối, lộ ra một điện thoại di động đời cũ.
- Trời! – Út Tươi kêu lên – Điện thoại mà chị Hai gói bằng lá chuối? Hoá ra chị cất, vậy mà hồi nãy anh Hai biểu em làm tờ cớ mất điện thoại.
- Ờ… Tại chị sợ mưa bất tử hoặc nước sông tạt lên nó bị ướt! – Chị Hai Nở thành thạo mở di động, bật phần tin nhắn đưa tới trước mặt em chồng – Chú đọc đi rồi khắc biết, tại sao chị phải xin ly dị anh Hai của chú.
- “Toi nay anh phai ve voi em, em nho anh chiu khong noi!”
Út tươi mở những tin kế tiếp, toàn là những lời tâm sự không bỏ dấu của hai người đang yêu nhau tha thiết. Có câu yêu đương bạo dạn đến mức làm cho Út Tươi, một chàng trai hai mươi sáu tuổi chưa vợ phải đỏ mặt lên vì mắc cỡ. Út Tươi đọc xong tin nhắn, xếp lá đơn và lấy điện thoại bỏ luôn vô túi áo. Căn dặn:
- Chị Hai ngồi đây, chờ em vô xin phép nghỉ sớm.
Giờ thì chị dâu và em chồng ngồi im lặng ở hai mũi chiếc xuồng, bơi thong thả trên đồng nước quạnh vắng, xung quanh họ toàn là nước và cỏ. Vào mùa này lúa đã cắt hết, gốc rạ bị bỏ mặc cho nước ngập lênh láng. Trời ngã về chiều mặt trời bừng lên ánh hồng rạng rỡ, ánh sáng nấn níu cuối ngày để lát nữa nhường chỗ cho bóng đêm. Mặc kệ con người mang nhiều tâm trạng, nhiều suy tính nặng nề… Gió đồng vẫn thổi mát rượi, trong veo.
Út Tươi hỏi:
- Chị có thưa với má chuyện quan trọng này chưa, chị Hai?
- Chưa! – Hai Nở buồn thiu – Chị xin phép má đi công chuyện, tính lên xã xin ly dị thiệt. Chú biết hôn, chị đã quá mệt mỏi khi phải sống chung với người chồng lúc nào cũng đem về nhà mùi của người đàn bà lạ.
- Em biết anh Hai không tốt, nhưng đây cũng đâu phải là cách giải quyết tốt nhất hả chị Hai?
- Sống với nhau hơn năm năm rồi, mà chị không sinh được cho gia đình chú một đứa con nào. Má cứ kêu rêu chuyện đó hoài, còn chị nhận thấy lỗi của mình thật lớn. Ly dị là cách tốt nhất giúp anh Hai chú tự do, danh chánh ngôn thuận khi đi cưới người vợ khác. Nhà chú khá giả, đàn bà con gái ai mà không muốn được làm dâu nhà chú.
Út Tươi lắc đầu:
- Em không đồng ý cho chị làm như vậy đâu, để em điện vô số máy người đàn bà này kêu anh Hai về.
Hai Nở xua xua tay:
- Thôi chú đừng làm vậy, ổng biết được trách tui. Nếu chú sợ bà con hàng xóm chê cười thì cứ giả đò như không biết.
- Vậy chị em mình về nhà, chuyện ly dị hay không chờ anh Hai về rồi tính hén chị Hai?
Út Tươi bơi nhanh tay, cây dầm khuấy nước lách chách xuồng lướt đều đều. Hai Nở ngồi im ngắm cảnh hoàng hôn tâm hồn lâng lâng thoải mái đôi chút, nhưng chị vẫn toan tính tìm cách dụ Út Tươi lấy lại điện thoại và lá đơn, đem lên tòa án huyện xin ly dị nữa. Chị buồn quá đưa mắt ngó về xóm nhà, suy nghĩ lung tung.
Mấy năm trước ai tin được chuyện người nông dân có thể bơi xuồng giữa đồng, trò chuyện thoải mái bằng điện thoại di động với người thân. Nay thì những ông chủ máy cày, máy suốt, dân thu mua lúa… A lô, ô la rầm trời giữa đồng không mông quạnh, để liên lạc làm ăn mua bán. Hình như chuyện này xảy ra đồng lúc với việc con đường trước nhà được tráng nhựa, điện ánh sáng chạy về tới xã. Việc những ngôi nhà xây mọc lên khang trang, việc mấy cái quán cà phê karaokê, quán bia ôm cất chình ình trong khu xóm thôn quê. Lúa bán có giá đời sống của người nông dân khá giả lên, nhưng hình như họ cũng đánh mất dần bản chất hiền lành như đất. Hồi đó, trong xóm quanh năm suốt tháng đâu nghe thấy nhà nào bị ăn trộm. Bây giờ, bữa thì bác Năm ở đầu xóm kêu mất con vịt. Bữa khác, dì Sáu giữa xóm la mất con chó. Cây leng, cây cuốc, cây nọc cấy… mà để hở cũng mất. Đầu hôm trước khi đi ngủ phải mắc công đi lòng vòng bên ngoài coi còn sót cây dao, cây chỉa… Thậm chí cái tấm thớt mần cá cũng phải mở cửa nhà bỏ vô. Mấy hôm trước bác Tám bắt được thằng ăn trộm là đứa cháu bà con bên nội, nó vô nhà sau hốt nguyên ổ con gà mái nòi đang nằm ấp trứng. Trứng gà thì tụi nó luộc làm mồi nhậu, còn con gà mái đem bán lấy tiền đi karaokê. Không ít gia đình hục hặc, tan vỡ hạnh phúc vì mấy cái quán bia ôm miệt đồng. Các cô gái ở quán đều trẻ đẹp, thơm phức. Đàn bà ngó thấy cái eo, cái mông láng mướt của mấy cô hoặc đi ngang hít phải mùi dầu thơm còn phát thèm, lẽ đương nhiên mấy ông ăn rồi phải ghiền chớ sao? Nghe đồn rầm trời, các cô làm nghề “lấy miệng dưới nuôi miệng trên” ở đây, không chỉ bán trăng hoa bằng tiền, mà còn đổi cái chuyện ấy bằng một giạ lúa. Lúa khô, lúa ướt được tính giá ngang nhau, miển sao khi đong trả lúa phải cao lùm ngọn không được gạt. Mùa giáp lũ mỗi công cắt được mướn tới hai giạ lúa, nếu ghé quán các cô chơi vui một giạ, vẫn còn đủ tiền để sống qua ngày. Vì vậy đàn ông miệt trên xuống cắt lúa mướn một mình, thường ghé lại nhậu nhẹt qua đêm. Rồi mùa lúa, các ông còn đồng xu cắc bạc nào đem về nhà cho vợ con mới sợ? Còn nghe đồn mấy cái quán ôm ấp được chính quyền xã bảo kê ngầm, nhiều lần công an huyện xuống bắt nhưng vì không có bằng chứng nên đành phải thả.
*
Toà án huyện từ thư ký tới chánh án thảy đều nhăn mặt nhăn mày, đầu óc kêu o o khi bàn biện pháp giải quyết vụ ly hôn của Hai Nở. Có người mới lần đầu tiên được cầm cái điện thoại di động trên tay, thái độ rất lóng ngóng khi mở coi phần tin nhắn. Vụ án xin ly hôn mà bằng chứng là cái điện thoại di động thật lòng cũng mới nghe, mới gặp lần đầu. Kinh nghiệm cho thấy những vụ án xin ly hôn do chồng hay vợ ngoại tình, nếu không bị bắt “tại trận” thì thần thánh cũng khó giải quyết được.
Anh Hai Nở trình bày, lúc rảnh rỗi ảnh chỉ nhắn tin chơi chơi với người nào đó chưa biết mặt mũi ra sao, hổng biết đó là đàn bà hay con gái. Cũng có khi đó là một gã choai choai thích đùa giỡn? Hai người chưa một lần điện thoại nói chuyện, đâu có hẹn hò ăn ngủ gì với nhau như trong tin nhắn. Anh Hai Nở còn nói, ảnh rất yêu vợ dù chị có đẻ con cho ảnh được hay không. Ảnh thề sống thề chết sẽ trọn đời chung thuỷ với vợ mình.
Chị Hai Nở tưởng đâu cứng cáp lắm, ai dè tới lúc được tòa án mời lên giải quyết thì khóc ròng. Khai thiệt là mình vì yêu chồng, muốn chồng có hạnh phúc về sau nên mới quyết định ly dị, để chồng rảnh rang đi thêm bước nữa có con có cái với người ta. Chớ thực ra chị cũng buồn đứt ruột.
Bà má chồng có vẻ vừa ý, khi nói về chuyện ly dị của vợ chồng thằng con trai lớn. Bà cho là nếu hai đứa không chịu thôi nhau thì con dâu phải đi cưới thêm vợ nhỏ cho Hai Nở, đặng có con nối dòng nối giống. Bà nói hương hồn ông cũng buồn vì chuyện này, hai năm gần đây đêm nào ông cũng hiện lên trách bà nhiều lắm.
Nghe các đương sự trình bày xong, cán bộ toà án liền cử cô thư ký lấy điện thoại của anh Hai Nở, điện cho số điện thoại đang bị thưa. Cô thư ký bấm máy. Sau một hồi chuông, đầu dây bên kia vang lên giọng trong trẻo của một cô gái, cô ta nói một hơi dài:
- Anh yêu! Em nè… Sao không nhắn tin mà điện thoại làm chi cho tốn tiền? Anh điện kiếm cái bóp hồi đêm ngủ bỏ quên hả? Em cất rồi. Tối nay nhớ lại em lấy… nghen… hi… hi…
Cô thư ký nghe xong, báo cáo riêng với anh cán bộ Toà án. Anh cán bộ xin ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo ngành, rồi kêu riêng Hai Nở ra làm việc. Anh Hai quê quá khai ra đó là cô Thuỷ ở quán bia ôm Hương Lúa, anh đã nhiều lần đến đó vui chơi chớ không có đặt nặng tình cảm.
Cán bộ toà án xử có lý có tình, yêu cầu anh Hai phải có trách nhiệm bảo vệ hạnh phúc gia đình, đừng nên đi “ăn bánh trả tiền” nữa. Nếu không sửa chữa, thời gian sau đành phải xử lý cho chị Hai ly dị. Phiên toà thống nhất ý kiến đề nghị hai bên cùng hoà giải. Họ cho rằng tình nghĩa hai người còn mặn nồng, thì dần dần ắt sẽ tự hàn gắn.
- “Hãy để vợ chồng Hai Nở với thời gian…” – Đó là câu nói được coi là hay hết ý của anh chánh án.
Mấy tháng sau tình cảm của anh Hai Nở và vợ vẫn như cũ, anh luôn đi biền biệt với những chuyến mua bán, chị thui thủi ở nhà chờ đợi. Những lần được gần gũi chồng hiếm hoi như các tỳ thiếp trong cấm cung, mong chờ đấng quân vương nhỏ ơn mưa móc. Chị Hai cũng không thấy bầu bì gì.
Anh Hai Nở về hôm qua, vợ chồng ân ái được một đêm, thì hôm nay đã mặt lớn mặt nhỏ cãi nhau về chuyện con cái. Anh Hai Nở chém ngang một câu:
- Ngủ với cô đêm hôm là lần cuối, nếu cô không có bầu thì coi chừng tui đó!
Chị Hai buồn quá trời quá đất, xin phép về nhà ba má mình vài bữa. Má chồng muốn cho yên chuyện, nên gật đầu đồng ý. Bơi xuồng đi một khúc đường, chị mới sực nhớ mình quên mang theo bọc trầu cau mới hái, tính đem về cho bà già ruột. Chị vội bơi xuồng quay trở lại.
Về tới bến sông ngó lên nhà, thấy ba người trong gia đình chồng đang bàn bạc chuyện gì có vẻ quan trọng lắm. Hai Nở đi vòng ra hông hè, tính vô nhà bằng cửa sau lấy bọc trầu cau để trong bếp. Tấm vách dừng bằng lá tàu xé đôi, nên Hai Nở nghe hết trơn câu chuyện họ đang bàn.
Má chồng hỏi:
- Nói thiệt coi Hai, làm ăn gì ba bảy hai mốt… mới chịu ghé về thăm vợ một lần? Gặp mặt vợ bữa trước, bữa sau đã kiếm chuyện cãi vã. Mầy gạt vợ chớ làm sao gạt được má, tao đẻ ra mầy mà? Chuyện tình cảm với con nhỏ đó tới đâu rồi, con nhỏ làm nghề gì?
Giọng anh Hai Nở không có chút lo sợ mà còn cười cợt:
- Nó tên Thuỷ, đâu có bán bia ôm bia iếc gì. Mới hai mươi tuổi, là con gái của chủ tiệm tạp hóa. Nó làm nghề bỏ mối hàng cho các sạp bán quần áo, bán vải trên huyện. Con có mướn một căn phòng ở chung với nó nửa năm nay rồi, con tính chừng nào nó có bầu mới công khai ra. Nếu má muốn có cháu bồng thì để yên cho con tính, chuyện ly dị đâu khó khăn gì? Rủi bây giờ ly dị mà con Thuỷ không có bầu được, mình phải tốn tiền cưới cô vợ khác nữa hay sao?
Chị Hai Nở ngồi bên hè nghe rõ mồn một cái kiểu tính toán của ông chồng làm nghề mua bán lúa, mà sợ đến mức tay chân nổi da gà. Chị gục đầu xuống hai gối, nước mắt chảy thành dòng ngăn không nổi. Trong nhà, thằng em chồng nói từ tốn:
- Anh Hai nói vậy đâu đúng! Làm con người sống với nhau phải có trước có sau chớ. Chị Hai xinh đẹp, hiền hậu đảm đang… Anh cưới được chị Hai là phước ba đời. Má đừng nghe lời ảnh mà tội lỗi!
- Thời buổi này sống thiệt tình như mầy, biết chừng nào mới thành công? Chị Hai mầy đẹp, hiền mà giống như trái dừa điếc, bắt tao thương tiếc gì nữa – Anh Hai Nở cự với thằng Út.
- Biết đâu chuyện không có con được là do anh Hai thì sao?
Có tiếng va chạm lịch kịch của cái ghế:
- Thôi anh mầy lớn rồi tính sao cũng được, đừng cãi nhau nữa. Đi ngủ đi, mai còn làm việc.
Trăng mười sáu lên tới lưng chừng bụi trúc bên kia bờ mương, ánh sáng thanh trong luồn lỏi qua từng chòm cây kẽ lá, in từng giọt trăng xuống nền đất. Tiếng ếch nhái ễnh ương đã kéo dài giọng hơn giác đầu hôm, chắc chúng cũng buồn ngủ. Vậy mà Hai Nở vẫn ngồi bên hè nhà, mặc sức cho bọn muỗi đói bu cắn. Chị buồn cho thân phận mình lấy trúng người chồng không ra gì, buồn đến nỗi hết muốn đưa tay lên phủi muỗi.
Ban đêm, Út Tươi thường có thói xấu ra chỗ cây dừa lão dưới mé sông đứng đái. Cây dừa lâu năm, thân nó nằm de xuống mặt nước. Trăng nước hữu tình, khiến Út chạnh lòng nhớ tới chị dâu mà cảm thương. Anh bật ca nho nhỏ câu vọng cổ:
- “Mẹ ơi phận gái mười hai bến nước, biết bến nào trong biết sông nào đục, biết rủi hay may một ngày con xuất giá theo… chồng. Mẹ đã nuôi con nên vóc nên hình. Mười mấy năm… “ – Út bỗng ngưng ngang câu hát vì chợt ngó thấy chiếc xuồng còn buộc dây vào chân cây cầu. Trong anh bật lên câu hỏi: “Ủa, hồi nãy chị Hai bơi xuồng về bển rồi mà, sao giờ nó lại nằm đây? Hay là chị Hai chưa đi, vậy chỉ đâu sao không thấy?”
Út Tươi đi lần lên, ngó thấy chị Hai đang ngồi ôm gối bên hè nhà. Út giật mình bước lại hỏi nhỏ:
- Trời ơi… chị Hai. Nãy giờ chị chưa về nhà sao?
Chị Hai ngước lên, ngó thằng em chồng bằng đôi mắt đẫm nước. Dưới ánh trăng gương mặt người đàn bà đẹp hơn khi khóc, nét rũ rượi buồn thảm trở thành vẻ quyến rũ đến khó chịu. Út Tươi chợt rùng mình:
- Vô nhà nghen chị Hai?
Chị Hai Nở đứng dậy đi về phía bến xuồng:
- Chị về bển, giờ này vô nhà sao được?
- Hồi nãy chắc chị nghe hết câu chuyện rồi hả? Em thay mặt cả nhà xin lỗi chị, từ từ rồi em sẽ khuyên anh Hai.
- Thôi… - Chị Hai nói trong tiếng khóc ấm ức – Chú đừng tìm cách an ủi tui nữa… vô ích. Tui về nhà mình luôn, hổng quay lại nhà chú nữa đâu. Tình cảnh anh Hai đối xử với tui như vậy chú thấy rồi đó, tui sống với ảnh sao nổi mà sống!
- Vậy chị Hai bước xuống xuồng ngồi, em đưa chị về gần tới nhà nghen. Chị về bển ở chơi vài ba bữa thì nguôi ngoai thôi mà.
- Chú Út vô nhà ngủ đi, tui về một mình. Cây cầu bắt ngang kinh E gãy rồi, một hồi chú lội bộ về không được đâu.
- Tưởng gì, ban đêm em đi chơi lội kinh về hoài. Chị nín đi đừng khóc nữa, ngồi đàng hoàng, giờ này té xuống sông trúng nước chết!
Út Tươi bơi xuồng tắt ngang cánh đồng, đi như vậy con đường sẽ ngắn hơn gần phân nửa. Trăng rải đều, mấy lá bông súng nằm trên mặt nước bị gió thổi lật lên lật xuống làm cho chúng sáng lấp lánh. Cảnh vật vắng ngơ vắng ngắt, thỉnh thoảng từ xa lắc mới loé lên ánh đèn vàng của những người thức đêm soi cá.
Còn cách nhà chỉ vài chục tầm đất mà chị Hai cứ khóc hoài, Út Tươi đành rà tay dầm ghé xuồng lại bên mương phèn chỗ mấy liếp mãng cầu xiêm. Anh móc thuốc bật lửa hút, ngó chị Hai khóc rấm rứt mà không biết phải làm gì? Sương khuya xuống lạnh, Út Tươi thấy thương chị Hai quá, anh cởi cái áo mình đang mặc bước tới quàng lên vai chị Hai, thủ thỉ:
- Thôi chị Hai, chuyện đâu còn có đó… Khóc hoài mắt mũi sưng húp, vô nhà má chị hỏi thì biết trả lời làm sao?
Chị ngước mắt nhìn đứa em chồng, gương mặt Út Tươi như được tạc bằng ánh trăng, sáng rỡ. Đường nét rất giống chồng chị nhưng rắn rỏi cương nghị hơn nhiều. Chị lại mủi lòng vùi đầu vào ngực Út Tươi mà khóc, bờ vai rung lên từng hồi. Khi đã phần nào nguôi ngoai, chị mới cảm nhận được vồng ngực của người con trai thật thơm, thật chắc. Cánh tay Út Tươi quàng ngang bờ vai chị, vỗ về nhè nhẹ sao mà ấm áp, giúp chị yên tâm lạ lùng. Đầu óc chị chợt loé lên ý nghĩ tội lỗi: “Ai cũng biết bày mưu tính kế, cớ sao mình không biết tính kế bày mưu?” - Chị biết thân thể mình đẹp và mạnh mẽ, thì làm sao lại không có con? Có phải: “Thiệt thà quá cha người dại?” Vừa dứt suy nghĩ chị mạnh dạn rướn người tới trước thật nhanh, vì sợ nếu chậm hơn chắc mình sẽ đổi ý. Chị chủ động áp chặt bờ môi mình lên đôi môi của đứa em chồng, rồi tự nguyện ngã người nằm dài trên xuồng. Út Tươi sau vài giây choáng váng hơi thở anh bắt đầu nóng hổi, hổn hà hổn hển. Không kềm chế nổi nữa, anh lần tay nhẹ nhàng mở từng cái nút bóp trên chiếc áo bà ba chị Hai đang mặc. Rồi anh luồn tay xuống lưng chị, mở móc áo xú chiêng… Đôi bầu vú tròn trịa đầy vung bỗng oà ra dưới ánh trăng. Út Tươi áp mặt mình lên, kèm theo một tiếng thở dài…
Ánh trăng trở thành đồng loã, kéo một cụm mây thật lớn thật dầy che lên mặt, bóng tối bỗng chốc bao trùm cảnh vật. Không gian cô đặc im ắng, chỉ còn nghe thấy tiếng gió, tiếng nước dạt ra từ hai bên hông xuồng chạy vô liếp mãng cầu, vỗ nhè nhẹ vào bờ ì oạp. Lát sau, mưa lắc rắc rớt xuống…
Sau đêm đó chị Hai Nở không trở về nhà chồng, Út Tươi tránh mặt anh Hai, Út xin phép má dọn lên xã ở với lý do mùa nước lũ việc đi lại quá khó khăn.
Hơn tháng sau bà già ruột của chị Hai qua nhà sui gia báo tin con gái mình đã có bầu, xin bên nhà chồng tha lỗi bởi con gái tự ý bỏ về nhà mẹ đẻ. Bà má chồng nghe con dâu mang bầu thì mừng lắm, vội thúc hối con trai chạy vỏ máy qua tận nhà rước. Còn dặn:
- Lúc đi xuống bến, bước lên vỏ lãi con phải dìu vợ cẩn thận. Cái thai mới tháng đầu còn rất yếu nghe con.
Anh Hai Nở mừng hết biết mình mẩy, đâm ra lăng xăng lít xít. Lấy cây dầm lại quên cái nón, lấy cái nón thì quên cái tay quay máy nổ.
Hay tin chị Hai mang bầu, Út Tươi vui buồn lẫn lộn, anh mừng từ nay về sau vợ chồng anh Hai chắc chắn được hạnh phúc, cuộc đời chị Hai hết khổ. Nhưng hình như nỗi khổ của chị Hai, đã chuyển hết qua cho anh từ sau cái đêm trăng ngọt ngào ấy. Không ít lần anh nằm một mình chậc lưỡi trách má, trách anh chị Hai, trách tòa án xử lý không dứt khoát để kéo dài thời gian. Rồi anh trách trời trách đất, nhưng suy cho cùng anh tự trách mình thì đúng hơn, bởi trong cái đêm trăng ngọt ngào ấy ông trời có được hưởng gì đâu? Út Tươi xin nghỉ việc, sắm ít đồ lặt vặt đi ra thị xã làm nghề mài dao dạo.
Trong những con hẻm nhỏ của thị xã, mấy ngày đầu người ta rất bực mình vì tiếng rao của anh thợ mài dao rất đẹp trai, hổng biết từ đâu tới. Giọng rao của anh nếu nhẹ lắm là dằn dỗi. Lúc gằn mạnh giống như giận dữ, như chửi vô lỗ tai người nghe. Thậm chí có thể tưởng tượng anh đang muốn mài giúp con dao, thách thức người khác giết mình.
- Mài dao. Mài kéo!
Lâu dần mọi người cũng quen, mỗi lần nghe giọng rao của anh người ta lại mắc tức cười. Anh mài cây dao bén đến mức để cọng tóc lên lưỡi dao, thổi nhẹ một cái cọng tóc đứt làm hai. Tay nghề giỏi nên anh rất đông khách hàng, tiền kiếm được xài không hết anh xếp phẳng phiu, cất kỹ vô bóp. Buổi tối rảnh rang, anh đứng ngó say mê gian hàng bán đồ chơi và quần áo trẻ em. Người phụ nữ bán hàng cũng là khách quen mài dao, ghẹo anh:
- Anh thợ mài dao đẹp trai ơi… cưới vợ đi! Lúc nào vợ anh có tin vui, tui hứa sẽ tặng đủ các vật dụng cần thiết dành cho bà bầu và em bé.
Anh thợ mài dao mỉm cười sung sướng:
- Tui muốn mua ít đồ chơi và quần áo cho đứa cháu ruột, con của… anh Hai.
- Cháu là trai hay gái?
- Ờ… Tui nghe người quen nói nó là con trai, nó giống ba như hai cái bánh khọt cùng khuôn.
- Ủa? Anh chưa gặp mặt cháu sao?
- Dạ chưa! Mắc lo mần ăn nên mấy năm rồi không có dịp về quê.
- Vậy anh mua gì cứ vô lựa đi, tui bán rẻ cho.
Anh thợ mày dao chợt như bừng tỉnh, lấp liếm:
- Mà thôi để bữa khác… Bữa nào gần về tui ghé mua.
Người bán hàng ngó theo dáng đi bần thần của anh thợ mài dao, lắc đầu lẩm bẩm:
- Nghe nói mấy người quá tuổi mà chưa chịu lấy vợ lấy chồng, thường hay bị mắc căn bệnh tưng tửng.
Sáng hôm sau, anh thợ mài dao đẹp trai lại bắt đầu bước từng bước chắc nịch đi vô con hẻm sâu hun hút, cất giọng rao giận dữ:
- Mài dao. Mài kéo!
Liệu sau này anh có mua quần áo và đồ chơi trẻ em, rồi trở về thăm quê để tặng cho thằng cháu ruột, con của… anh chị Hai mình không? Ai mà biết!
A Đ.
Tặng thưởng truyện ngắn hay( Tuần báo Văn nghệ - Hội Nhà văn Việt Nam 2003) |