Truyện được post từ 15-8-2012. nay cập nhật.
Năm đó mùa mưa ở Tháp Mười kéo dài hơn mọi năm, gần cuối tháng mười trời vẫn còn mù mịt, đồng nước một màu trắng xóa không nhìn thấy đâu là bến bờ, thỉnh thoảng nổi lên những khóm tràm, bụi trâm bầu lơ thơ, không có đặc điểm gì có thể nhớ đó là con đường đã đi qua.
Tôi tới trạm M. - trạm giao liên nối liền vùng rừng miền Đông với vùng đồng bằng sông Cửu LÔng - trời đã về chiều. Mặt trời bỗng chốc ánh lên đỏ rực, mây nước cùng một màu đỏ như một biển lửa. Và rồi chỉ phút chốc mọi tia sáng đều tắt ngấm, từ hướng Đông mây đen đùng lên lan đi rất mau, choán chật cả nền trời. Từng tràng sấm ầm ì kéo dài như vọng lên từ dưới lòng đất. Mưa giăng mờ mịt, đọng một lớp mờ đục là là trên mặt nước.
Vừa tới trạm nhìn cảnh trời nước như vậy tôi vội vào gặp người trưởng trạm nói có công tác đặc biệt, nhờ bố trí cho chuyến đi gấp qua đồng nước. Thường xuyên tiếp xúc với người đi qua lại, người trưởng trạm bồng đứa con nhỏ thờ ơ cúi xuống thổi bếp lửa, thảy thêm vào mấy nhánh tràm, mớ cỏ khô. Khói bốc lên bay mùi thơm nồng. Anh ngẩng lên, không nhìn tôi:
“Có công tác gấp à?”.
“Dạ phải”.
“Gấp cũng chịu, đêm nay không có chuyến. Tụi tôi hết người rồi, phải đợi mai”.
Anh lại cúi xuống phùng má thổi lửa. “Vậy thì nói làm gì”, tôi chán nản nghĩ bụng, nhưng cũng cố thuyết phục:
“Nếu không tôi phải đi tự lực, công việc không đợi được”.
“Đi một mình hả?”.
“Phải, đi một mình”.
“Không nên, bị lạc ngay thôi. Dân đồng nước tụi tôi như cá trên biển, vậy mà có hôm phải ngủ “mùng nước”. Đợi mai đi”.
“Đã nói không đợi được”.
“Tùy. Thật tình tụi tôi hết người rồi…”.
Anh nói tôi đi vô bếp lấy thêm vắt cơm. Nhưng tôi xốc ba-lô lên đi liền, vô bếp lấy thêm vắt cơm tôi sẽ ở lại luôn. Ra tới mí rừng tràm chợt nghe tiếng động phía sau, ngoảnh lại thấy anh bồng con đi ra đưa cho tôi vắt cơm. Hai chúng tôi đứng yên lặng bên nhau một lúc, cùng nhìn cánh đồng nước mênh mông trước mặt.
Mặt trời lóe lên những tia sáng hình rẻ quạt, mây nước cùng sáng lên trong giờ phút cuối cùng của một ngày. Những khóm tràm, khóm đế trở thành những vệt đen. Xa xa bóng những tấm bia của những ngôi mộ hoang trông cô đơn buồn bã. Những tấm mộ bia mục nát không biết có từ thời nào, tưởng như sắp sụp đổ, nhưng lại vững chãi qua bao năm tháng. Đi băng đồng thường gặp những bia mộ như vậy, trong ánh trời chiều, tiếng lau sậy rì rào, côn trùng nỉ non, tưởng như người chết còn chưa yên ngủ, còn có điều gì muốn nói lại với ta.
“Đồng nước trời chiều buồn thật”, tôi nói bâng quơ cho có chuyện.
“Ở đây quạnh hiu buồn bã lắm”, anh nói. Rồi lại nói tiếp: “Nhưng sáng ra thật sáng sủa tươi vui”.
“Tôi đi đây”.
“Ừ anh đi đi. Nhắm hướng sao Cày, chếch về bên phải, may ra có xóm”.
Tôi lội xuống. Nước lạnh khiến tôi rùng mình, cảm giác bơ vơ. Nhưng chút sau quen dần, chân đi đều bước, không một ý nghĩ trong đầu. Con đường mòn trống trải không thấy đâu nữa, trước mặt chỉ có trời nước, cỏ cây bờ bụi. Lau sậy quất vào mặt rát rạt. Những con cò ma, vịt nước giật mình kêu “hoác” vụt cánh bay lên. Nước sâu tới gối, tới bụng, nửa người ngâm trong nước, đi như bơi. Nhiều lúc đầu óc mộng mị, có cảm giác không đi đâu cả. Tôi đứng lại đốt thuốc hút, đi tiếp, lại sa vào tình trạng trên. “Tháp Mười là của ta”, tôi nói lớn lên, lúc lắc đầu cho tỉnh lại, nhớ lời dặn người trưởng trạm, theo hướng sao Cày đi chếch về phía bên phải.
Lâu lắm, đã quá nửa đêm.
Bỗng có ánh lửa. Tôi mừng rỡ đi bươn tới. Anh lửa lung linh lúc xa lúc gần. Cuối cùng căn nhà sàn hiện ra, khuất trong bụi tràm.
Đúng ra là một căn chòi, hai mái lá gác chéo trên chạc cây, sàn nhà sát mí nước, bốn bên cỏ nước dập dềnh. Một làn khói mỏng rỉ ra trên mái lá. Tôi bước lên, vịn tay vào một chiếc lu bể chỉ còn một nửa, cạnh đó có hai chiếc xuồng sóng đôi, một chiếc phủ kín vải ni-lông. Sóng vỗ vào mạn xuồng lách chách. Chuồng gà chuồng heo phía sau, heo gà chộn rộn. Một con vịt phóng lội ào xuống nước.
Có tiếng hỏi lớn:
“Ai đó?”.
“Tôi... đi lạc đường”, tôi đáp.
Im lặng một lúc, có vẻ đang dò xét. Rồi tiếp theo:
“Đi đâu mà lạc? Còn ai nữa không?”.
“Đi công tác, chỉ mình tôi”.
Vẫn lặng thinh, chưa hết nghi ngờ. Không ở đâu yên ổn, tôi nghĩ bụng, giữa đồng nước hoang vu cũng vậy.
Cuối cùng rồi tấm phên cửa cũng được nhấc sang một bên. Một người đàn ông bước ra, lưng gù, quần xăn tới vế, vai và lưng nổi lên những bắp thịt u cục như được nặn bằng đất.
“Vô nhà đi”, người đàn ông nói, giọng bình tỉnh. “Đi hồi đầu hôm tới giờ hả? Đói bụng không?”.
“Tôi có cơm vắt”.
“Ngồi vô đây hơ lửa. Muỗi dữ quá, khói như vầy chúng cứ bu vô. Sao phải lội đồng ban đêm?”.
“Tôi có công tác gấp”.
“Đúng rồi. Đi ban ngày coi như nạp mạng cho tụi xuồng bay”, người đàn ông có kiểu nói đi nói lại như vậy. Ngưng một chút, đút thêm củi vào bếp rồi anh nói tiếp: “Lạnh lắm không? Tôi đẩy xuồng đi hoài, đêm nào cũng đi, về nhà chun vô mùng vợ tôi hỏi sao người tôi nửa nóng nửa lạnh. Tôi nói: “Con người tôi vốn là hỏa, hỏa kỵ thủy, gặp nước máu dồn hết lên trên”.
Từ chiếc mùng căng trệt một góc nhà nghe có tiếng ậm ừ của người đàn bà. Người đàn ông mỉm cười cúi xuống sửa lại mấy thanh củi, nhét lá tràm cho khói um lên, chuyển sang giọng vui vui:
“Khói trị muỗi, như đồng nước trị tụi trực thăng. Nước nổi như vầy cha nó cũng không dám đổ quân. Chông cắm ngầm dưới nước, chỉa mũi theo ngọn lau ngọn đế, tụi lính nhảy xuống thể nào cũng bị xốc từ đít tới đầu. Cái gì cũng vậy, khó cho ta thì khó cho giặc, mà khó cho giặc thì gấp đôi gấp ba. Tôi nướng bắp cho anh ăn nghen?”.
Không đợi tôi trả lời anh lôi từ góc nhà ra mấy trái bắp ghé miệng thổi lửa, lửa bùng lên ửng đỏ trên khuôn mặt chữ điền, rộng bèn bẹt, hơi rỗ hoa của anh. Trông anh có vẻ khắc khổ mệt mỏi, nhưng giọng nói lại tươi vui.
Tôi gợi chuyện:
“Anh làm gì đêm nào cũng đi?”.
“Thì... cũng đi công việc...”.
“Người đường dây à?”.
“Không...”.
Tôi biết ý không hỏi nữa, chuyển sang chuyện khác, khen trái bắp ngon, kêu anh kể chuyện đồng nước, chuyện dân vùng này lặn móc từng cục đất đắp thành gò làm nền nhà, trồng khoai trồng bắp như thế nào. Anh nói đúng như vậy, vợ chồng anh có vuông rẫy ngoài kia kìa. Xứ này trồng được bụi lúa cây bắp phải đổ mồ hôi sôi nước mắt.
“Bà con ở đây đông không?”.
“Không đông, cũng không ít. Ở rải rác, chui rúc trong lùm bụi, nhưng lùm nào bụi nào cũng có. Hôm nào có người đi lạc như anh vậy, ghé đây nhìn quanh nói: “Đồng Tháp Mười thật lạ, trông không thấy làng xóm gì cả, nhưng đi lạc y như có nhà cho mình ghé, có người đưa mình đi”. Ăn bắp đi anh!”.
“Bà con sinh sống thế nào?”.
“Bám lấy đất sống thôi. Đất có ngập lụt hoang vu vẫn là đất, chịu cực khổ vẫn sống được. Giòng họ nhà tôi bao đời ở đây. Chết hết rồi, giờ chỉ còn vợ chồng tôi. Đất của ông bà khai phá. Thuở ông cố tôi đến đây móc đất đắp ruộng, rắn hổ mây còn lội đùng đùng ngoài đồng. Ông cố tôi đóng khố, gia tài chỉ có chiếc xuồng bằng thân cây dừa móc ruột, ngày đi gặt lúa ma, tối về nằm khoanh ngủ trong xuồng. Muỗi Tháp Mười thuở đó khiêng được trâu, muốn ngủ phải nhận nước đầy xuồng nằm ngâm mình trong đó, chỉ hở cái lỗ mũi. Ba bốn năm như vậy ông cố tôi cất được căn nhà, khai phá được khoảng ruộng không tới công đất, trở về làng tìm cưới vợ. Bà cố tôi sau này thuật lại: ông cố tôi về tới người khô quắt lại, đen như trái ấu, suốt bao năm sống một mình giữa đồng trống hoang vu quên mất tiếng người, đến nhà chỉ giương mắt nhìn, có ai hỏi chỉ ừ à không ra lời. Bà cố tôi thấy thương quá mới ưng lấy. Hai người sống với nhau rất thuận thảo, năm sau sinh đứa con trai đầu lòng, tức ông nội tôi. Ông cố đưa hai bàn tay ra trước mặt con nói: “Coi hai bàn tay thằng cha mày nè, lớn lên mần ăn không ra gì thì mày chết”. Thời ông cố tôi sống như vậy...”.
“Anh kể tiếp đi! Chà chuyện đồng nước...”.
“Tôi xin kể, chuyện không đầu đuôi anh chịu khó nghe. Đến thời ông nội tôi đã có được ruộng, được nhà, nhưng chẳng may trời cứ giông bão liên miên, có năm nước dâng tới năm sáu thước, sóng dồi cuồn cuộn như sóng biển, cả nhà lên ở hết trên xuồng chờ nước rút. Nhưng nước không chịu rút, cứ dâng mãi. Ông tôi nói: “Ai khát thò tay ra vốc nước uống, đói nhai củ co củ ấu, không được khóc lóc than vãn. Ai phải số được ông bà rước về, mọi người đọc một câu kinh thả xuống nước cho trở về với đất”. Mọi người nghe lời ông nội tôi răm rắp, tôi còn ẵm ngửa cũng biết sợ không dám hó hé. Thật là một cơn lụt đáng sợ”.
“Đến thời cha tôi tôi đã lớn, còn nhớ mọi chuyện. Cha tôi đúng là người trụ cột gia đình, biết cách dạy con cái. Ông nhỏ người, tóc thưa cứng, mình mẩy đen bóng như thân tràm lụt. Những năm đó thằng Tây thằng Nhựt làm cho nước mình nghèo, Nam Bộ đồng ruộng mênh mông mà dân không có gạo ăn. Cha tôi bận quần cụt bằng vải bao bố, phèn đóng cứng phơi khô có thể dựng đứng được. Rồi đến các anh chị tôi cũng bận như vậy”.
“Không bao giờ cha tôi tỏ vẻ mệt mỏi chán nản. Đêm đêm ông tập họp chúng tôi lại, nói: “Con người ta sanh ra có đủ tay chân để chống chọi với tai ương rủi ro, ông bà mình đã đổ mồ hôi xương máu trên mảnh đất này, mình phải rán giữ lấy”. Một đêm cha tôi kêu hết chúng tôi lại, nói: “Thằng Hai thằng Ba con Tư ra đây, thằng Năm thằng Sáu thằng Bảy ra đây, con Út nhứt Út Nhì ra đây! Các con ra hết đây!”. Anh chị em tôi kéo ra đứng chật sân, con trai đứng con gái ngồi. Cha tôi chỉ cây cột ở hàng hiên nhà nói: “Các con có biết sự tích cây cột này không?”. Chúng tôi đồng thưa:
“Dạ, chúng con không biết. Không nghe cha kể bao giờ”.
Cha tôi cho đốt một đống lửa lớn giữa sân, chúng tôi đứng ngồi chung quanh. Cha kể:
“Phải, các con không biết, má các con cũng không biết. Hôm đó má các con chuyển bụng sanh thằng Bường này nè (cha tôi chỉ tôi), cha đi lặn móc tràm lụt về cất nhà. Cha xom trúng thân cây tràm lụt nằm sâu dưới mấy thước đất, lặn hụp cả buổi, tai rỉ máu, mình mẩy lạnh tím, nhiều lúc muốn xỉu, không nấu được cơm chỉ nhai trái bông súng củ co trái ấu, mệt quá leo lên gò nghỉ một chút, nghĩ bụng: “Ông bà ngày xưa tay không làm nên tất cả, giờ mình có cơ ngơi chút đỉnh chẳng lẽ không sống được”. Cha nhào xuống tiếp tục lặn hụp với cây tràm lụt. Một lần cha xỉu đi, vừa kịp leo lên gò nằm xuôi tay chân, nghĩ có chết cũng phải cho đàng hoàng ngay ngắn. Nhưng cha không chết. Tỉnh dậy cha tiếp tục lặn, suốt hai ngày đêm lặn hụp với cây tràm lụt, ăn rau củ uống nước đồng, cuối cùng móc được cây tràm lên chở về nhà quăng giữa sân, gục xuống chết giấc luôn tại đó. Trong lúc đó má các con đang rặn đẻ thằng Bường, rặn hoài nó không chịu ra... - Kể tới đó cha tôi vung con dao chém mạnh vào thân cây cột nói - Chính cây tràm này đây, các con chém vô đây để nhớ lời cha dặn, nhớ công ơn ông bà gầy dựng cơ ngơi gian nan khổ cực”.
“Anh chị em tôi nghe lời mỗi người cầm lấy con dao chém vào thân cây cột, các anh tôi chém, các chị tôi chém, các em tôi chém, các vết chi chít từ trên xuống dưới. Tôi chém sâu hơn cả, cha tôi nói:
“Thằng này khá, sau này con giữ cây cột đó cho cha”.
“Đêm hôm đó cha tôi trải đệm ngủ ngay giữa sân, nằm giang rộng hai tay, râu tóc bạc xỏa dài, đống lửa cháy bập bùng soi rõ từng nét chân mày cánh mũi. Tôi không bao giờ quên hình ảnh cha tôi lúc đó, trông cha tôi không có vẻ gì là người nghèo cả, trông như các bậc hảo hán trong chuyện đời xưa. Tôi cũng trải đệm nằm cạnh cha tôi, thỉnh thoảng giật mình thức giấc nhìn lên cây cột đầy vết chém chập chờn trong ánh lửa”.
“Nhưng tôi không giữ được cây cột đó. Một hôm máy bay Tây ném bom đốt cháy căn nhà giết chết cha tôi. Đầu đuôi câu chuyện như sau”.
“Hôm đó cha tôi rủ tôi đi đồng với ông. Tôi vui lắm, phần vì được cha thương yêu, phần buổi mai mát mẻ dễ chịu. Hai cha con chống xuồng đi, cha phía sau, tôi phía trước. Ngang một bụi đế cao cha tôi dừng xuồng, ngó xuống tìm kiếm, chỉ tay nói: “Coi ổ chim chích nè con”. Tôi hiểu ý cha tôi, ông lấy chuyện chim chích dạy tôi. Giống chim thật gan góc, chim con mới nứt mắt nghe tiếng động nhảy lặn cắn gốc cỏ bám riết, người còn ở đó chúng lặn tới chết không trồi lên. Nước trong vắt, cha con tôi nhìn thấy từng con chích con cắn bám gốc cỏ. Một hồi cha tôi cười nói: “Thôi tao chịu thua rồi, tụi bây trồi lên đi”. Rồi cười ha hả chống xuồng đi”.
“Bỗng nghe cái gì ầm ầm như giông bão, tiếp theo xuất hiện trên nền trời những chấm đen như bầy còng cọc. Cha tôi la: “Ôi cha ôi, máy bay! Coi bộ không hiền đây!”. Tôi không biết, chưa thấy giống này bao giờ. Cha tôi hối tôi chống xuồng trở về, tới nhà quát lớn vào trong: “Ra hết đi! Thằng Hai thằng Ba đưa vợ con bây đi! Thằng Bường đưa má mày đi! Đám nhỏ cũng đi hết, ra tuốt ngoài đồng xa tìm bờ bụi mà núp, để căn nhà đây cho cha”. Chúng tôi nghe vậy lo lắm, nhưng chỉ biết nghe răm rắp mọi chỉ dẫn của cha tôi. Một loáng chúng tôi túa đi hết. Tôi chống xuồng đi, từng chập quay nhìn lại nhìn, thấy cha tôi chạy tới lui trong nhà, in bóng đen đen lên mặt sân. Cho tới lúc máy bay cắm xuống ném bom khói tung mù mịt không còn nhìn thấy gì nữa”.
“Đám máy bay ném bom suốt ngày, xế chiều bay đi. Chúng tôi trở về căn nhà đã cháy trụi, cha tôi nằm chết, sải tay, râu tóc xỏa dài, y như hôm nào ông nằm ngủ, cạnh cây cột đầy vết chém nghi ngút khói, cạnh đống lửa cháy bập bùng soi sáng lên mặt cha tôi. Chung quanh nhà lủ khủ những khạp mắm khạp gạo, hũ nước mưa, bòng bị quần áo chăn màn, cá khô tôm khô cha tôi đã kịp khuân hết ra ngoài. Cha tôi sống cũng như chết, sự gan dạ, lòng thương yêu đáng cho chúng tôi noi theo”.
“Mấy năm sau tôi cưới vợ, thay cha chăm sóc gia đình. Vợ tôi người ở tận đồng bằng sông Cửu Long. Tôi gặp vợ tôi trong một chuyến đi làm đồng, vợ tôi cắt lác, tôi bẫy chim. Đi chung với chúng tôi có rất nhiều trai gái suốt ngày làm lụng cực nhọc, chiều về ăn uống tắm rửa cười đùa trêu chọc nhau, hết chuyện trời đất mưa nắng tới chuyện cái lưng gù của tôi. Tôi biết họ buồn chuyện tìm cách khuây khỏa, chẳng để bụng phiền giận làm gì. Trong đó có cô gái không cười nhạo tôi, còn nhìn tôi vẻ thương cảm, tôi đem lòng thương tìm cách tỏ tình”.
“Về sống với nhau vợ tôi thường kể chuyện làm ăn sinh sống vùng quê cô, tôi biết ra chuyện cơ cực đâu cũng có, không riêng gì vùng đồng chua nước nổi này”.
“Riêng cảnh vợ tôi đã thấy cực hơn tôi rồi: cha mẹ chết sớm cô đi làm thuê làm mướn, về sống với tôi bao nhiêu năm tôi làm thay cho công việc nặng nhọc, đêm nằm rờ tay vẫn còn thấy những vết chai sần”.
“Năm tháng qua đi. Má tôi già chết đi, anh chị em tôi lớn lên có gia đình riêng đi mần ăn tứ tán. Tôi ở lại giữ căn nhà, sanh đứa con đầu lòng, ngày tháng chắt chiu nuôi con, cảnh sống từ đó bớt hẩm hiu buồn bã. Con tôi lớn mau như củ co trái ấu trên đồng, mùa mưa mùa nắng sởn sơ tròn mẩy. Nhưng một hôm chúng giết chết con tôi. Đó là những năm hòa bình lập lại, thằng Tây đi thằng Mỹ đến...”.
Người đàn ông gù dừng kể, xiết chặt hai tay, mặt lạnh lẽo, những mạch máu trên tay nổi vồng lên. Bếp lửa cuộn khói một hồi rồi cháy thành ngọn, nhảy múa uốn éo. Mấy trái bắp chín vàng, người đàn ông lấy ra đưa cho tôi. Tôi ăn bắp, anh lôi bắp ra nướng tiếp, trán nhăn lại, mi mắt trĩu xuống, môi và má cứ giật luôn.
Tiếng người đàn bà trong mùng vọng ra:
“Thôi để anh Hai nghỉ anh à, anh Hai còn đi xa”.
Người đàn ông nói:
“Không, anh Hai phải nghe chuyện giòng họ mình sống chết trên đồng nước này như thế nào, vợ chồng mình làm ăn nuôi con ra sao. Vợ chồng tôi nuôi con chẳng khác chi chim bồng bồng ấp trứng, nhiều lúc phải đi lặt từng gương sen, trái súng về giã bột cho con ăn. Nhưng gà nuôi con mà bầy quạ ở trên đầu. Một hôm một bầy trực thăng sà xuống hốt hết những người dân ở đây chở đi. Hôm đó tôi đi giăng câu trong đồng xa thoát được, về tới nơi thấy nhà cửa làng xóm vắng tanh. Tôi chết điếng người, linh tính có điều không may. Và quả nhiên như vậy... Mình à kể cho anh Hai nghe chúng giết con mình như thế nào đi”.
Trong mùng không có tiếng trả lời, chỉ có tiếng khóc sụt sịt. Người đàn ông đằng hắng mấy cái rồi kể tiếp:
“Chúng đem nhốt vợ con tôi cùng hằng trăm người trong một gian trại, rào mấy lượt dây kẽm gai, tới giờ phát cơm nước, buổi sáng buổi chiều ngồi xếp hàng nghe giảng quốc sách ấp chiến lược, không được ho, đái ỉa cũng cấm. Con tôi sống trong đồng rộng như chim giờ đem nhốt trong lồng vậy sao chịu được, kêu la giãy giụa; chúng đánh vợ tôi bắt phải dỗ con “để các quan chức làm việc”. Nhiều lần như vậy, cho đến một hôm chúng bắt con tôi đem đi luôn. Chúng nói: “Chồng chị không đi học tập, trốn nghĩa vụ quốc gia, chị bồng con lên đây gây rối các quan chức”. Chúng đuổi vợ tôi về, bảo nhắn kêu tôi lên trình diện mới trả con. Vợ tôi về kể chuyện cho tôi nghe, hai vợ chồng thức suốt đêm bàn tính cách đem con về không phải chun vào rọ của chúng. Nhưng thời thế như vậy có cách gì? Sáng hôm sau tôi nói với vợ tôi: “Mình nấu cho tôi nồi cơm ăn thật no, tôi đi đổi mạng con tôi đây”. Vợ tôi nghe vậy thì khóc ròng, cuộn quần áo đi theo tôi”.
“Bữa đi hôm đó như một cuộc đưa tang, tôi đi trước, vợ tôi đi sau, nước mắt trải dài trên đường đi”.
“Ra tới trại chúng thả vợ con tôi, giao tôi khẩu súng bắt đi lính. Ở trại lính tôi tập tành uống rượu đánh bài, tôi vốn tính chẳng xấu xa gì, do ở không buồn rầu mà ra thôi. Trong lúc đó con tôi chết dần chết mòn ở nhà. Từ lúc ở trại về đứa nhỏ nhiễm thứ bịnh gì các phương thuốc hiệu nghiệm bằng cỏ cây Tháp Mười không trị được, ngày một gầy yếu xanh xao, không ăn uống, cứ vậy cho đến chết. Tôi nghe tin con tôi chết hôm chúng bắt tôi đi lùng sục ma quỉ gì đó trong lùm bụi. Tôi buông súng, nói với thằng chỉ huy: “Tôi không đi lính nữa đâu. Tôi tính đổi mạng con tôi, giờ nó chết rồi, tôi về nhà chết với nó thôi”. Chúng giải tôi về nhốt vô hầm tôi cũng nói như vậy, hành hạ tôi đủ cách, tôi chịu không nổi tôi tìm cách trốn, dùng tay đào hầm dài năm sáu thước. Chúng bắt được càng đánh tôi tàn tệ hơn, dùng cây ba cạnh đánh lên cục gù lưng của tôi, nói: “Tao đánh cho mày ngay lưng lại, có khi mày còn cám ơn tao”. Đêm về tôi ói ra từng chén máu”.
“Cuối cùng chúng nghĩ ra cách hành hạ thật độc địa, treo tôi dưới trực thăng cho bay riễu phát loa dọa nạt dân chúng. Cha sanh mẹ đẻ tới giờ tôi chưa khi nào chịu cảnh đau đớn kỳ cục như vậy, ruột gan lộn tùng phèo, gió thổi như tát vô mặt khiến tôi muốn nghẹt thở. Tôi muốn được chết đi cho rồi, nhưng cũng muốn sống, nợ máu phải trả bằng máu, rồi có ngày chúng trả món nợ này của tôi. Tôi vùng vẫy tuột lần các mối dây, cuộn người tránh gió tạt vô mặt. Cuối cùng ngang một bãi lầy, thằng lái muốn đùa vui, cho sà xuống nhúng tôi vô một vũng bùn, tôi thừa cơ tuột dây nhào cắm xuống, chúng đảo vòng xả đại liên bắn nhưng bùn đã che cho tôi. Tôi nằm chết giấc ở đó không biết bao lâu, trời nắng rồi mưa, tôi tỉnh lại leo lên bờ lần đi, vô được một xóm nằm vật ra ở đầu làng, không biết ai cưu mang tôi đem tôi về nhà, vợ tôi không nhìn ra, nghe tiếng kêu rên mới biết. Tôi nằm liệt giường cả năm trời, lúc đó vào cuối năm Năm chín đầu năm Sáu mươi, từ mùa khô chuyển sang mùa mưa, mình chuẩn bị làm đồng khởi...”.
Anh dừng lại bước ra ngoài ôm cỏ khô vào đút thêm vào bếp, lửa cháy cao ngọn, nhìn thấy anh khác hẳn, tóc xửng lên, mắt long lanh, mồ hôi chảy ướt trên má trên trán. Thòng trong mùi bắp nướng có mùi bông tràm, mùi phèn chua, mùi của đồng nước...
Người đàn bà lại nói:
“Thôi để anh Hai nghỉ mình a”.
Người đàn ông như sực tỉnh, cười giả lả:
“Ờ thôi anh Hai nghỉ. Tôi ở đây quạnh hiu, gặp người nói chuyện quên thôi. Anh Hai nghỉ chút rồi đi”.
Người đàn bà khoác mùng bước ra ngoài. Đó là một người phụ nữ khó đoán tuổi, da mặt nhăn nheo, tóc cháy nắng xác xơ, miệng cười không còn tinh nhanh, nhưng ánh mắt vẫn còn trẻ trung, ánh lên màu đen đen của tuổi con gái. Chị bồng con ra ngoài cất tiếng hát ru. Đứa nhỏ khóc ngằn ngặt, giật nẩy từng cơn, phun nước miếng lèo phèo.
Tôi hỏi:
“Cháu bịnh sao vậy chị?”.
“Không biết sao”, người phụ nữ đáp. “Trời trở gió là nóng sốt...”.
Người đàn ông ngắt ngang:
“Anh đi lạc, giờ tính sao?”.
“Tôi cũng không biết, nhờ anh chỉ đường...”.
“Không chỉ được đâu, đồng nước có đường sá gì đâu mà chỉ. Phải nhắm hướng đi thôi. Phải chi tôi rảnh đưa anh đi...”.
“Sao anh không rảnh?”, tôi định hỏi. Nhưng sực nhớ đứa con đau, tôi nói:
“Tôi đi một mình được rồi, lần đường đi thôi”.
Anh nói như gắt:
“Lần làm sao, thôi để vợ chồng tôi tính lại coi”.
Anh bước lại chỗ chị vợ, hai vợ chồng thì thầm bàn luận. Tôi bước ra ngoài nhìn ra đồng nước, nhìn hai chiếc xuồng sóng đôi, một chiếc phủ vải ni lông. Không ngăn được tò mò tôi bước xuống giở tấm ni lông ra coi. Xuồng đầy ắp súng đạn, không tin vào mắt mình tôi đưa tay chạm tay vào từng khẩu súng trái đạn lạnh ngắt. Việc anh không thể đưa tôi đi là đây, anh kể lể dông dài chuyện đồng nước cốt che dấu điều bí mật này. Hình ảnh người nông dân tật nguyền đêm đêm đẩy xuồng vũ khí ra mặt trận hiện lên trước mắt tôi, lên trên hết những kỷ niệm êm đềm về quê hương đồng nước vừa mới choán chật tâm trí tôi.
Cố dấu xúc động tôi quay vào nói lớn:
“Trăng lên kìa! Trời có trăng tôi đi một mình được rồi, không lạc đâu”.
Tôi hé tấm phên bước vô. Hai vợ chồng ngưng thì thầm nhìn lên tôi. Đứa nhỏ cũng thôi khóc ngó nhìn. Người đàn ông nói:
“Giờ này làm gì có trăng. Vợ chồng tôi tính rồi. Tôi ở nhà giữ con, lát nữa trăng lên vợ tôi đưa anh đi.
Tôi nghĩ bụng: “Giữ con làm sao? Tôi không biết chút nữa anh đưa xuồng vũ khí này đi hay sao?”. Đứa con đang bịnh, tôi vô cớ biến khó khăn nhỏ của mình thành khó khăn lớn của vợ chồng anh. Nhưng tôi không thể nói ra điều đó, không thể nói thấy xuồng vũ khí, điều quan trọng tuyệt đối bí mật.
Tôi nói lảng sang chuyện khác:
“Đường này cũng có nhiều người qua lại?”.
“Nhiều lắm, có lần có người đi lạc như anh vậy”.
“Thôi mình à”, người đàn bà lại can ngăn.
“Còn lâu trăng mới lên, ngồi không làm gì. Chuyện có căn có quả, tôi phải kể anh Hai nghe chuyện này... Đêm hôm đó giữa khuya thức dậy chuẩn bị đi giăng câu chợt nghe có tiếng lội nước, nghe bước chân biết không phải dân đồng nước, tôi bước ra coi, thấy một người đàn ông lội nước quờ quạng nghiêng ngả, mặt mày tái xanh, râu tóc xỏa dài, rõ người từ xa tới. Chưa hiểu ra sao tôi vội nhào xuống nước lội tới dìu anh ta lên nhà đặt nằm nghỉ, hối vợ lo cơm nước. Nhưng anh ta nằm một chút nhổm dậy nói có việc hệ trọng, nhờ tôi đưa đi. Tôi nói: “Việc hệ trọng tôi phải đưa anh đi, nhưng tôi mới ở tù ra không có xuồng bọng gì, tôi cõng anh và anh đừng có chết trên lưng tôi”. Tôi kêu vợ nấu cơm vắt đem theo, xốc anh ta lên lưng lội xuống nước đi liền, ngâm mình dưới nước suốt đêm người lạnh cứng như đá. Hết đêm đó ngày hôm sau đến một xóm không biết chỗ nào, giữa đêm nghe có tiếng chân rầm rập, tiếng súng nổ...”.
“Đó là đêm đồng khởi?”.
“Đúng rồi. Tôi vội băng đồng lội về nhà, thấy xóm mình cũng đèn đuốc đỏ trời, vừa lúc vợ tôi chuyển bụng sanh đứa con. “Vậy là con tôi sống được rồi”, tôi la lên vang cả trời đêm”.
“Ngay đêm đó tôi vào du kích, lãnh khẩu súng “oảnh tầm sào” dài ngoằng, nói với anh ấp đội trưởng: “Khẩu súng này như con tôi vậy, đứa con lớn giữ mạng sống cho đứa con nhỏ”.
“Từ đêm đó xóm này trở thành đầu mối cho mọi con đường qua lại, nối liền vùng trên chiến khu với các vùng tạm chiếm bên dưới. Tôi tật nguyền không đi chiến đấu xa được, anh em giao tôi giữ việc canh gác, có người đi công tác bị lạc chống xuồng đưa đi. Thật lạ, tôi nghiệm thấy hoài như vậy, sau mỗi lần tôi đưa một người đi, mấy hôm sau có tin có trận đánh chỗ này nọ, rồi hôm sau nữa máy bay lên đây ném bom, như xóm nhỏ này làm chúng thua trận vậy”.
“Không thể kể hết những trận máy bay ném bom trên đồng nước này, các loại F, khu trục Xka-rai-đơ, T28 bắn hỏa tiễn, B52 bừa tới lui ngang dọc như cày ruộng, mặt đồng nát bấy, quanh năm suốt tháng làng xóm vẫn bám ở đây chịu đựng. Kể ra trận B52 đầu tiên chúng tôi cũng hoảng. Trời đang yên bình bỗng nghe ào ào như giông bão, chưa kịp hiểu gì bom đã tới, hằng trăm trái nổ nhất loạt như trời long đất lở. Hết loạt bom thứ nhứt tôi tay bồng con tay xách súng xua vợ chạy ra được tới công sự đầu tiên, loạt thứ hai đã đến. Tôi đè vợ con xuống nước nín đến hai hơi thở bom nổ vẫn chưa dứt, ngẩng lên không thấy nhà đâu nữa, như bị gió thổi bay vậy. Sợ vợ tôi chưa quen mất tinh thần, tôi báo liền: “Nhà mình trúng bom rồi. Là do rủi thôi, thằng Mỹ không ném trúng được đâu”.
“Đó là lần đầu tiên nhà tôi bị trúng bom Mỹ, như hồi xưa nhà cha tôi bị trúng bom Tây. Sau đó quen dần, mỗi lần nhà bị trúng bom vợ chồng tôi lặn móc đất đắp lại nền nhà, đốn tràm cắt đưng dựng lại nhà, chẳng chết gì một trái bom hay hằng trăm trái”.
“Tôi thường lấy lời cha dặn vợ con tôi: “Con người ta sanh ra có đủ tay chân là để chống chọi với mọi rủi ro...”. Vợ tôi nghe tôi, chẳng hề than phiền. Năm tháng trôi qua mặt đồng đầy lỗ bom, nhiều gia đình đông con bẩn chật, anh em du kích chúng tôi bàn nhau, chúng không cho mình sống gần nhau nữa thì sống xa nhau, đâu cũng trên đồng nước xứ sở mình. Chúng tôi động viên bà con dời sâu vô đồng, tụm năm tụm ba chui rúc trong các lùm bụi, xóm làng biến mất, nhưng đêm đêm xuồng ghe túa ra họp mặt nhau, cảnh coi sung túc gấp năm gấp mười”.
“Thằng Mỹ tinh ranh quỉ quyệt, dòm xuống không thấy làng vẫn biết bà con mình ở đâu đó. Chúng không cho “bừa” B52 nữa, một thời gian lặng thinh lặng ngắt. Vợ tôi nói: “Hay chúng hết bom?”. Tôi nói: “Khoan đã, thằng này trăm mưu ngàn kế, chắc đang tính bày ra loại vũ khí yêu tinh gì nữa đây”. Quả nhiên đến hồi đầu năm bỗng thấy xuất hiện loại xuồng bay, giống thật độc địa, sáng chiều bay rẹt đi rẹt lại trên đồng, thấy lùm bụi nào nghi nghi dừng lại xả súng bắn. Ngay hôm đầu tiên vợ chồng tôi bị một mẻ hoảng hồn. Vừa nghe rù rù chưa hiểu gì nó đã sà tới “rẹt” liền một loạt đại liên như sét đánh. Tôi bị bất ngờ quính quáng không tìm thấy khẩu súng đâu, xô hai mẹ con xuống nằm đè lên trên, may không có viên đạn nào xỏ xâu ba chúng tôi. Từ đó tôi không dám rời khẩu súng, đi đái ỉa cũng xách theo”.
“Lần thứ hai nó đến, vừa nghe tiếng “rè rè” tôi giương súng lên nó đã xẹt qua khỏi. Tôi ghìm súng chờ đợi, nói: “Vòng lại đi con, chỉ cần một phát tao đưa đám mày”. Nó vòng trở lại thật, đầu đít đâu không thấy, chỉ thấy một cục tròn vo, tôi nhằm ngay bụng nổ bừa một phát. Nó sà bay qua khỏi, lăng quăng như bị thương, có người nói nó đã rớt nhưng tôi không dám chắc, chỉ thấy chúng bỏ đi luôn không trở lại. Thôi như vậy coi như huề, đôi bên thu quân về không ai hư hao gì. Lần sau sẽ ăn thua”.
“Lần sau tôi bắn cháy một chiếc, cũng kiểu như vậy, nhưng tôi bình tĩnh hơn, tính trước độ cao, tốc độ, tôi nổ một phát nó vọt lên cao như con cá lóc bị giập đầu, nổ tung như chiếc bong bóng”.
“Từ đó đến nay tôi cùng du kích ở đây bắn cháy nhiều chiếc như vậy. Mỗi lần bắn rớt một chiếc chúng tôi kè xuồng kéo đi riễu khắp đồng, đập thùng gõ nồi hò hét mừng thắng lợi. Sau đó đem xẻ ra cho bà con gò nồi chảo, thằng Chắt con tôi được một chiếc xuồng con thả trên nước chơi”.
“Một hôm tôi có sáng kiến cho giăng một sợi dây cáp trên đồng. Cái giống này bay mau thắng không kịp, vướng dây cáp trôi tuột vào rừng như cá vô rọ. Chúng tôi bắt được một chiếc như vậy, thằng Mỹ bị trói tay còn ngơ ngác không hiểu chuyện gì đã xảy ra”.
“Nhưng chuyện giặc giã đâu phải mình bắn nó hoài nó không bắn lại mình. Một lần tôi bị trúng đạn tưởng không sống được. Lần đó tôi nhớ rõ lắm. Trước đó một ngày, tức ngày 17 tháng 7, Bác Hồ kêu đồng bào miền Nam biểu phải đánh mạnh. Giữa mùa sa mưa đột nhiên sáng hôm sau trời tạnh ráo, cả bầu trời xanh trong không gợn một chút mây, sen nở đầy đồng, chim chóc bay đi ăn từng đàn như tiết mùa xuân. Tôi dòm trời dòm nước nói với vợ tôi: “Trời nước như vầy thể nào tụi xuồng bay cũng lên đây kiếm ăn, mình phải “chủ động” mới được. Có gì hai mẹ con cứ nhảy lặn”. Nói rồi tôi xách súng chống xuồng ra đi, núp trong một bụi đế. Trời trưa một chút chúng lên tới, bay theo đội hình, hai chiếc trước một chiếc sau. Tôi hô anh em du kích ém kỹ trong các bụi đế, không đập muỗi cũng không được ho, thoáng một cái chiếc đi đầu đã bay ngang qua đầu, nhìn thấy rõ thằng Mỹ mặt đỏ au mắt đục ngầu. Tôi nói thầm trong bụng: “Được rồi, tụi bây mặc sức diễu võ dương oai, tới chừng nổ súng tao sẽ nổ trước”. Tôi nói lớn như vậy, để tự dặn mình, kinh nghiệm bao nhiêu lần rồi, đối với thằng giặc không thể đi sau nó được”.
“Nhưng hôm đó trời xui đất khiến thế nào tôi chậm chân chậm tay, do chiếc xuồng, hoặc do nghĩ đến vợ con, thằng xuồng bay sà tới nhìn rõ thằng Mỹ với chiếc đồng hồ trên cổ tay lông lá, tôi chưa kịp giương súng nó “rẹt” liền một loạt đạn, tôi nghe nóng bỏng cánh tay trái biết mình đã bị thương, người chao đi xuýt rơi xuống nước, tay phải chụp tay trái giữ lấy khẩu súng. Tôi cố trấn tĩnh: “Phải rời xuồng thật lẹ, và phải bắn trước khi lần thứ hai nó đến”. Tôi xé áo băng vết thương, nhận chìm chiếc xuồng, lội long đi cách đó một khoảng xa, vừa lội vừa quay lại khỏa nước xóa đi dấu máu. Tôi ngồi lại trong một bụi đế thưa cho chúng khỏi nghi, bẻ nhánh tràm cắm làm nạng để có thể bắn một tay. Lúc đó tôi nghĩ đến vợ con, nhưng là để có thêm sức mạnh. Chiếc xuồng bay trở lại, lẹ như tên bắn, chiếc đầu tròn lớn mau như bọt nước trồi lên mặt nước. Tôi bình tĩnh “yếu lĩnh” nổ liền một phát, thằng Mỹ ngồi ở cửa ngoẹo đầu buông rời khẩu súng, tôi biết mình đã bắn trúng”.
“Chúng đã phát hiện được tôi, chắc là như vậy. Cả ba chiếc vòng trở lại. Anh em trong đội du kích nghe tôi nổ súng cũng đã chuẩn bị sẵn sàng, tiếng “cúc cúc” ám hiệu vang lên từ đầu này tới đầu nọ. Trận chiến ác liệt bắt đầu!”.
“Chiến đấu trên đồng nước là phải đương mặt nhau, đọ gan nhau ăn thua, không được để hở một giây, không được mất bình tĩnh, không để bom đạn của chúng làm mình rối trí. Anh em du kích ở rải rác không nhìn thấy nhau, sự gan dạ của từng người càng cần thiết”.
“Vết thương tôi chảy máu nhiều. Trời nắng như đổ lửa, tôi khát nước như xé họng. Nhưng cố cắn răng không uống một giọt nước, khát quá khoát nước súc miệng rồi nhả ra. Có mấy lần tôi xỉu đi, mơ mơ màng màng, thấy lại cảnh vợ tôi nước mắt lưng tròng hôm đưa tôi đi cứu mạng đứa con. Thấy đứa con xanh xao chết dần mòn. Thấy tôi bị treo dưới bụng trực thăng trong cơn đau đớn cùng cực, tôi bèn cựa quậy chống trả dữ dội. Rồi tôi choàng tỉnh dậy, vừa lúc ba chiếc xuồng bay xắn xả bay tới. Tôi tỉnh hẳn, hụp xuống nước cho nòng súng giương cao lên, chọn chiếc chính giữa đưa vào đường ngắm. Lẹ như một tia chớp bóng đen của chiếc xuồng bay án hết đầu ruồi. Nhưng còn lẹ hơn nữa, tôi nín thở bóp cò bóng đen của nó chưa qua khỏi. Khẩu súng chỉ giật nhẹ, lửa bừng lên, cùng lúc chân trái tôi đau xé, nặng trịch như có ai đó níu trì phía dưới. Tôi chép miệng: “Vậy mà nó cũng kịp bắn, cái giòng độc hại hết sức”. Nhưng như vậy tôi cũng đã bắn cháy nó rồi. Tôi rướn người lên nhìn tận mắt chiếc xuồng bay gãy cánh nằm chúc đầu xuống nước, cháy phừng phừng cho đến khi tàn rụi. Tôi lội đi tiếp, hít thở mùi xăng cháy một cách thỏa thuê”.
“Tôi nổ súng tới trưa, rồi xế chiều, không nhớ đã bắn cháy bao nhiêu chiếc xuồng bay, và bị bao nhiêu vết thương. Mỗi lần bắn cháy chiếc xuồng bay tôi đều nhóng lên dòm coi, mỗi lần bị thương bẻ thêm một nhánh tràm cắm làm nạng, đợi nó đến thật gần mới nổ súng. Với tầm bắn như vậy tôi khó bắn trật, trừ khi tôi mất bình tĩnh. Nhưng tôi rất bình tĩnh, từ đầu đến cuối mọi động tác đều rập khuôn không sai một chút”.
Tôi không uống một giọt nước, một lần một trái rốc-kết nổ gần nước chạt vào miệng tôi nhổ liền trở ra. Tôi nói hoài trong bụng để tự dặn mình: “Mình không thể chết trước khi chúng bỏ chạy”. Cuối cùng chúng bỏ chạy, tôi được anh em đưa về”.
“Đó chưa phải là trận đánh gay go nhứt của tôi. Sau này tôi còn dự nhiều trận đánh gay go hơn. Tôi nhớ trận đó vì đã để cho chúng bắn trước. Sau này không khi nào tôi bị như vậy”.
“Sau này mỗi lần xách súng ra đi tôi đều nói với vợ tôi: “Hôm nay tôi phải nổ súng trước, nghe tiếng nổ cầm chắc tôi bắn rớt một chiếc!”. Con tôi bập bẹ nói: “Ba bắn nó để nó không bắn mình hả ba?”. Đúng là như vậy. Tôi chiến đấu vì mọi người cũng vì con tôi, như vậy cũng đã được đền đáp rồi”.
Người đàn ông lại cúi xuống thổi lửa, những giọt nước mắt long lanh trên mi mắt, tôi nghĩ đó là những giọt nước mắt vui. Anh nói tiếp:
“Bao nhiêu năm chúng tôi chiến đấu như vậy. Vỏ quít dày có móng tay nhọn, chúng bày ra trò quỉ quái vũ khí ác độc gì chúng tôi đều trị được, bị thiệt hại tới đâu chúng tôi vẫn ở đây, trên đồng nước này. Tôi nói hoài với vợ tôi: “Mình cứ yên lòng nuôi con. Ngàn đời bà con mình vẫn sống, chúng tới rồi chúng đi mình vẫn sống ở đây thôi”.
Anh đứng dậy rút cây dầm từ gác mái, vén mùng nói với vợ:
“Trăng sắp lên rồi, mình để con đó đưa anh Hai đi đi, đi trễ trời sáng “ló đuôi” thì chết”.
Chị vợ vén mùng đi ra, xuống xuồng chuẩn bị dầm sào. Anh nhấc tấm phên cho tôi bước ra. Trời đã hết mưa, lạnh như cắt da. Đêm yên tĩnh, nghe rõ tiếng gió lùa tiếng sóng vỗ nhẹ nhàng. Hai chiếc xuồng nhồi sóng lắc lư, háo hức muốn lướt đi. Người đàn bà loay hoay mãi với sợi dây xích. Tôi xốc ba lô lên vai, nghe tiếng người đàn ông nói đả đớt với đứa con trong mùng:
“Rán chịu cực khổ với ba nghen con! Chẳng qua là do khó khăn chung... Ba cột chân con vào cây cột này nè, con không được tháo ra, con bò chơi quanh quẩn đây thôi...”.
Bóng người đàn ông hiện lờ mờ qua vạt mùng, chiếc lưng gù cúi gập, loay hoay với chiếc khăn choàng cột chân đứa con vào cây cột, vừa hát ầu ơ:
“À ơi, ba cột chân con vô cây cột, ba cột chân con vào cây cột...”.
... Chị đàn bà chống xuồng đưa tôi đi, xuồng vạch một đường sáng dài trên đồng nước. Đêm Tháp Mười thật mênh mông. Gió thổi mơn man cây cỏ lau sậy kêu rì rào. Mặt nước gợn sóng lấp lánh, tiếng côn trùng nỉ non. Đó đây những đám sen đám bông súng nở trăng trắng, những chiếc lá nghiêng một nửa khẻ rung rinh dưới gió. Vô vàn những vì sao nhấp nháy nghiêng dần xuống chân trời, từng ngôi từng ngôi rụng chìm xuống mặt nước.
Người đàn bà càng lúc càng tỏ ra nhanh nhẹn, mỗi lần nhún đẩy chiếc sào chiếc xuồng lại lướt rào tới. Chị mím môi, mắt long lanh ánh lên vẻ trẻ trung, người như vươn về phía trước.
Còn tôi lại nghĩ về phía sau. Cơn gió thổi tới, tôi nghe vẳng lại tiếng khóc của đứa nhỏ bị cột chân vào cây cột, hiểu vì sao cha nó cột chân nó vào cây cột.
Là vì chiếc xuồng súng đạn cạnh sàn nhà. Má nó đưa tôi đi. Cha nó chút nữa phải chở xuồng vũ khí đi, chỉ mình nó ở nhà với cái chân bị cột vô cây cột...
Tôi nhìn ra xa. Bình minh đang lên, chân trời rạng một màu hồng, những vệt mây đâm ngang, mặt trời hiện ra, những tia sáng đầu tiên như muôn ngàn sợi chỉ bủa tung trong không gian. Từng đàn chim bay túa ra từ các lùm bụi. Mặt nước phút chốc từ đen thẫm trở nên trong xanh, sáng như gương, những gợn sóng như những con rắn bạc tung tăng nhảy múa. Nước trong vắt, những bụi rong đung đưa lặng lờ. Gió thoảng mùi bông tràm, bông sen, mùi cỏ ống, cỏ tranh năng lác. Giác quan tôi bỗng chốc trở nên tinh tế, nhận ra cả mùi hăng ngai ngái của những ổ chim vừa mới nở, những chồi non vừa mới lú lên. Phút chốc cả không gian trắng lóa, mặt nước soi bóng những đám mây trắng trôi lửng lơ, nhẹ nhàng tinh khiết như những đám bông...
Xuồng ghé vào một bờ đất, tiếng người đàn bà vang lên như tiếng nước reo:
“Tới rồi! Anh đi mạnh giỏi nghen!”.
“Cám ơn chị! Gởi lời cám ơn anh”.
“Dạ đâu có chi”.
Phải, đâu có chi. Chỉ chống xuồng đưa đi một đoạn đường... Còn chuyện kia, chuyện đứa nhỏ bị cột chân vào cây cột chỉ có tôi biết, chị biết, chồng chị biết, chúng tôi mãi mãi giữ kín trong lòng, như bao chuyện lâu nay trên đồng nước này...
8 – 1969
Nguồn: Tuyển truyện ngắn Lê Văn Thảo. NXB Văn học, 2012.
www.trieuxuan.info
|