29.07.2013
Chu Lai
Nhà lao cây dừa (2)

Từ sân bay chúng tôi đi bộ chừng một kilômét thì đập mắt vào hàng rào gai. Trong hàng rào gai là những mái nhà lợp tôn nhấp nhô đứng thành hàng. Nhìn nhà tù lòng bỗng dưng ngao ngán. Rào nhiều thế này, rào mọi chỗ, trên trời, dưới rào, liệu trốn bằng cách nào đây? Những báng súng và những tiếng chửi tục đẩy nhanh hai chục chúng tôi vào một căn nhà dài 12 thước, rộng chừng 5 thước có đề bảng số 6 ở ngoài. Một mùi hôi thối xộc lên, cái mùi mà suốt đời không thể quên được đã khiến tôi muốn té xỉu. Khi dấp dính mở được mắt ra tôi thấy trong phòng đầy nghẹt người nằm ngồi ngả ngớn trên hai dãy bệ xi măng chạy dài sát tường thiếc, chỉ để một lối đi nhỏ ở giữa mà ngay cả lối đi đó cũng chật ních người. Họ giương mắt nhìn chúng tôi. Có người chào, có người gật đầu, lại có tiếng thở dài. Một tiếng nói từ góc phòng thốt lên: “Lại vô nữa. Chiều qua một đợt, chiều nay một đợt, cách mạng bên ngoài sao rồi mà anh em ta rủ nhau vô tù như đi hội vậy?”.


Tôi để ý nhìn hết lượt gần một trăm sinh vật người không còn ra hình người nữa. Gầy, gầy quá! Áo quần màu nước dưa ố, cái còn cái mất, kiểu quân phục soóc dày cộm được nhuộm lại nham nhở của lính Pháp ngày xưa còn lại. Cái mùi tanh khẳm từ những bộ quần áo này phả ra hay từ thân xác bên trong, hay từ chiếc cầu tiêu làm bằng phân nữa chiếc thùng phuy dựng ở góc nhà. Nóng hầm hập. Ngoài trời còn có chút gió, trong này nghẹt người lại bao xung quanh trên dưới toàn tôn thiếc đang bị nướng nóng đến cong vênh. Trên lưng áo người nào cũng in đậm hai chữ: TB (tức tù binh) và phía trước ngực là số tù dài ngắn khác nhau. So với họ – những người đến trước – chúng tô còn có vẻ bảnh bao hơn. Bảnh bao về quần áo, bảnh bao cả về nước da chưa đến nỗi nào.


Họ im lặng bảo nhau nằm dẹp, ngồi thu vào dành chỗ cho người mới đến. Im lặng bao trùm. Họ chỉ nói với chúng tôi bằng mắt. Sau này tôi mới hiểu sự im lặng này là có lý do. Trong hỗn độn cả trăm con người từ tứ phương gom tụ, biết ai ngay ai gian mà bộc lộ tâm tình. Kẻ thù gài gián điệp, mật vụ và kẻ chiêu hồi vào khắp nơi đã trở thành nạn dịch cho tất cả các nhà giam. Ngay bữa ăn đầu tiên, tôi đã hiểu thế nào là một khẩu phần cơm tù của nhà lao Cây Dừa. Mười người một xô cơm chỉ to bằng cái lon chứa dầu 1 lít. Tức là mỗi người chỉ vỏn vẹn được chừng dăm muỗng là hết. Những muỗng cơm ẩm xì hôi mùi gián ăn nhếu nháo với mấy con cá nát nhũn, thum thủm và nửa cà mèn canh lõng bõng vài ba miếng dưa leo. Thế thôi. Không bát không đũa, không tăm xỉa răng, nước chỉ vừa đủ để tráng miệng.


Đang ăn chợt nhìn thấy bàn tay người ngồi cạnh ghẻ chốc sần sùi mà rùng mình, miếng cơm tắc cứng trong cổ. Nhìn ra xung quanh, hóa ra ai cũng ghẻ lở đầy mình cả. “Chừng nhìn miết rồi cũng quen đi! Ở đây người lành lặn nhất thì trên mình cũng có trên chục nốt ghẻ, đó là chưa kể hắc lào, phù thũng”. Người nói với tôi câu đó là một anh lớn tuổi, dáng trí thức có cái nhìn trầm tĩnh mà sau này tôi mới biết là bác sĩ Ba Châu chứ lúc đó người ta kêu anh tên Chung (dường như nếu có đổi tên hay họ thì người nào cũng đổi na ná cái tên cũ của  mình cho khỏi quên hẳn tên cúng cơm – Ví dụ Châu thành Chung, tôi tên Toản thành Toàn).


Hai chục người mới tới làm thành hai tổ. Cả phòng một trăm người làm mười tổ. Tôi ở tổ bác Xê, người miềnn Trung, ít nói và đạo mạo như thầy đồ. Toàn phòng có một ông trưởng phòng để đại diện cho anh em làm việc với giám thị trong tất cả các mặt sinh hoạt, đối xử. Ông này có thể do anh em bầu ra hoặc do ban giám thị chỉ định hoặc do hòa hợp cả hai. Không ai muốn làm cái công việc trên đe dưới búa này hết. Được giám thị thì mất lòng anh em, vì quyền lợi của anh em nhiều khi lại bỏ mạng. Cạnh trưởng phòng có một liên lạc viên thường chọn người nhanh nhẹn, hoạt bát để thường xuyên liên hệ với giám thị. Phòng tôi lúc đó là cậu Tín, người Hà Nội rất đẹp trai và láu lỉnh. Chuyện về cậu này rất hay, rỉ rả để tôi kể cho anh nghe…


Dưới cổng, con nhó xoáy giống Phú Quốc rất đẹp chợt kêu lên những tiếng chững chạc, dữ dằn. Giống chó xoáy cuốn lông lưng này người ta bảo nó đẹp mã, nhỏ con, mượt mà nhưng con béc giê nào đứng trước nó cũng co rúm lại. Vậy là ông chủ vườn tiêu ấp Khu Tượng có khách. Tạm nghỉ. Lựa lúc này xin cung cấp thêm cho bạn đọc một ít thông tin về cấu trúc nhân sự thuộc guồng máy bạo lực của nhà tù mà tôi may mắn được anh Tám Quýt, vốn một thời khu ủy khu Chín cử ra phụ trách việc tiếp nhận tù binh trốn trại ở Campuchia thương mà xé sổ tay ra cho. Cái thông tin gián tiếp này sẽ bổ sung sâu hơn cho cái thông tin trực tiếp của Hai Nam mà không sợ có độ chênh gì quá lớn. Và cũng bởi vì câu chuyện của Ba Toản đã dẫn tôi vào trung tâm vấn đề, từ đây chỉ có khoét sâu dũi kỹ vào mọi hang hốc chứ không thể thoái lui được nữa. Một trong những khía cạnh hang hốc đó là nhìn kỹ thêm về phía kẻ thù để định lượng cái sức lực của ta. Bộ chỉ huy tối cao nhà tù là một bộ chỉ huy chung hỗn hợp Việt - Mỹ. Tất nhiên, người Mỹ bằng cách thức của họ, họ bao giờ cũng làm ra vẻ khiêm nhường ẩn núp ở phía sau nhưng mọi quyết định quan trọng lại xuất phát từ chính họ. Cũng như ở phía dưới, nhà tù chia thành năm ban: Ban điều hành, ban giám thị, ban an ninh, ban chiến tranh chính trị, ban quân y do cấp thiếu tá người Việt phụ trách làm trưởng, còn thiếu tá Mỹ chỉ lo phận sự làm… phó.


Ngoài bốn tiểu đoàn quân cảnh (có lúc lên năm), họ còn tăng cường một tiểu đoàn công binh mà một phần ba là Mỹ và Tân Tây Lan làm nhiệm vụ mở đường, làm sân bay nặng và thiết kế những bãi mìn dày đặc xung quanh 5 cây số vuông nhà tù. Một liên đội gồm năm đại đội bảo an thiện chiến đóng ở cầu Đầm và trấn ngự tại năm điểm cao bao kín vòng ngoài. Liên đội này có một cây cối 106,7 ly, ngày đêm nã cầm canh vào rừng nghe rất sốt ruột. Nếu có hiện tượng tù vượt trại, chính những trái cối bự như con heo con ấy sẽ hủy diệt họ cho đến người cuối cùng. Một tốp trực thăng chiến đấu cũng thay nhau ngày đêm quần đảo trên bầu trời Phú Quốc tạo một cảm giác ảm đạm ngột ngạt cho những sinh linh nhỏ bé đang tồn tại khổ đau ở mặt đất.


Lực lượng hải quân ở đây gồm một hải đoàn mang bí số 42, chia ra một nửa trấn giữ phía nam nhà tù, tức là mạn bờ biển An Thới, nửa khác án ngữ ngoài khơi cùng với hai tàu lớn chứa dầu và hai tàu vận tải của Đại Hàn (Nam Triều Tiên) lo tiếp tế cho nhà tù. Lực lượng này tính ra có từ 40 đến 60 cố vấn Mỹ thường xuyên túc trực.


Về phương tiện cơ giới của nhà lao thời kỳ này lên tới 100 xe tải chở tù, 4 xe nồi đồng cũ, 33 GMC và 30 xe Jeep các loại. Ngoài hai máy đèn công suất 115 KWA và một trạm ra đa hiện đại còn có máy bay thả bom thường xuyên lên xuống cùng với một L.19 và hai trực thăng.


Như vậy bộ máy đàn áp nhà tù lên tới 4.000 người gồm cả hải, lục, không quân. Với bộ máy này, họ tin rằng không chỉ hoàn tất tốt việc đàn áp mà còn đánh bại ngon lành bất cứ một lực lượng ngoại nhập nào tính liều mạng giải phóng nhà tù Cây Dừa. Và điều này họ không phải hoàn toàn không có lý.


Bây giờ tôi trở lại câu chuyện của anh Ba Toản vì khách của anh đã ra về.


-         Khách nào mà đông thế? Tôi hỏi.


-         Mấy vị ở cấp ủy xã đến hỏi chút công việc.


-         Ủa! Anh về hưu rồi kia mà.


-         Trong lòng có chút buồn bực thì về thôi nhưng vẫn nặng nghĩa với phong trào địa phương. Anh bảo, đã gắn bó với nó hàng chục năm nay, một lúc đâu dễ phủi sạch tay. Thôi, đó là chuyện hôm nay, cái hôm nay còn nhiều sự nhức óc mệt mỏi hơn cái hôm qua nhưng bỏ đó đã. Tôi kể đến đâu rồi nhỉ? Chà. Khỉ gió! Đáng lẽ cái chuyện lao tù này tỉnh, Trung ương và người viết mấy anh phải làm sốt sột ngay từ buổi đầu giải phóng kia. Bây giờ gần hai chục năm trời qua mới đào xới trở lại, sao mà nhớ hết và liệu còn có ai để nhớ. Trách các anh quá! Cả một pho sử đau thương dữ dội ngất trời vậy mà chả ai để tâm tới.


Tôi không trả lời, cuốn một điếu thuốc rê và nhả khói lấp đầy im lặng. Tôi biết cảm xúc này ở anh sẽ qua nhanh và anh sẽ quay về với những tháng ngày không quên của người lính.


-         Đêm thứ hai có một sự kiện khiến tôi vỡ ra nhiều điều của cuộc sống tù ngục. Đó là việc anh em ta trùm chăn giết chết thằng chiêu hồi. Thằng này bề ngoài trông bình thường như mọi người khác, nhưng anh em để ý thấy thỉnh thoảng nó lại biến đi đâu một lúc và lúc trở về cái mặt, cái mắt nó khác lắm, cứ dáo dác không dám nhìn thẳng vào ai, ai bất giác ho to một tiếng nó cũng giật mình. Trong tù nhìn nhau rõ lắm!


Đói khát, bị đánh đập đến mụ mẫm thật, đêm nằm không chăn chiếu, không mền mùng để mặc cho khí lạnh từ núi phả vào buốt giá đến tận xương tủy thật nhưng ở một góc sâu trong đầu óc vẫn còn tinh nhạy lắm, ai động đậy con ngươi khang khác một chút cũng đoán biết được ngay. Con mắt hắn không giống với tất cả những con mắt khắc khoải, lo âu và hy vọng, hờn căm và tuyệt vọng, rầu rĩ và yêu thương thường thấy mà nhà tù tạo ra cho mọi người. Lại thêm trong phòng thỉnh thoảng lại có người nửa đêm bị gọi đi và không trở về. Hôm sau, một người lính quân cảnh tốt bụng nói nhỏ lại rằng người ấy đã bị quẳng xuống biển, đã bị đóng đinh 10 phân vào đầu hay đã bị vất vào chảo nước sôi… Những người bị gọi đi như thế thường là những người tốt, có khí phách được anh em tin cậy, được anh em hỏi ý kiến mỗi khi có sự việc gì đột biến xảy ra. Lính gác lảng vảng ở vòng ngoài, giám thị lâu lâu mới dám xuống. Vậy ai khai báo? Chỉ có người trong nội bộ, chỉ có kẻ đang tâm làm tay sai chỉ điểm cho giặc để mưu cầu lợi ích cá nhân.


Và thế là, lựa lúc tối trời, chờ hắn vừa lỉnh đi đâu về, ba người có dáng khỏe mạnh nhất phòng cởi áo trùm chặt lấy mặt hắn, một người hỏi:


-         Mày đi đâu về? Nói! Không tao giết”. Nó ấp úng không trả lời. Một bàn tay ghì siết lấy cổ! Hắn ằng ặc kêu xin. “Nói không! Nói thật thì đánh một trận rồi tha, không nói, cho đi luôn”. Và lần này nó nói, nói hết. Do sợ khổ mà nó bán anh em đồng đội, bây giờ do sợ chết mà hắn không giữ gìn gì nữa. Nhưng niêm luật trong tù thật khắc nghiệt, đã phản bội là không còn đất sống, không có điều kiện và thời gian để cảm hóa. Nhà tù không có chỗ chứa cho sự nhân đạo chung chung, ủy mị một chút là trả giá bằng cả trăm mạng người… một phút sau, cái xác đó nằm im. Bây giờ làm sao đây? Để nó chình ình nằm thế này, sáng hôm sau bọn giám thị dứt khoát sẽ trả thù. Chúng đã tuyên bố: nếu diệt người của chúng một, chúng sẽ diệt trở lại mười hoặc hơn thế. Chính tại phòng giam này năm ngoái, do anh em tự phát đập chết hai tên chiêu hồi cam tâm làm “trật tự viên” đánh đập anh em còn dữ dằn hơn chính bọn cai tù mà sau đó phải âm thầm mang hàng chục xác ra nghĩa địa chôn. Nhưng không thể không diệt.


Trước tình thế đó, anh em nghĩ ra một cách rất hay hoặc đã nghĩ ra rồi, đã có chỉ đạo rồi mới hạ phương án hành động. Lúc này ngoài trời đã tối. Ngọn đèn treo ở hàng rào phát ra ánh sáng đục ngầu như con mắt kẻ sát nhân. Một bóng tù chui qua kẽ tường thiếc và theo đó hai người nữa lôi theo xác chết của tên phản bội đến gần chân rào. Rồi một người vung mạnh tay… choang! Con mắt ấy vụt tắt. Lập tức hai người khiêng nhanh xác chết quẳng xuống chân rào tối om. Cùng lúc, một tràng đại liên từ chòi cao phóng lửa xuống ngay nơi ngọn đèn tắt ấy… Gầm gào một hồi rồi lặng… Sáng hôm sau, trước mắt những người tù, xác tên phản bội nằm nát bấy, chìm trong cỏ. Một sĩ quan quân cảnh lấy mũi giày hất mặt nó lên, chửi: “Đ mẹ! Thằng nào muốn vượt ngục hãy nhìn xác thằng này”. Thế là qua. Tên giám thị dù biết là ngón đòn của anh em nhưng đành ngậm miệng. Bằng cớ đâu. Tất cả chỉ do một quy luật anh em nắm được: Ban đêm, đèn tắt ở đâu thì đại liên xả vào đó. Vậy thôi.


Trong tù những câu chuyện đại loại như thế này kể hàng tháng không hết, mà anh cũng chả ghi chép nổi đâu. Mai mốt gặp người khác, họ bổ sung mỗi người một tí mới toàn diện. Tôi sẽ giới thiệu cho anh một vài người đang làm việc ở đây, chịu khó tìm sẽ gặp. Bây giờ tôi tóm lược cho anh về một số những hoạt động trong tù để anh hình dung.


Gọi là phòng số 6 hay số 7, gọi là khu A hay khu B gì đó nghe tưởng chừng cố định nhưng thực chất chúng xáo động luôn luôn. Xáo động không hẳn do lượng tù tăng lên giảm xuống hay do diện tích nhà cửa rộng hẹp. Chủ yếu chúng xáo trộn để đánh rã lực lượng ta và nhân thể cài điệp báo vào. Thông thường một nhà giam chỉ nội trong một, hai tháng là có thể hiểu nhau được hết. Một hai tháng ấy, ai tốt, ai xấu, ai dũng cảm, ai hèn nhát là phân loại được ngay. Tất nhiên loại luôn được những kẻ “nằm vùng”. Chỉ buồn! Nếu kẻ thù giết ta bằng đủ những trò thâm độc mà ít nhà tù nào có thì ta cũng trừng trị bọn phản bội tàn độc không kém như câu chuyện kể trên. Biết làm sao. Nhà tù cũng như ngoài mặt trận, muốn tồn tại, phải thẳng tay.


Chúng xáo trộn còn vì một lý do khác quan trọng hơn nữa: Để bọn quân cảnh chưa kịp bị ta địch vận (cần phải nói cho công bằng: Lính quân cảnh không phải hầu hết là xấu, có khá nhiều người trong số họ tỏ ra có thiện cảm với ta và giúp được ta không ít việc) và những dự tính vượt ngục của ta chưa kịp hoàn thành. Muốn đào được một đường hầm phải lựa mùa mưa, phải nhanh nhất cũng mất sáu đến tám tháng. Mới sang tháng thứ ba chúng đã xáo trộn lung tung thì đào sao kịp? Nên nhiều khi trận này đang đào dở bị chuyển đi đành nghi trang cho kỹ rồi vẽ sơ đồ nhét lại bàn trao cho người đến sau. Chuyện đào hầm là một kỳ tích mang đặc trưng hết sức đáng tự hào của nhà tù Phú Quốc, anh phải đi tìm. Cho đến lúc này, chính tôi cũng không biết ai đã làm công việc đó và hiện nay ở đâu?.


Ở khu biệt giam được hai tháng, tôi và năm mươi người nữa bị chuyển sang khu năm, phân khu 5B. Anh lưu ý biệt giam khác và biệt giam cấm cố khác. Nghe nói cậu Hồng, cái cậu trẻ tuổi bị thọc gẫy răng ngày đầu ấy bị điều sang khu biệt giam cấm cố. Về đó coi như tàn đời, anh thử đi tìm hỏi xem. Từ đấy tôi bặt tin bác sĩ Ba Châu, con người trở thành linh hồn trong nhà lao với sự tận tụy phi thường đã cứu chữa lành lặn không biết bao nhiêu người bị đánh đập thành thân tàn ma dại. (Không ngờ chín tháng sau tôi lại gặp lại đồng chí này trong rừng Dương Tơ, căn cứ kháng chiến của huyện đảo). Nhưng đó là câu chuyện về sau. Còn lúc ấy, mạng người rẻ như bèo, không biết chết sống lúc nào.


Khi tôi vào thì nhà lao đã phân chia rạch ròi thành khu tù binh miền Bắc và khu tù binh miền Nam. Trước đây chúng nhốt chung hết thảy, thậm chí không thèm phân biệt cả sĩ quan lẫn chiến sĩ. Sau này do những đợt đấu tranh và những lần trốn trại làm kinh ngạc cả Sài Gòn và Lầu Năm góc bên kia Thái Bình Dương, chúng thít chặt quy chế hơn. Chúng tuyên bố công khai tù binh Bắc Việt là tù binh của quân đội chủ lực chính quy, quân đội xã hội chủ nghĩa, cần được đối xử đàng hoàng, còn tù binh Nam Việt chỉ là quân phiến loạn, không cần để mắt tới. Thực chất lại ngược lại, các trại tù miền Bắc, nhất là trại sĩ quan đối xử tàn tệ hơn ai hết. Xin mách cho anh một tù binh sĩ quan cũng đang sống ở đây. Ông Hai Hội biết nhiều chuyện lắm và vượt ngục ra trước tôi. Chúng tách ra như vậy để dễ cai quản, dễ chia rẽ cũng giống như thằng Pháp ngày trước chia Việt Nam ra ba kỳ để trị. Chúng sợ ảnh hưởng qua lại, hà hơi tiếp sức cho nhau. Chúng sợ sự bổ sung ý chí và sức mạnh tổng hợp một khi quân chủ lực và quân địa phương gom tụ lại mà chúng đâu hay rằng khái niệm chủ lực hay địa phương trên chiến trường miền Nam thời kỳ ấy đâu có rạch ròi ngăn cắt. Chỗ nào cũng là chủ lực và nơi nào cũng có thể là địa phương, tuân thủ mềm mại đường lối chiến tranh nhân dân của ta.


-         Nghe nói có lần chúng tàn sát cả trăm mạng người!… - Tôi hỏi trong lúc anh Ba Toản dừng lại đôi chút để thắp lại ngọn đèn vừa tắt.


-         Bốn lần. Lịch sử nhà lao Phú Quốc trải qua bốn lần thảm kịch. Mỗi lần đúng là tới cả trăm người. Lần thứ nhất vào năm 1965, khi Mỹ bắt đầu đổ quân vào và số tù binh của ta bắt đầu lên đông. Tôi nghe nói lại lần đó chúng bắt anh em mình tập hợp thành một hàng dài để chào cờ tam tài và hô đả đảo Đảng Cộng sản. Anh em mình không ai hô, thế là chúng túa vào dùng dùi cui báng súng đánh tới tấp. Giao chiến một mất một còn ngoài chiến trường quen rồi, dòng máu lính chiến nổi lên, anh em đánh trả lại. Và chúng xả súng… Khi khói súng tan, đám tù vơi đi gần một nửa, cả tuần sau máu nơi ấy vẫn còn phả mùi tanh nồng vào tận phòng giam. Tính ra lần ấy anh em ta hy sinh 78 người.


Lần thứ hai, hình như năm 1967, mùa mưa thì phải. Do chúng đối xử quá tàn tệ, trong một nhà giam đã có hai chục người mắc bệnh kiết lỵ chết không được cấp cứu. Anh em tuyệt thực. Một vài nhà giam khác cũng tuyệt thực theo. Tổng số thời gian tuyệt thực kéo dài tới 11 ngày. Đúng lúc đó phái đoàn chữ thập đỏ quốc tế sắp đến kiểm tra, cuống quá, chúng nài nỉ anh em thay đổi thái độ. Anh em không nghe, đòi phải đáp ứng mọi yêu sách đúng với công ước Giơnevơ, thì anh em mới chịu ăn. Đời nào chúng chịu! Chúng dùng vũ lực xua anh em ra rừng để giấu. Xưa nay giấu ém tù binh có vấn đề, tù binh ốm yếu bệnh tật ra rừng để che mắt công luận Quốc tế là thủ đoạn quen thuộc của bọn cai tù Phú Quốc. Anh em không chịu đi. Chúng đánh đập dã man. Uất quá, không chờ có lãnh đạo, không cần lệnh chỉ huy, anh em nhào lên cướp vũ khí của chúng đánh lại chúng. Quân cảnh bỏ chạy để mặc cho 4 họng đại liên ở bốn chòi cu tha hồ suối đạn vào tận trong các nhà giam… Lần đó, tính ra có đến hơn một trăm người được khiêng ra nghĩa địa, khiêng suốt đêm không hết, tất nhiên là tù khiêng nhau. Mấy cái nhà giam đó cả tuần sau vẫn vắng lặng như bãi tha ma. Bọn lính cũng không dám lai vãng tới. Hình như chúng sợ cái hơi hướng tử khí oan hồn bám dính vào chúng hay sao ấy. Có thằng giám thị vừa lò dò đến, một người tù bật lên tiếng ho, thế là hắn co giò phóng chạy.


Lần thứ ba…


-         Thôi! – Tôi ngăn anh Ba Toản lại vì không muốn anh phải sống lại thêm một cái ký ức khủng khiếp nữa – Thế là đủ rồi, anh Ba!


-         Ừ! – Nét mặt anh Ba Toản sạm lại trông già hẳn đi – Mỗi lần nhớ tới những chuyện ấy là trong đầu cứ giật phừng phực như sắp vỡ ra. Sau hai lần mất mát lớn như vậy, anh em đã biết đấu tranh khôn khéo hơn. Tất nhiên trong đó có sự chỉ đạo kịp thời của từng nhóm, từng tổ, từng phòng, từng chi bộ và từng Đảng ủy. Khác với các cấp ủy ở ngoài, trong tù mỗi nghị quyết đều phải trả một giá rất đắt mới được hình thành. Những nghị quyết kiểm nghiệm qua máu.


Anh Ba Toản nói đến đây, tôi chợt nhớ đến anh Sáu Hồng và câu chuyện về Đảng của anh. Sáu Hồng là một trong rất ít người có thâm niên mười năm trong tù và trải qua hầu hết tất cả các khu. Anh lại là một bí thư chi bộ nhà tù. Theo anh, tổ chức Đảng trong tù hoàn toàn mang một đặc thù riêng, các chi bộ, các Đảng ủy được tự thành lập mà không có một đường dây chung thống nhất trong tổng thể nhà lao. Làm sao có cấp ủy đảng cao nhất, có người chịu trách nhiệm Đảng lớn nhất được khi từng khu bị chia cắt, từng phân khu thậm chí từng phòng cũng bị chia cắt nghiêm ngặt. Kẻ thù có thể bắn bỏ ngon lành nếu anh lảng vảng ở hàng rào chứ đừng nói anh có ý định chui rào sang ô khác: 480 phòng giam là 480 cái ô vuông hoàn toàn biệt lập. Cho nên một ô hay một phòng chỉ có thể hình thành riêng được một tổ chức Đảng. Ít thì là chi bộ, nhiều thì lập Đảng ủy. Hi hữu có liên Đảng ủy nối liền hai ô hoặc nối liền một phân khu bốn ô.


Do đặc điểm có kẻ gian trà trộn nên việc lập chi bộ hoàn toàn du kích. Thường người ta dựa vào đã quen biết nhau từ trước, đã từng ở cùng đơn vị hay cùng quê để xác lập lòng tin. Tin rồi, biết nhau là đảng viên rồi mới rỉ tai nhau lập một tổ đảng, đủ đảng số 3 thì nâng cấp thành chi bộ. Dù cùng trong một phòng giam cùng ăn, cùng ở nhưng đảng viên chi bộ nào chỉ được biết đảng viên của chi bộ đó còn ngoài ra coi như không hay không thấy gì hết. Mỗi chi bộ cử ra một người để nhóm họp bầu ra một Đảng ủy, một bí thư. Gọi là họp cho oai chứ thực ra là ngồi túm lại một góc giả vờ đánh cờ hay đi ra ngoài hàng rào giả vờ đi đái để hội ý chớp nhoáng. Như vậy chỉ có các Bí thư chi bộ mới biết ai là bí thư Đảng ủy. Người bí thư Đảng ủy thường là người không lộ diện trong các cuộc đấu tranh trong bất cứ sự kiện nổi cộm nào. Kẻ thù chỉ cần phát hiện ra một chút manh mối người đứng đầu Đảng là tiêu diệt ngay. Chính vì thế mà nhiều khi chi bộ, Đảng ủy không kịp chỉ đạo kịp thời đã để xảy ra những tổn thất không sửa chữa được.


Do hiện tượng xáo trộn tù nên các chi bộ, Đảng ủy cũng bị xáo trộn theo. Có khi ở nhà giam này anh là Bí thư nhưng nhà giam khác anh lại là đảng viên thường hoặc ngược lại. Thậm chí đến nơi mới anh bỗng dưng mất Đảng vì chưa tìm được chi bộ của mình.


Những năm sống giữa cộng đồng toàn người cách mạng, sống giữa đồng đội mà Đảng phải rút vào hoạt động bí mật.


Trong ngục tù, con người bỗng trở nên thanh sạch, vô tư hơn. Con người đánh mất khái niệm chức vụ và quyền lực. Có ai muốn làm lãnh tụ Đảng đâu khi nếu bị tố giác sẽ lập tức bị bỏ vào bao bố đựng toàn than nóng hay quẳng vào chảo rang khô, lúc mở nắp, khói đen phụt lên như khói tàu, có ai muốm làm trưởng phòng, trưởng trại đâu khi mở đầu cuộc đàn áp, kẻ thù sẽ nện vào người đại diện đầu tiên. Không ai cả.


Nhưng lại có những Đảng ủy đối lập, những Đảng ủy không còn tính Đảng. Đảng ủy anh chủ trương tuyệt thực ư? Không! Thế là dại. Vào tù mà còn bày trò nhịn đói là dại. Cứ ăn đi, ăn khỏe vào đặng lấy sức mà sau này trở về hoạt động. Đảng ủy các anh chủ trương tranh thủ mượn sách học ngoại ngữ ư? Tốt thôi, nhưng sáng sáng chiều chiều phải ngửa tay mượn sách, trả sách cho chúng nó thì có khác gì ăn xin! Lại còn cái kiểu đan lát, may vá thuê để đổi lấy mấy cục thuốc rê, mấy hạt muối nữa. Mất tư thế lắm! Sao lại mất tư thế? Đảng ủy này quất lại. Định bần cùng hóa nhau à? Định tiếp tay cho kẻ thù làm khổ nhau thêm à? Thế là cãi nhau, là bất đồng quan điểm. Là chia năm xẻ bảy, rơi trúng vào ý đồ làm rã ta của kẻ thù.


Lại một số đảng viên vào tù sa sút không bằng quần chúng, nêu gương xấu cho quần chúng, số này không chi bộ nào chấp nhận cho sinh hoạt. Không sao! Họ cười khẩy và tự thành lập chi bộ, lập Đảng ủy riêng, chỉ có điều: Nghị quyết của những cấp ủy Đảng này thường lựa theo ý kẻ thù, phục vụ cho ý đồ kẻ thù, sẵn sàng đi tạp dịch phu phen rào gai, đào công sự phòng ngự cho kẻ thù, ra chỉ thị không đấu tranh, không vượt ngục gì hết để bảo toàn lực lượng… Thì ra, cuộc sống ngoài đời bao dạng thức thì trong tù cũng bấy nhiêu hình hài. Chủ nghĩa đầu hàng, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa thỏa hiệp và chủ nghĩa anh hùng cách mạng cùng song song tồn tại.


Lại có cả tâm lý địa phương cục bộ này sinh giữa những đảng viên tù. Tù binh người Bắc muốn thành lập riêng Đảng bộ người Bắc, tù binh người Nam lại muốn khu vực bộ đội phía Nam phải có Đảng ủy của mình. Miền Trung cũng vậy. Chưa hết! Lực lượng chủ lực và lực lượng địa phương cũng muốn có hệ thống cấp ủy được hình thành theo từng đặc điểm, phân cấp võ trang ấy. Có một hiện thực không thể không thừa nhận trên phương diện khách quan lịch sử. Tỉ lệ phần trăm chiêu hồi ở tù binh phía Nam nhiều hơn miền Trung và tỉ lệ chiêu hồi miền Trung lại đông hơn tù binh miền Bắc. Cái tỉ lệ đau lòng này nhiều khi là ngẫu nhiên, là vô nghĩa là chưa hẳn nói lên điều gì về bản chất. Song có một tỉ lệ khác tồn tại song hành có thể lý giải được tính chất tỉ lệ trên ít nhiều chăng: tù binh miền Bắc không có một người nào được thân nhân vào thăm nuôi, tù người Trung còn có chút ít, nhưng tù binh phía Nam lại được thăm nuôi rất nhiều và tù binh miền Nam lại có rất nhiều “tù binh lậu” do những cuộc càn của địch bắt được những đàn ông thường dân rồi dồn vào, gán cho con số tù đông thêm. Tỉ lệ này tác động vào tỉ lệ kia ít hay nhiều, cũng là điều dễ hiểu. Cuộc đời vốn dĩ bao giờ cũng là cuộc đời nó không phải ở đâu, lúc nào cũng phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người.


Tất cả những điều trên là dòng chảy ngầm xôn xao của đời sống chính trị tù nhân. Dòng chảy ngầm này không phải không có lúc, có nơi hút thành dòng xoáy nước nhận chìm vài ba nhân cách, vài ba phong trào xuống tầng chiến bại, nhưng Đảng vẫn là Đảng, các cấp ủy Đảng là cái cốt lõi để giữ vững được khí tiết và siết chặt đội ngũ chiến sĩ cách mạng. Trước sự đàn áp đẫm máu của kẻ thù và trước thảm kịch của những đồng đội đã ngã xuống, tình trạng phân biệt cục bộ này cũng dần dần bị xóa đi như một tất yếu để sống còn.


-         Xã hội có bao nhiêu thành phần thì trong tù cũng có bấy nhiêu màu sắc anh ạ! – Anh Ba Toản nói tiếp, cắt đứt dòng liên tưởng của tôi: - Cùng là lính cả nhưng nông dân có, công nhân có, sinh viên trí thức có, có cả nhà báo, bác sĩ, nhà quay phim, nhạc sĩ văn công nữa. Này, có một anh nhạc sĩ tên là Phan  Miên hay Trường Miên gì đó bị đánh đập dữ lắm nhưng vẫn sáng tác được hợp xướng, giao hưởng đàng hoàng. Anh thử tìm xem. Chắc ông này mới biết nhiều chuyện. Rồi có một anh hùng quân đội tên là Hòa, to béo trắng trẻo như Tây bây giờ không biết ở đâu? Tất nhiên trong tù không ai biết, chỉ đến khi ra ngoài rồi, tôi mới được gặp và mới được nghe.


Anh muốn hỏi tôi về chi tiết cuộc sống tù ngục, các ngón tra tấn dã man của chúng nó và các hình thức đấu tranh của ta ư? Chuyện này dài lắm, để người khác kể đầy đủ hơn. Vì tôi ở trong ấy không lâu. Không lâu nhưng cũng đủ nếm trải để nói rằng: Không có sức tưởng tượng nào có thể hình dung ra những cái khủng khiếp của địa ngục trần gian đó. Tôi chỉ muốn nói với anh một điều hết sức thiết yếu. Khí tiết người tù cộng sản phụ thuộc vào sự chịu đựng, tính cách ngoan cường trước bạo lực mới chỉ là một phần, mặc dù là phần rất lớn, nhưng cái chuyện anh có dám vượt lên tất cả để thoát tù trở về tiếp tục chiến đấu không mới là toàn bộ giá trị và phẩm tiết. Tôi muốn nói đến vấn đề chính, vấn đề có tính truyền thống của tù binh Phú Quốc. Nếu không có vấn đề này thì nhà lao Phú Quốc cũng chẳng có gì để đáng nhắc nhở tới và chắc anh cũng chả lặn lội đến tận đây. Đúng không?


Tôi nói riêng và mọi anh em tù khác nói chung, bị bắt một cái là lập tức nghĩ ngay đến chuyện vượt ngục. Hồi ở Biên Hòa trong trại hỗn hợp Việt Mỹ, tôi đã nghĩ đến trốn nhưng sức yếu quá, sợ công việc không thành. Ra đến đảo đây buổi chiều ảm đạm nhìn cảnh vật mờ mịt trong mưa và tiếng ếch ương kêu thê lương ngoài rào, lòng buồn tê tái mà nghĩ rằng cuộc đời đến đây là chấm dứt, không còn hy vọng gì nữa. Đồng thời cũng ý nghĩ đó đã quất mạnh vào trí não tôi cái ý chí sổng tù. Cứ vượt, dù có chết thì cũng là con ma tự do khoáng đạt, còn hơn chết dần chết mòn trong cuộc sống địa ngục đày đọa quá sức tưởng tượng này. Như vậy, trong suy nghĩ về tự do có lồng cả ý đồ tự sát cho rảnh nợ đời. Thế rồi u uất mãi, nhìn mãi vào hàng rào gai trùng điệp, tôi nảy sinh hy vọng có thể thoát được mà không cần phải chết chóc gì hết. Vốn là lính đặc công, việc chui mười lớp rào hay một trăm lớp rào đối với tôi không có gì đáng nói. Nhưng ra với ai? Nếu chỉ một mình thì tôi ra lúc nào cũng xong, nhưng ra rồi, nếu may mắn gặp được cách mạng thì ai chứng minh cho mình, hay lại để cuộc đời chìm xuống hố nghi ngờ tủi nhục hơn của đồng đội? Tôi lần lữa. Tôi thực tâm chưa nghĩ đến chuyện thoát ra. Tân lý này rất lạ, có trong cuộc mới hiểu được. Đó là tâm lý ngại xê dịch. Trong tù cực nhục thật, sinh mạng mỏng manh thật nhưng còn có anh có em, có bạn bè đông đủ, tức là có cảm giác mình dù sao cũng còn đang được tồn tại giữa đám đông. Ra ngoài lẻ loi, chết sống thế nào không hay, nghĩ cũng rùng mình. Vả lại, điều này mới thật quan trọng: Ngoài vòng rào kia là cái gì? Núi rừng hoang mạc không có sự sống, đầy rẫy cạm bẫy rùng rợn như chúng nói hay ngoài đó cũng có người, có dân, có một chút gì đó gọi là cách mạng? Chao ôi! Nếu đúng là có người của ta thì còn phải nghĩ ngợi gì nữa. Bung thôi! Bằng giá nào cũng bung. Ngược lại, đây chỉ là một hoang đảo trơ trụi nằm giữa đại dương, không phương không hướng thì chi bằng chết tại đây còn hơn chết trong rừng rậm cho kỳ đà rỉa thịt. Hồi đó Phú Quốc đối với chúng tôi hoàn toàn xa lạ. Nhắm mắt lại tưởng tượng cũng không hình dung ra nó ở phía nào của đất nước. Chúng tôi cãi nhau. Tranh luận đỏ mặt về địa lý, về dân cư nhưng không ai đưa ra được kết luận xác đáng. Những anh em miền Nam tập kết ra Bắc (số tập kết chúng tôi cũng gọi là bộ đội Xã hội chủ nghĩa luôn) có lý hơn một chút khi họ láng máng biết về đảo nhưng có lực lượng ta hay không thì người võ đoán nhất nhất trong số họ cũng chịu. Thậm chí có đêm nghe tiếng cối 81 ly nổ ở đâu đây, có người mong mỏi quá đã thốt lên: “Cối của Liên Xô đó. Hồng quân Liên Xô sắp đánh tới rồi !”.


Cho đến một ngày mọi mù mờ được sáng tỏ bất ngờ. Đây là một sự kiện lịch sử, một sự kiện có tác dụng quyết định đến tâm lý và dũng khí chiến đấu của tù binh. Đó là sự xuất hiện của cái đầu đạn mồ côi. Giữa trưa nắng chúng tôi chợt nghe thấy mấy loạt súng nổ rộ lên. Rồi những tiếng tạc đạn, tiếng M79 nổ kế tiếp. Trời! Chúng lại tàn sát anh em mình rồi! Chưa kịp bảo nhau thì tiếng súng đã xáp đến gần, ngay ngoài hàng rào. Tiếng súng quen thuộc quá! Chúng tôi ngơ ngác. Chả lẽ lại có AK nổ ở đây? Chúng nó làm gì có AK? Tiếng AK đanh và ấm  không thể trộn lẫn với tiếng lách chách của AR15 được. Phải là người lính đã từng xông pha trận mạc mới thấy hết được cái tiếng nổ AK nó ấm áp gần gũi như thế nào anh ạ ! Rồi có tiếng đạn văng vào mái tôn chát chúa. Bỗng một người kêu to: “Đúng đầu đạn mình đây rồi, các đồng chí ơi! Nó mất đà xuyên qua kẽ mái rớt vào đùi tôi!”. Tất cả xúm lại và lặng người đi… Trên bàn tay phù nề vàng bủng của người tù này đang nằm gọn một đầu đạn AK thon nhỏ, bóng láng còn ấm nóng thật. Thế là rõ. Ở ngoài có đồng chí của mình. Các đồng chí ấy đánh địch sát ngay hàng rào để báo hiệu cho ta.


Sau buổi trưa đó trong nhà giam rục rịch chuyển động một cao trào vượt trại. Đầu đạn bé con có tác dụng củng cố lòng tin hơn bất cứ một lời tuyên bố sáo rỗng nào. Nếu tôi không nhớ nhầm thì người đầu tiên một mình làm riêng một cuộc vượt tù thời kỳ sau Mậu Thân là Tín, chàng trai Hà Nội bất cứ hoàn cảnh nào cũng điệu đàng đỏm dáng. Nói thêm: Tổng số các cuộc vượt ngục từ Hội nghị Giơnevơ trở lại đây hầu như dồn tập trung vào những năm sau Mậu Thân. Đợt đông nhất là bốn mươi người, đợt ít nhất là một người. Cậu Tín nằm trong số độc đắc ấy. Và có lẽ không một ai có lối vượt ngục khôn ngoan và tài tử như cậu ta. Tín năm đó chừng hai mươi tuổi, lính trinh sát miền Đông Nam Bộ. Trong tù, Tín là liên lạc viên giữa trưởng trại và giám thị nên ăn mặc, người ngợm có chiều sạch sẽ hơn. Mặt mày Tín lúc nào cũng tươi tỉnh, nói năng lại lưu loát nên được thằng giám thị cũng nể. Không hiểu đưa đẩy sao với tụi quân cảnh, mà cậu ấy xoay xở được một bộ đồ lính còn lành lặn. Thực ra bộ đồ tù và bộ đồ lính cũng na ná nhau nếu không khác về màu sắc, về cái ống quần dài ngắn. Kỹ hơn, cậu ta kiếm than lửa bỏ vào ca i nốc làm bàn ủi. Thành thử bộ quần áo ấy lúc nào cũng thẳng thành cứng nếp. Trong anh em đã có tiếng xì xầm cho rằng Tín biến chất, muốn chơi trội, kiểu này là sẵn sàng bán linh hồn cho quỷ để kiếm cơm thừa canh cặn. Không biết có nghe được không song Tín cứ phớt lờ, lại còn đi lại vênh vang nữa. Đã có người định nửa đêm móc mắt Tín để trừ đi một hiểm họa sau này (bọn chiêu hồi, chỉ điểm thường bị anh em móc mắt, tức là lấy đi cái thứ nhìn lừa thầy phản bạn), nhưng anh Mười Hồng, người Bình Định, phó chính ủy trung đoàn nguyên là giáo viên triết trường đại học Hà Nội, hiện đang là bí thư Đảng ủy nhà giam đã kín đáo ngăn lại.


Thế rồi vào một buổi sáng có chiếc xe chở cá thối của nhà thầu lăn vào sân, đỗ xịch ngay trước cửa bếp…


Ba Toản kể đến đó chợt có tiếng gọi to ở dưới cổng:


-         Có việc đó, anh Ba? Nhậu hả?


-         Tư Lửa đấy! Người cùng tù với tôi – Ba Toản nói và kêu.


-         Lên đây! Muốn nhậu thì có nhậu. Làm gì mà cho nhắn từ chiều bây giờ mới sang?


-         Đi rừng bẻ củi, gặp bạn bè nhậu chơi dăm xị, đang chếnh choáng thấy mẹ.


Tư Lửa xuất hiện. Đó là một người đàn ông trên 50 tuổi ốm, đen nhưng có nét mặt linh hoạt và cái cười cởi mở. Nghe giọng nói biết anh người vùng này. Thấy tôi, không xã giao dài dòng, anh nói luôn, giọng thật to:


-         Tôi thì ở khu 7, ông này ở khu 5. Nhưng khu “bẩy” hay “năm” thì cũng tương đối thôi. Tỉ dụ mấy cha sĩ quan lúc ở khu 2, lúc lại ở tót khu 9, đổi thay, thay đổi, thay đổi nhằm nhè gì, ông! Thôi, tóm lại là vầy heng! Tôi biết ông nhà báo định hỏi gì rồi, năm trước cũng có một ông đến đây, tôi cũng đã kể cho nghe, nghe chơi thôi nghen! Chuyện cũ bỏ qua, lúc này lo mần ăn và kiếm … rượu nhậu.


-         Tôi bị đánh độc hơn ông Ba này. Tới giờ mỗi khi trở trời là cái đầu nhức chịu không nổi, nhiều phen phải ủi đầu vô tường đụi đụi cho đỡ. Chắc ông muốn biết tại sao nó đánh hoài chớ gì? Không có sao hết. Đấu tranh nó đánh, không đấu nó cũng đánh. Đang đêm đi nhậu về, buồn tay nghé vào nhà giam đánh chơi vài cái cho hả. Sáng ra thua bạc cháy túi, ức quá không biết làm sao, lại đổ vào đầu tù. Cũng có lần như thế, anh em ta hè nhau giật súng, bắt vài đứa làm con tin. Thằng trung tá Phước xuống dãn hòa, hứa hẹn nọ kia coi bộ ngon lành lắm nhưng khi ta thả, hắn đánh đòn thù liền. Tuy vậy, kể từ đó chúng lệnh cho tụi quân cảnh nếu có vào nhà giam là tuyệt đối không được mang theo súng. Nó sợ ta giật nữa. Tức cười! Ở ngoài, nó đánh thua ta hoài, vào tù chúng có vẻ như muốn đánh trả đũa.


Chắc ông Ba Toản có kể tên mấy thằng ác ôn. Kể làm gì. Thằng nào cũng ác ôn hết trơn. Mỗi thằng ác ôn một kiểu. Dường như chúng nó dồn toàn bộ những thằng ác ôn nhất miền Nam vô cả đây. Thằng Hiểu, thằng Phước, thằng Hải, thằng giám thị Long, thằng thượng sĩ Tỳ người Quảng Bình, thằng Cương thần sầu… Nhiều lắm, khu nào cũng có, trại nào cũng có. Nhưng tức nhất là bọn chiêu hồi đóng vai trật tự viên. Nó đánh tù còn hơn lính đánh. Trước đây cơm mỗi bữa còn được hai lưng chén, nước được một ca một ngày, nếu có đánh tù thì chỉ thằng giám thị mới có quyền. Nay đánh tuốt. Quân cảnh đánh, chiêu hồi cũng đánh luôn. Đánh để lấy công, để được nhàn thân, nhiều khi chỉ để được thêm một cục thuốc rê khốn nạn. Chính sách “dùng tù trị tù” của thằng cha đại tá Đắc phải nói là độc địa. Chính thằng cha chúa ngục này đã nện đế giày bốt-đơ-sô vào giữa mặt tôi và nói: “Đánh cho mi chết thì thôi, có sống trở về thì Cộng sản cũng hết xài”. “Hết xài” nó ám chỉ hai nghĩa: có ra tù mà thể xác èo uột cũng coi như bỏ, ví như không èo uột thì Cộng sản cũng mất tin, xài làm gì. Rất tức, thằng này đã nắm bắt không sai lắm cái cách đối xử với tù binh khi trở về của ta. Không “hết xài” nhưng xài có mức độ, vừa xài vừa cảnh giác. Đau thế đó! Thôi, chuyện này bỏ qua. Đụng tới lại nhức đầu nữa bây giờ.


Anh Tư Lửa sẽ còn nói nữa, nói to, nói thật sôi sục đúng như cái tên “Lửa” của anh, nếu lúc ấy chị Ba không bưng nồi cháo gà lên. Ở đảo, ăn cháo cá, lẩu cá là chuyện thường, nhưng cháo gà lại trở thành quý giá. Nơi đây, để có hạt gạo, hạt thóc nuôi con gà con heo đâu có phải chuyện dễ dàng như trong đất liền.


Chúng tôi húp cháo xì xụp và từ đó hai người bạn tù chỉ toàn nói về cuộc sống đời thường hiện tại. Họ nói về giá cả thu mua tiêu, về đánh bắt bây giờ khó, về người này, người khác trong xã, trong huyện… Lạ thay! Kể về những năm tháng tủi cực chết chóc năm xưa, con mắt họ lại sáng lên nhưng nói về những phi lý trong cuộc sống thái hóa hôm nay nét mặt họ lại trầm xuống, day dứt.


Có lẽ sợ tôi thất vọng vì câu chuyện lái sang hướng khác, anh Ba Toản quay qua tôi, cười:


-         Nói nốt chuyện cậu Tín hồi nãy nghe! Như mọi bận, sáng ấy chiếc xe chở cá đi vào sân. Lợi dụng lúc giám thị và nhà bếp loay hoay chọn cá xấu, cá tốt, cậu ta cứ sổng lưng đi ra lối cửa đã dẹp hết cự mã, như một lính quân cảnh cô độc, chán chường. Đi được nửa đường, đụng một thầy quân cảnh đi ngược chiều, cậu ta bình tĩnh kéo sụp nón xuống. Bất ngờ thằng kia hỏi: “Có quẹt không?”. Khổ, mới vào Nam, bị bắt lại ở với toàn tù người Bắc, cậu ấy có biết “quẹt” là gì. Thằng này sinh nghi bèn hất cái nón trên đầu cậu ta đi. Không còn cách nào khác, Tín đấm một cái thẳng tay vào giữa mặt nó rồi bỏ chạy. Vậy mà chạy thoát mới kỳ chứ! Khi bọn chúng quay lại lục soát, thấy trên cọc rào còn vướng lại mảnh giấy: “Xin cảm ơn ngài thượng sĩ nhiều”. Đó là mảnh giấy của Tín gài lại nhằm chơi khăm thằng thượng sĩ giám thị ác ôn. Mấy bữa sau thằng này bị đổi vô đất liền, chắc là đẩy ra trận. Sau này nghe tin Tín cũng hy sinh trong chiến đấu ở một mặt trận nào đó!


Tôi không hỏi gì thêm. Câu chuyện về Tín đã mở đầu một trang lịch sử hào hùng và đau thương trong quá trình vượt ngục của tù binh nhà lao Cây Dừa mà tôi sẽ cố gắng phản ánh chân thực trở lại từ trang này trở đi.


Đáng lẽ sáng hôm sau, tôi sẽ nghe được trọn câu chuyện vượt ngục theo sở trường đặc công của anh Ba Toản nhưng lại nghe tin có anh Năm Trì, bí thư tỉnh ủy ra thăm đảo nên tôi vội lộn trở lại Dương Đông ngay. Tôi đang cần gặp anh để hỏi một số điều. Bởi lẽ cái vượt ngục trong tù sẽ trở lên rất khập khiễng nếu không nói đến cái môi trường xung quanh mà những tù binh can trường thoát ra được.


Tất nhiên khi tạm chia tay, tôi vẫn níu thêm một câu hỏi:


-         Theo các anh, trong toàn bộ nhà lao có một đường dây Đảng chỉ đạo chung không? Và liệu có một người đứng đầu?


Anh Ba Toản trả lời ngay:


-         Chắc không có.


Anh Tư Lửa cũng khẳng định.


-         Không thể có được. Có được một Đảng ủy, một liên chi bộ và người đứng đầu liên chi bộ ấy đã là may mắn lắm rồi. Ông cứ hình dung mỗi nhà giam là một cô đảo, nhà giam này không thể biết được nhà giam kia. Thế mới hay bộ đội mình ngon lành thật! – Anh gục gặc đầu vẻ đắc ý – Không có sự lãnh đạo chung, không có chỉ thị cụ thể nhưng các chi bộ vẫn tự thành lập và tự tồn tại theo quán tính tinh thần Đảng sẵn có trong huyết quản. Nó giống như hòn đảo này, nhiều phen mất liên lạc với trên nhưng hành động theo trên vẫn luôn luôn trúng.


-         Này! – Ba Toản nói giọng cân nhắc – Trong tù tôi có nghe nói đến một cái tên: Ba Trân, ông này là sư trưởng, là cấp cao nhất trong tù, nhưng lại đóng giả thượng sĩ quân y sĩ, biết đâu ông ấy lại chả là người lãnh đạo cao nhất?


-         Tôi cũng nghe lính nó kháo nhưng hỏi ai đã từng gặp Ba Trân chưa thì ai cũng lắc đầu – Tư Lửa nói thêm – Còn ông này thì có thật: ông Ba Sinh tức Nguyễn Chí Sinh, thượng tá Tư lệnh phân khu Đông Nam Bộ. Người thì nói ông này đã suy thoái, người lại kêu rất can trường, là chỗ dựa tin cậy của anh em tù! Có khi ổng là lãnh tụ Đảng nhà tù cũng nên.


Tôi thực sự hoang mang mặc dù toàn thân bỗng nóng hực lên trước luồng thông tin quý báu này. Song tôi lại nhớ đến việc riêng.


-         Hai anh có nghe nói một người tù tên là Quang hay Quyền hay Quảng, người Thái Bình, to con đẹp trai, tiểu đoàn trưởng hay trung đoàn trưởng trinh sát gì đó?


Im lặng. Họ cau mày nhìn nhau và im lặng. Thế là rõ. Tìm một cái tên trong bốn mươi ngàn cái tên dưới hỏa ngục đâu có đơn giản gì.


Tôi không dám mở đài nữa. Bởi tôi biết bản tin sáng thế nào cũng điểm đến tình hình vùng Vịnh. Vùng Vịnh đang có nguy cơ làm xiêu đảo cả thế giới này. Rõ rồi!


 


8


 


Dáng người nho nhã, giọng nói mềm mại, đồng chí bí thư Tỉnh ủy định tranh thủ tiếp tôi khoảng một giờ, song chẳng ngờ câu chuyện xưa cũ tưởng rằng đã chìm hẳn trong quên lãng lại lôi cuốn con người đang bận bịu trăm công ngàn việc ấy cùng tôi đi hết một buổi sáng.


-         Anh là bí thư đầu tiên của đảo kể từ sau Hiệp định Giơnevơ? – Tôi hỏi.


-         Dạ! – Anh trả lời rất khiêm nhường và chính cái khiêm nhường hồn hậu này đã khiến anh lớn lên rất nhiều trước mắt tôi – Nhưng tôi biết anh không muốn hỏi sâu về chuyện đó phải không? Tức là anh không có tham vọng dựng lên toàn bộ lịch sử chiến tranh Phú Quốc mà cái anh đang quan tâm là nhà lao Cây Dừa. Tất nhiên, nhìn theo một góc độ lịch sử vào đó. Cây Dừa và Phú Quốc chỉ là một, cái này lồng chặt vào cái kia không thể tách rời (anh cười và tôi cũng cười). Anh Chín Cửu và anh Hai Phi đã nói trước với tôi về chuyện này. Anh muốn biết về thời kỳ mất liên lạc gian nan nhất của đảo trước Mậu Thân, tức là trước lúc anh em tù vượt trại ra ồ ạt phải không? Chà… Dài dòng lắm đây. Phú Quốc đâu có phải chỉ mất liên lạc một lần mà có thể nói là thường xuyên. Mất cả thời đánh Pháp lẫn cả thời đánh Mỹ. Anh nói đứa con Phú Quốc ra ở riêng luôn luôn xa hơi mẹ là trúng đó.


Muốn rõ về phong trào trước Mậu Thân, tôi buộc phải lướt qua từ đầu, từ cái ngày anh em nòng cốt của mình tập kết ra Bắc. Khi đó tôi và mấy đồng chí ở lại được Tỉnh ủy chỉ định thành lập huyện ủy bí mật. Tên tuổi đổi hết. Tôi là Lâm Minh Mẫn đổi thành Lâm Kiên Trì, anh Giang Lạc Đắc gọi là Bảy Kiên, anh Ba Du kêu tên Trung, anh Sáu Hợi đổi ra Thành và Năm Nhất. Anh coi: Kiên – Trì – Trung – Thành – Nhất… Có lẽ những cái tên đó nó phản ảnh cái tư tưởng một mất một còn, đánh giặc đến cùng của cấp ủy, nó cũng phản ảnh một thời kỳ hết sức cam go ác liệt của phong trào Cách mạng sau 1954. Ác liệt, đen tối lắm. Đây có thể nói là thời kỳ đen tối nhất của lịch sử đấu tranh huyện đảo. Làng xóm vắng tanh. Kẻ thù qua lại ngỗ ngược. Bọn ác ôn nổi lên như rươi mặc sức giết chóc dân lành. Bà con đóng cửa im ỉm để giấu đi cái hoang mang tận đáy lòng. Lác đác đã có kẻ chiêu hồi, kẻ phản bội. Anh em chúng tôi tưởng không còn đất sống. Cùng lúc phong trào tạm lắng xuống đó, nhà lao Cây Dừa lại trở nên sôi động với số tù binh ngày càng nhiều. Thú thiệt, thời kỳ này do quậy quã để vực dậy phong trào đang có chiều tan rã nên chúng tôi không còn lòng dạ đâu tưởng nhớ đến nhà tù. Vậy đó! Có những năm tháng nhà tù và huyện đảo là hai vật thể tồn tại độc lập, ở kề nhau, sống trong lòng nhau mà không biết có nhau. Cho đến một lần, vào khoảng giữa năm “năm sáu” gì đó, anh Bảy Phước bí thư xã Hàm Ninh chạy đến báo có một người tên là Mai Thanh, Tỉnh ủy viên, Bí thư thị xã Rạch Giá vừa vượt ngục ra thì chúng tôi mới chợt tỉnh mà nhận ra rằng, dù gian nan tới đâu, dù tình thế xấu như thế nào, sự tồn vong của đảo và của nhà lao là không thể tách rời, là có quan hệ tương hỗ rất mật thiết với nhau. Lịch sử Phú Quốc mãi về sau đã minh chứng nhận thức đó là xác đáng.


Khi anh Mai Thanh ra cũng là lúc đảo bị mất liên lạc, huyện ủy đang tìm mọi cách nối lại đường dây. Phú Quốc năm cha ba mẹ lắm anh ơi! Thời đầu chống Pháp thuộc tỉnh Hà Tiên; khi Hà Tiên nhập vào Long Châu Hà thì Phú Quốc thuộc Long Châu Hà. Đến đình chiến, 1954 lập lại hai tỉnh Rạch Giá, Hà Tiên thì Phú Quốc thuộc Rạch Giá, rồi Hà Tiên nhập luôn vào Rạch Giá. Đến khi tách Hà Tiên ra thành lập tỉnh Châu Hà thì Phú Quốc thuộc Châu Hà. Sau ngày toàn thắng, thành lập tỉnh Kiên Giang thì Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang cho đến ngày nay. Hòn đảo đứng chơ vơ, tùy theo dạng hình của cuộc chiến tranh mà nay của tỉnh này mai của tỉnh khác, nhưng Phú Quốc vẫn là Phú Quốc, cô đơn, tự cường, thương đau và bất khuất, dù hoàn cảnh nào vẫn một lòng một dạ trung trinh. Tôi nói điều này là nhảy sang lĩnh vực văn chương báo chí mấy anh rồi đó, nhưng sự thực nó là như vậy.


Trở lại câu chuyện mất liên lạc. Tôi nhớ chừng năm “năm sáu” là năm đảo mất liên lạc lần đầu tiên. Tất nhiên trước đó cũng mất liên lạc vài lần nhưng tình hình chưa đến nỗi căng và chị Năm Lý, Tỉnh ủy viên Rạch Giá được phân công theo sát Phú Quốc còn đi lại hợp pháp được, nên đứt lại nối được ngay. Nay cơ sở bị đánh dứt néo, chuyện đi lại dù bằng hình thức công khai hay bí mật đều khó khăn gắt đế, sơ sẩy một chút là bị nhận mặt, là bị thộp cổ liền. Điện đài chưa bao giờ có. Trong khi đó biết bao nhiêu vấn đề nóng bỏng phải cần sự chỉ đạo của tỉnh như chuyện chúng nó làm tàng quá vậy, mình kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh võ trang diệt ác có được không? Chuyện anh em tù đã lác đác ra dần sẽ đối xử và sử dụng ra sao cho hợp lẽ? Sự mất liên lạc thường xuyên này cũng biểu hiện tính chủ quan coi nhẹ kẻ thù và tư tưởng nóng sốt không lo trường kỳ kháng chiến của ta.


Thời gian này ngoài anh Mai Thanh còn có cả anh Năm Khỏe, em trai đồng chí Phạm Hùng cũng vượt ra nữa. Tức cười: ảnh ra, mình tổ chức đưa về đất liền, rồi tiếp tục đi trên một đoạn đường bộ, bị giặc chặn bắt lại nữa. Lại vào tù và mấy tháng sau lại vượt. Không hiểu đến nay anh còn không? Ở đâu?


Ngồi một chỗ ngóng chờ hoài vậy sao? Vậy là chúng tôi tổ chức nối lại đường dây liên lạc về tỉnh. Chuyến đầu anh Bảy Khuê, huyện ủy viên đi. Ghe buồm đáp vào Thứ Sáu Biển thuộc huyện An Biên, đến một gia đình cơ sở. Huyện ủy An Biên nhắn lại với Bảy Khuê là tỉnh đã có cho người ra Phú Quốc liên hệ rồi. Bảy Khuê tưởng thiệt, vội trở về Phú Quốc mà không móc nối được giáp mặt với huyện ủy An Biên.


Bảy Khuê về đến. Chúng tôi mới ngã ngửa ra là chẳng có ai ra cả. Độ mười ngày sau, tôi nhất định tổ chức đi vào đất liền, mà lần này tôi trực tiếp ngồi ghe đi. Sau một đêm trải qua đủ thứ nguy hiểm nhọc nhằn, ghe tôi lại đáp vào Thứ Sáu Biển, đến gia đình cơ sở cũ. Lần này các đồng chí ở xã không đến gặp, mà chỉ nhắn là có tin địch sắp bố, đám thằng Phòng, thằng Dữ đã động quân. Tôi xuống mé rừng mắm ven biển để tìm chỗ “chém vè” nếu có giặc bố thật. Nhưng tới chiều, không nghe động tịnh gì, tôi trở lại gia đình cơ sở. Bác chủ gia đình bảo tôi nên chạy ghe ra Củ Tron tránh đỡ, êm rồi bác sẽ ra móc về.


Ghe tôi ra Củ Tron, thì hôm sau đụng đám thằng Lâm Quang Phòng đưa quân ra bố ở vùng đảo này. May thay chúng đổ quân lên một bãi gần đó, đằng này tụi tôi vọt lên núi tránh khỏi.


Tình hình khắp nơi đen tối, cơ sở bể bạt, có những nơi không tin cách mạng kiếm chuyện thoái thoát, tiếp xúc với mình như vậy. Sáng hôm sau, thấy có chờ cũng vậy thôi, tốt nhất là trở về, biết đâu gặp người của tỉnh ra. Ấy, đang nguy nan, trong đầu lại cứ hay nảy sinh những ý nghĩ may rủi như thế. Rút cuộc, lặn lội về đến nơi, đảo vẫn vắng tanh!


Sau lần này, đoàn chúng tôi nghỉ chừng một tháng. Chờ tối trời lại tổ chức đi nữa. Chúng tôi mời anh Mai Thanh đến bàn việc về liên hệ với đất liền. Anh là Bí thư thị xã Rạch Giá, dĩ nhiên anh có nhiều cơ sở, anh sẽ là người móc nối lại đường liên lạc với tỉnh. Nhưng phương án đi là: Trước nhứt về móc nối với huyện ủy An Biên, sau đó không được mới mò ra thị xã.


Ghe chúng tôi lại lần thứ ba đáp vào cơ sở Thứ Sáu Biển. Cũng vẫn móc không được với huyện ủy An Biên. Chúng tôi thực hiện theo phương án hai. Tôi tính toán, canh cho đúng giờ ghe mình lên đến vàm kinh xáng Cụt vô Rạch Sỏi là vừa canh năm, lúc các ghe câu, lưới về ta sẽ trà trộn đưa người vào chợ.


Tôi đậu ghe ngoài vàm, nhờ một ghe lưới cho anh Mai Thanh quá giang vào chợ Rạch Sỏi. Trước đó chúng tôi có trao đổi mật giao ám hiệu và hẹn điểm gặp nhau…


Nắng lên, tôi cho ghe vào bờ. Đến đầu doi Rạch Sỏi, phải lên trình trạm kiểm soát của địch. Tôi đóng vai người bạn trong ghe, nhưng trao đổi với chủ ghe để tôi lên trình, có gì ứng phó dễ hơn, mọi sự cũng trót lọt. Ghe chúng tôi đến đậu tại bến nhà ông Ba Thức, khoảng giữa Rạch Sỏi đến Cầu Quay. Xế chiều có chiếc xuồng bán bánh đến rao bán vu vơ và nhận số ghe, rồi nói lên ám hiệu của Mai Thanh. Chúng tôi nhận thơ anh báo là mai có người đến rước tôi đưa về tỉnh, còn anh cũng về tỉnh nhưng đi con đường khác.


Đêm hôm đó tôi ngủ trong một cái nhà ở gần Lò Heo, người liên lạc hẹn giờ, đến đón đưa bằng đường xe đò. Ác một cái là tôi thì sốt ruột, đến sớm nửa giờ, còn người liên lạc lại đến muộn nửa giờ. Trong một tiếng đồng hồ chờ đợi, tôi đảo ra quán rồi lại đảo xuống cầu, đảo đi đảo lại làm cho bọn tai mắt của địch theo dõi khít nút. Thấy tình hình không êm, tôi định đảo một vòng chót rồi vọt, nhưng may thay người liên lạc lại đến. Tôi ra bến xe cùng người liên lạc đi về Vị Thanh. Rồi từ Vị Thanh đi tiếp đến Nàng Mau và gặp anh Năm Mai rồi anh Ba Hương bí tư (anh Ba Hương bây giờ là thượng tướng Thứ trưởng Bộ Nội vụ, đang bệnh nằm ở thành phố Hồ Chí Minh), thế là gặp Tỉnh ủy, nối được liên lạc sau ba tháng chơ vơ côi cút. Lúc trở về, tôi không đi đường cũ. Hồi ấy có máy bay dân dụng từ Rạch Sỏi đi Phú Quốc, tôi đã định dùng căn cước giả, kiếm bộ đồ ngon nhảy phi cơ về cho lẹ, cho ở đảo khỏi ngóng, nhưng rồi mấy anh không cho. Cuối cùng tôi trở lại nhà ông Ba Thức, móc được ghe đi lấy gỗ trở về Phú Quốc.


Từ ngày đó mọi hoạt động của đảo đi vô thế bình tĩnh, bài bản hơn. Đứa con ra ở riêng dù có thể lực cường tráng thế nào nhưng vẫn luôn luôn cần sự bảo ban, tiếp sức của cha mẹ, phải không nhà văn?


Anh cười. Một cái cười rất tươi và khoáng đạt. Nhìn cái cười của anh bữa nay có thể hình dung ra người thanh niên gánh trọng trách Bí thư huyện đảo, đi sóng về gió của một thời đen tối ngày xưa. Anh vốn dân Phú Quốc và anh đang kể về một đoạn đời gắn bó với Phú Quốc như đoạn đời đẹp nhất của mình. Những con người như anh là hạt giống đỏ gieo giữa lòng dân đảo, trời càng giông gió, hạt giống càng được dân che chở cho nảy mầm kết trái. Những người dân đảo ấy đã ít nhất trên một lần đã dạy cho Ngô Đình Diệm và sau này kẻ đảo chính hắn là Nguyễn Khánh biết thế nào là phong độ Phú Quốc khi chúng đáp máy bay xuống thị sát vùng đất chiến lược này. Chuyện đó đã được đưa vào sách giáo khoa dạy cho học sinh cũng như câu chuyện về người anh hùng Nguyễn Trung Trực và người con gái liệt sĩ tiên liệt năm “bốn mươi” – Cô giáo Đào Thị Lư đã hóa thạch trong ký ức thế hệ mai sau, ta chưa cần nói đến kỹ càng. Cái đáng nói bây giờ là chuyến đi bắt liên lạc lần thứ hai của anh Lâm Kiên Trì. Chuyến đi này quan hệ rất mật thiết đến số phận những người tù Cây Dừa một khi đã trốn được ra. Một chuyến đi lịch sử.


-         Cuối năm 1957 tôi đã trở về tỉnh. Anh Chín Kỳ thay tôi – Anh Năm nói tiếp – Gặp anh Chín Kỳ chưa? Con người hiểu biết thoáng rộng, đang làm ở ban lịch sử Đảng. Anh Chín sẽ cung cấp cho anh khá nhiều thông tin đó.


Như trên tôi đã nói, sau khi có sự chỉ đạo từ đất liền, Phú Quốc nói riêng, Kiên Giang nói chung bắt đầu khởi sắc. Chưa có lệnh đồng khởi nhưng đã sớm biết tự đứng lên võ trang đánh những trận nhỏ lẻ vô ngay giường ngủ của kẻ thù, gây một tác dụng rõ rệt cho phong trào chung. Những bộ phận võ trang được khôn khéo thành lập. Ở Việt Nam có bao nhiêu tôn giáo thì Phú Quốc cũng đủ bấy nhiêu, không thiếu ví như Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Hòa Hảo, Cao Đài… Nên những tay súng cách mạng núp dưới những chiêu bài giáo phái này khá ngọt, kẻ thù dù có đoán ra, nhưng chúng cũng không thể làm gì được. Sách lược của chúng cũng đang rất cần tranh thủ các giáo phái cho mục đích diệt cộng của mình. Như vậy, tự nhiên ta có ba tổ võ trang do anh Hai Hiền và Ba Du chỉ huy, vừa để bảo vệ Huyện ủy vừa bung ra các địa bàn kết hợp với địa phương diệt ác, tuyên truyền võ trang.


Tại sao tôi hay nói tới diệt ác? Có lẽ ở Phú Quốc, kẻ ác và người ngay luôn ở thế tương quan. Kẻ ác rất ác, đã có thời bà con trong toàn miền thường truyền miệng cái câu: “Ác ôn Phú Quốc” nó giống như người ta nói đến “giống chó Phú Quốc”. Nhưng người thiện lại rất thiện, đánh giặc hết mình, đánh giặc đến người cuối cùng, đánh giặc có dòng họ. Nếu nói lịch sử chiến tranh, Phú Quốc là lịch sử chiến đấu đau thương và oanh liệt của những dòng họ, câu ấy quả không ngoa. Dòng họ anh Ba Nghĩa, dòng họ anh Hai Phi đã minh chứng rõ điều này. Cũng như có thể nói, lịch sử đấu tranh của Phú Quốc là lịch sử diệt ác kết hợp với binh vận, địch vận và đấu tranh chính trị. Nếu chỉ lo mặt trận chính trị không thôi thì phong trào không thể lên được. Trong quá trình diệt ác đó không thể không kể đến vai trò của anh em mình vượt tù ra. Lòng căm thù sẵn có, bản lĩnh tác chiến tinh thông, lại lạ mặt lạ người nên thực hiện hành động diệt ác rất thuận lợi.


Thời kỳ này, ngoài vấn đề sống còn là phải lập được căn cứ ở Hàm Ninh, Khu Tượng, Bắc đảo, Huyện ủy chủ trương bằng giá nào cũng bám sát, bám dân mà tồn tại. Tức là lập căn cứ ngay trong lòng dân. Lòng dân là căn cứ cố thủ vững chắc nhất trong những ngày mỏng manh nhất của cách mạng. Bằng bất cứ giá nào… (anh Năm cười) mệnh đề duy ý chí này trong chiến tranh là bảo bối, nhưng trong làm kinh tế là chết đó nghe!


Ở đảo mùa mưa buồn lắm! Mùa mưa cũng là mùa biển động, mùa của những khó khăn chồng chất dồn về. Nhưng mùa khô lại là mùa phải chống đỡ với những cuộc càn hủy diệt của kẻ thù. Mùa nào đối với dân đảo cũng là mùa cam go và chết chóc.


Mùa khô năm 1957 để lập vành đai cho khu an toàn An Thới, và củng cố thêm sự nghiêm ngặt về an ninh cho nhà tù Cây Dừa, Diệm đưa 3.000 giáo dân di cư cùng với đội ngũ hàng chục linh mục khét tiếng chống cộng ra lập khu dinh điền liên hoàn ở Hưng Văn, Kiến Văn. Ngày trước sống ở vùng Đông Nam Bộ chắc anh dư hiểu thế nào là vành đai công giáo toàn tòng ở miệt Hố Nai, Biên Hòa. Đúng là một vành đai thép, máu ta đổ ở đó không biết bao nhiêu mà nói. Vành đai An Thới từ đó cho mãi tới sau này vẫn là khối u ác tính nằm chình ình trên đảo và đe dọa ghê gớm những sinh mạng tù khi vượt được ra ngoài.


Đầu năm “năm tám” anh Chín Kỳ tức Nguyễn Phước Kỳ người nhỏ con, dòm có dáng giáo học, nhưng lại đóng giả người buôn chiếu đột thẳng vào thị trấn Dương Đông lãnh nhiệm vụ làm Bí thư cách mạng đảo. Ở đảo người ta gọi anh là Bảy Cúc.


Thời anh Chín Kỳ là thời kỳ tung hoành đẫm máu của chiếc máy chém 10/59. Chiếc máy chém xù xì han gỉ này đánh thẳng vào sự cô đơn của đảo. Lại đen tối. Lại chao đảo. Lại cầu an chiêu hồi, lại mất tinh thần, lại u ám trong vũng sình của chủ nghĩa thất bại ở không ít cán bộ ta. Máu tiếp tục đổ tức tưởi ở Bãi Bồn, Hàm Ninh, Cồn Dương, Suối Cao, Suối Đá Bàn, Bà Kèo, Cây Thông…


Nhưng lực lượng ta đã được thử thách, đã làm quen được với mọi tình huống hiểm nghèo nên vẫn tồn tại. Khu căn cứ vẫn sừng sững màu xanh núi rừng úp chụp vào tâm can kẻ thù. Đất đảo vẫn nằm trong thế tương quan: Ấp xóm, đô thị do chúng quản lý, còn bưng biền, rừng núi thuộc về ta. Đảo chia đôi trận tuyến rạch ròi.


Đến thời kỳ chiến tranh đặc biệt 1960 – 1965 đảo mới thật khởi sắc. Ấy, tôi có vẻ đi lạc đề rồi phải không? Anh cảm phiền nghen! Lâu nay mãi lo cho thiên hạ làm kinh tế, mãi lo vùi mặt hết khó khăn này tới khó khăn khác, chuyện hôm qua mới đó mà đã quên phứt đi, chuyện của mình mà như chuyện của người khác, của quốc gia khác. Bây giờ anh gợi lại, tôi nói ào ào, không rơi vào cái trọng tâm nào hết trọi. Ráng nghe nha! Chuyện lửa máu gan ruột, nói cái này nó gợi dậy cái kia, khó dứt lắm!


-         Không sao anh Năm! – Tôi nói – Tôi đang cần nghe tất cả, muốn hiểu về nhà tù mà không hiểu về Phú Quốc với tư cách là cái nôi của nó thì khác chi chỉ biết một mà không biết hai. Chỉ sợ đồng chí Bí thư mất thời gian.


-         Sao mất? – Con mắt hiền từ của anh mở lớn – Quên đi quá khứ mới là mất! Thật sự mất! Chuyện làm ăn còn dài dài, còn lo cả đời. Chuyện ngày qua không nhắc nhở đến mới là có tội. Tội lớn lắm với bà con, với đảo, với những người đã ngã xuống. Bậy rồi!


Tôi thực sự mát lòng mát dạ trước một chút giận dữ của đồng chí đứng đầu tỉnh. “Đâu! Đâu nào? Bố có lõm bõm lội ngược dòng thời cuộc để tìm về quá khứ lạc lõng đâu” – Nếu có mặt thằng con tôi lúc này, tôi sẽ nhướng con mắt nói chắc nịch với nó như thế. Và có thể nói tiếp thêm câu này nữa: “Nếu mày biết rằng thế giới nói chung và người Mỹ nói riêng nếu họ biết về Việt Nam, kính trọng Việt Nam là kính trọng những tháng ngày đã qua ấy. Hiểu chưa? Đừng có mà…” nhưng anh Năm đã trở lại câu chuyện:


-         Trước đồng khởi, lực lượng võ trang của đảo chính thức ra đời mà tiền thân của nó là đội bảo vệ mang tên “90–59” do anh Năm Sĩ tức Trương Võ Sĩ cầm đầu. Nói đến phong trào đánh địch suốt thời kỳ này và suốt những thời kỳ sau, không thể không nói đến những cái tên hết sức quen thuộc với ta và quen thuộc cả với địch như Năm Sĩ, Ba Lon, Tư Tâm, Hai Sửu… Anh Năm Sĩ và Ba Lon đã nghỉ, anh Tâm đang là Bí thư đảo này, muốn biết rành những thăng trầm của cách mạng Phú Quốc về khía cạnh võ trang, cứ gặp mấy anh là rõ hết. Tất nhiên rất nên tham khảo thêm những đời Bí thư, những con người đứng mũi chịu sào, chịu trách nhiệm cao nhất trước nhân dân trước Đảng… Coi nào… Để nhớ lại coi. Sau tôi là Chín Kỳ sau Chí Kỳ là anh Bảy Kiên tức Giang Lạc Đắc – Câu chuyện chính tôi sắp kể có gắn bó mật thiết đến con người này – Rồi tiếp là anh Năm Nhất, anh Phan Đình Thâm tức Hai Hiến và cuối chót là anh Mười Việt, anh Hai Phi.


Từ luồn sâu diệt ác nhỏ lẻ, những trận đánh có tầm cỡ quy mô bắt đầu được hình thành như trận phục kích vận động đánh giao thông diệt một trung đội Bảo an đi tuần mở thông con đường Hàm Ninh đi Bắc đảo, con đường mà bao nhiêu năm nay đều do đối phương làm chủ. Tiến tới dùng thủ đoạn bán đặc công ăn vận giả lính ngụy đón xe khách, tấn công làm chủ đồn Hàm Ninh giữa ban ngày. Cũng là lần đầu tiên lực lượng võ trang Phú Quốc diệt gọn được đồn… Chà! Nhiều lắm! Thế đánh như chẻ tre, hối thúc phong trào chính trị lên cao chưa từng thấy, khu giải phóng nới dần, căn cứ chuyển từ rừng núi xuống giáp ranh đồng bằng, đã lắm! Cái này phải hỏi mấy anh Năm Sĩ, Ba Lon, Tư Tâm mới rõ chi tiết được. Thực chất mỗi trận đánh hồi ấy là một trang sử phải được ghi lại một cách công phu, không thể loại bỏ bất cứ một chi tiết nào. Năm 1965 cũng là năm tên lính Mỹ đầu tiên đặt chân lên đảo. Chỉ mấy tháng sau số này lên tới hàng trăm, điều hành toàn bộ công việc chung, tất nhiên trong đó có cả nhà lao Cây Dừa. Cùng với số đồn bốt tăng lên đến 67 chốt, chúng bắt đầu đưa đến đảo cả máy bay dội bom hạng nặng B57, Phú Quốc thực sự đã trở thành một chiến trường trọng điểm có lực lượng hỗn hợp Việt - Mỹ, gồm cả hải lục không quân ngày đêm bó xiết lấy hòn đảo không đầy sáu trăm cây số vuông. Người dân đảo cũng lần đầu tiên được biết thế nào là Hải thuyền, Hải đoàn, chiến hạm, trọng pháo và trái bom hủy diệt. Cái thứ bom mà thả cách hàng trăm mét, con chó đang có chửa cũng bị sẩy thai.


Chính thời gian này đã xảy ra tấn thảm kịch Bảy Kiên và mười một cán bộ của huyện đảo.


Đầu mùa khô năm “Sáu bảy”, tiếng vang của hàng loạt những trận thắng Vạn Tường, Plây Me, Bình Giã, Ba Gia… Đã vọng tới đảo khiến kẻ thù càng phong tỏa vùng đất giữa đại dương này chặt chẽ hơn. Tình hình toàn miền Nam biến chuyển từng ngày, nó đòi hỏi một sự chỉ đạo thống nhất quán xuyến từ trên xuống dưới để từng bước gỡ phá âm mưu thâm độc của kẻ thù. Đêm ấy đồng chí Giang Lạc Đắc quyết định cùng đoàn cán bộ nòng cốt của mình vượt biển lên tỉnh báo cáo tình hình và nhận chỉ thị mới. Anh Đắc có thể ở lại để một đồng chí khác, một đồng chí cấp phó nào đó có năng lực đi lĩnh hội thay cũng được nhưng dường như Phú Quốc có truyền thống là không làm thì thôi, đã làm, đã đi là đi đến nơi đến chốn nên anh Đắc quyết định tự mình phải có mặt ở đất liền.


Đoàn đi hai ghe máy và chia làm đêm trước đêm sau. Bờ biển lúc này đã bị phong tỏa nhưng chưa đến nỗi vòng trong vòng ngoài nên phương thức vượt biển phần nào còn đơn giản chưa dự kiến hết mọi tình huống. Chính vì đó mà ngay đêm đầu, chiếc ghe đi tiền trạm đụng địch bắn chìm. Hầu như không còn ai sống sót trừ một người duy nhất đeo bám được be thuyền. Anh này lập tức bị bắt, bị đánh đập và khai ra chiếc ghe đi hôm sau mới có người đứng đầu đảo và có cán bộ nòng cốt. Chúng mai phục. Ghe anh Bảy Kiên hoàn toàn không biết, cứ lẳng lặng đi vào ổ phục kích. Thế là hết! Toàn bộ hy sinh không trừ một ai.


Anh Năm Trì ngừng lại. Câu chuyện xảy ra đã lâu, trên hai mươi năm nhưng bây giờ nhớ lại vẫn không thể không chấn động sâu xa tự bên trong con người cán bộ Đảng này.


-         Nghe nói phần tử chiêu hồi khai báo dẫn đến cái chết của anh Bảy và 11 người khác giờ đây vẫn đang sống trên đảo, sống rất đàng hoàng là đằng khác? – Tôi hỏi.


-         Cái đó tôi không rõ. Và nếu có như vậy thì cũng là chuyện thường tình. Mấy chục năm đã trôi qua, hận thù đã được giải tỏa, khắp nơi thiên hạ chỉ lo chuyện mần ăn. Nhưng – Anh khẽ nhìn ra xa – Tĩnh trí mà soi xét lại, đôi khi cũng thấy xót ruột phải không anh? Cuộc đời bao giờ cũng là cuộc đời, mọi cái vui buồn, hợp lý và không hợp lý đều cùng tồn tại bên nhau hết. Đó cũng là tính biện chứng, tấm lòng của người cộng sản thời nay và bất cứ thời nào.


Trở lại câu chuyện thảm kịch. Sau cái chết của anh Giang Lạc Đắc, ta vẫn liên lạc được với đất liền vài lần nữa rồi ngừng hẳn. Ngưng đến gần một năm. Đây là thời kỳ đứt liên lạc dài nhất của đảo. Nói gì thì nói, Phú Quốc dù có tự lực tự cường đến mấy nhưng xa sự hà hơi tiếp sức của đất liền lâu quá cũng chới với lắm. Cứ đi được một bước lại dừng lại ngẩn ngơ coi mình có đi lạc đường không. Thành ra cuộc kháng chiến vất vả gấp đôi. Đành rằng xa đất liền, đảo vẫn có thể thông qua tin tức, báo chí, rađiô để hành động theo con tim người cách mạng nhưng vẫn hết sức cần đến độ lý trí của cái đầu. Khoảng thời gian mất liên lạc này phải nhắc đến vai trò của đồng chí Tư Điệp và ban công tác đặc biệt của đồng chí ấy trên đất liền, các phần cơ thể cách mạng muốn lưu thông máu huyết với nhau được phải nhờ vào mạng lưới giao liên đất liền. Ở đảo, muốn lưu thông được phải trông vào giao liên trên biển. Trên biển có cái khó hơn nhưng cũng có cái dễ hơn trên mặt đất. Nhưng một khi mặt biển đã bị phong tỏa đày đặc như thời kỳ sau cái chết của anh Bảy thì việc đi lại, dù hợp pháp hay bất hợp pháp lại coi như vô phương. Hợp pháp đóng giả dân đi làm ư ? Đảo có một nhúm người, ai quen ai lạ, bọn mật vụ, bọn chỉ điểm nhận ra ngay. Đi bí mật ư? Không lọt qua nổi, vòng ngoài là tàu chiến đậu san sát, cự ly một kilômét một chiếc, thường xuyên có pho ca (loại ca nô nhỏ chiến đấu) đan qua đan lại giữa các tàu như dệt lưới, vòng trong là giang thuyền đứng lù lù như những cái lô cốt dữ tợn và trong cùng, ngay sát bờ là đội hình hải thuyền thả tạc đạn, quét đèn pha xuống mặt nước sáng đêm. Chúng phong tỏa vậy, một con rái cá cũng phải lộn đầu quay lại chứ đừng nói con người. Cùng với những cuộc càn quét tổng lực vô tận phía sau lưng ta, chúng quyết tâm cắt đứt đảo với đất liền hòng ngày một ngày hai hòn đảo sẽ trở thành bình địa, không còn một người cách mạng nào sống sót để rảnh tay lo chuyện toàn cục, và tạo bàn đạp chiến lược khi tình huống xấu nhất xảy ra.


Ban công tác đặc biệt của anh Tư Điệp phải đối đầu với sự phong tỏa ấy. Đất có thổ công, dân đảo gọi anh bằng hải công. Tức là anh thuộc biển như lòng bàn tay. Ban đêm quang trời hay mù trời, đi biển anh khỏi cần la bàn hay bản đồ. Ráo trọi những luồng lạch, những ngầm rạng ngoắt ngoéo, ảnh đưa thuyền qua hết trơn. Sao gọi là Ban công tác đặc biệt mà không gọi là giao liên bình thường? Bởi vì bộ phận ấy không đơn thuần chỉ làm nhiệm vụ giao liên mà còn nhận lĩnh vũ khí, đạn dược từ đảo Thổ Chu đưa về đây, thậm chí tải về cho đất liền. Người ta nói Phú Quốc cung cấp nhân, vật lực cho đất liền cũng là ở cái ý nghĩa ấy. Như vậy tổ Tư Điệp có dính đến đoạn cuối của đường dây chiến lược nhận vũ khí từ Trung ương vào mà ta hay kêu bằng “Huyền thoại về đường mòn Hồ Chí Minh trên biển” cái “đặc điểm” đó còn có một nghĩa nữa mà nghĩa này mới quan trọng: Thường xuyên phải giấu biệt tung tích để hoạt động như những nhân viên tình báo chiến lược. Dấu tung tích với bạn bè đồng đội, với vợ con để khoác một chiếc xà rông làm người Khơme xa lạ lẩn khuất hàng tháng, hàng năm trời trên mặt nước, trong lùm bụi lo nối liền mạch đập cho cách mạng. Trong đó có cả việc chở anh em trốn tù về đất liền bổ sung kịp thời cho lực lượng. Không ít người trong Ban đã hy sinh đã tự đánh chìm mình cùng với tàu để giữ hoàn toàn bí mật, để vũ khí cách mạng không rơi vào tay địch, đã bị bắt nhưng đường dây qua năm tháng vẫn không bị đứt. Đó là những chiến công thầm lặng ít người biết tới, lịch sử dễ bỏ qua mà mấy anh nhân dịp này làm sống lại giùm. Riêng về ông Tư Điệp bây giờ đã hưu, đang sống ở Bắc đảo. Anh muốn hỏi chuyện ổng bị quân Lon Non bắt kết án tử hình rồi nhờ có chính phủ Lâm thời của ta can thiệp mới thoát như thế nào và ngay gần đây một mình ông ra tay bắt hải tặc ra sao, ráng tìm tới ông, ông sẽ nói cho nghe. Cuộc đời con người này nhiều cái phiêu lưu ly kỳ gắn với đảo lắm. Ổng là anh hùng trên mặt nước của Phú Quốc đó. Một trong những thành viên chủ chốt trong ban đặc biệt đó còn đang công tác là Hai Mẫu, phó bí thư trực huyện đảo bây giờ.


-         Vậy mà sao kỳ anh Bảy Kiên chết, người hùng Tư Điệp và Ban đặc nhiệm của mình cũng bất lực? – Tôi tò mò hỏi.


-         Bất lực! Người hùng cũng có lúc bất lực chớ! Anh Năm cười hóm – Ngay vĩ đại như Đảng mình có phải khi nào cũng ào ào lướt tới đâu, có lúc vấp váp tới tối tăm mặt mày ấy chớ. Vậy mới là Đảng, là anh hùng.


-         Gần năm trời… Mất liên lạc gần một năm trời! Chắc lúc ấy tỉnh ủy trong đất liền nóng ruột lắm?


-         Còn hơn cả nóng ruột. Không rõ số phận cấp ủy, số phận bà con, anh em mình trong đó ra sao? Mới giận mình tại sao không lo bằng được một cái vô tuyến 15 oát cho đảo để bây giờ ra nông nỗi này! Anh có biết tương quan lực lượng giữa ta và địch lúc ấy thế nào không? Thiệt thê thảm. Ta chỉ có một đại đội thiếu chừng vài ba chục người mà lại ở phân tán trên một địa bàn rộng, phía địch có thể nói gấp một ngàn lần hơn. Ngoài lực lượng quân cảnh bảo vệ nhà tù, lực lượng hải đoàn, giang thuyền không nói, chỉ tính bốn tiểu đoàn bảo an, bốn tiểu đoàn biệt kích rồi tụi cảnh sát đặc biệt, cảnh sát dã chiến, một đại đội địa phương quân kêu bằng nghĩa quân hay dân vệ cũng lên tới trên mười hai ngàn tên do ác ôn quận trưởng Phạm Hữu Hoàng Sơn cầm đầu. Như vậy ta 30, địch 12.000 và dân 10.000. Riêng tỉ lệ này cũng đủ thấy tình thế cách mạng mỏng manh bao nhiêu, càng mỏng manh khi hoàn toàn mất liên lạc.


(còn tiếp)


Nguồn: Nhà lao cây dừa. Ký sự của Chu Lai. NXB Văn học, 2005.


www.trieuxuan.info

trieuxuan.info