- 13
- Do một sự tình cờ, tôi gặp được anh Lê Thông, vốn cũng là tù binh Phú Quốc nay đang công tác tại Ban thanh tra Đảng của thành phố, anh có ý tạo cơ hội cho tôi được gặp một người. Người đó không phải là một người tù như hàng chục người tôi đã gặp trước đó. Người này tên là Chất, thiếu tá tiểu đoàn trưởng một tiểu đoàn quân cảnh của nhà lao Phú Quốc trong thời kỳ đó. Không nói chắc các bạn cũng biết tôi vui mừng biết chừng nào! Như trên tôi đã nói, nhà tù Phú Quốc hút về nó phần nhiều số quân cảnh của toàn bộ miền Nam, tức là bốn tiểu đoàn, nay được gặp một trong bốn vị tiểu đoàn trưởng của lực lượng quân cảnh đó thì còn may mắn gì bằng.
- Chất cũng chạc tuổi Hai Nam, nghĩa là khoảng bốn tư, bốn nhăm tuổi gì đó. Dáng anh cao, gầy, tóc đã có những sợi bạc ở thái dương. Gặp tôi và được giới thiệu về tôi, phút đầu anh không tránh khỏi những mặc cảm tự nhiên. Sau biết tôi cũng là lính mà lính chiến một thời đàng hoàng nên cách nói năng của anh có cởi mở hơn. Thì ra, không gì chóng hiểu nhau, tin nhau và sẵn sàng chơi sòng phẳng với nhau hơn những người lính đã trực tiếp cầm súng cho dù là ở hai đầu đối địch.
- Sau đây là một đoạn đối thoại giữa tôi và anh.
- Xin lỗi, anh vừa đi học tập về?
- Dạ! Nói đúng hơn là đi cải tạo. Những người như tôi phải gọi là cải tạo mới đúng chứ anh! Xét dưới góc độ lịch sử nào, dù cho Cách mạng có chủ trương hòa hợp đến mấy thì chúng tôi vẫn không thể quên được có một thời mình là ai? Mình làm gì?
- Thôi bỏ qua đi anh. Ta nói chuyện khác. Anh Chất làm việc ở đấy trong thời gian nào ấy nhỉ?
- Từ giữa năm 67 đến đầu năm 70.
- À, tức là thời kỳ của đại tá Đắc, con rể tướng Lê Văn Tỵ.
- Dạ! Ông này sau “sáu tám” anh em tù vượt ra nhiều, công luận lên án quá nên đã bị điều đi.
- Điều đi đâu?
- Về Sài Gòn làm chỉ huy trưởng quân cảnh quốc gia.
- Tức là bị đá hất lên. Hay nhỉ? Thời buổi nào, chính thể nào cũng có những cú đá ngược ngoạn mục như vậy. Ai thay?
- Chuẩn tướng Tân, lính Com măng đô cũ của Pháp. Ông này chủ trương quân sự hóa tối đa. Có lẽ thời kỳ ông Tân là thời kỳ đàn áp ác liệt nhất trong nhà lao.
- Vậy à!… Thế đấy! Tôi có cảm tưởng sự dã man của bộ máy đàn áp nhà tù tăng trưởng theo thời gian và theo lon hàm của các vị thủ lĩnh nhà tù?
- Dạ… Cái đó tôi… không được rành vì tôi cũng chỉ ở có…
- Hơn một năm! Vâng! Đó chỉ là suy nghĩ của riêng tôi. Tôi muốn hỏi anh Chất câu này: Trong sáu đời chỉ huy trưởng… sáu đời phải không anh?
- Dạ sáu đời, kể bắt đầu từ thiếu tá Hoạt, con người mềm mỏng làm chính trị.
- Vâng! Không rõ bây giờ còn vị nào ở lại Việt Nam không nhỉ, hay đi nước ngoài cả rồi?
- Theo tôi, họ đi hết rồi. Một số đi ngay năm “bảy lăm”, số khác chấp nhận đi học tập cải tạo rồi khi được về cũng tìm cách đi nốt. Tôi hiểu họ không muốn ở lại, không thể ở lại. Không hẳn chỉ vì quá khứ và hiện tại khó chung đụng nhau mà cái chính là sự ám ảnh tội lỗi đè nặng trong đầu.
- Thế tại sao anh không đi? – Buột miệng xong tôi mới thấy mình hỏi vô lối, bèn cười xòa – xin lỗi! Câu hỏi hoàn toàn mang tính chất tò mò chữ không định móc ngoéo gì đâu, anh Chất nhé!
- Dạ! – Nụ cười phảng phất nét buồn – Tôi có nhiều cái ràng buộc không đi được. Vả lại… Tự vấn lương tâm, tôi cũng thấy mình không làm điều gì thái quá trong những năm còn ở Phú Quốc. Là người lính, tôi không muốn lính của tôi chà đạp lên nhân phẩm những người lính khác. Tôi không chịu nổi sự vũ lực đơn phương. Nếu thà cứ ở chiến trường, hai bên dàn trận tuyến lại khác. Nói cho cùng, tôi kính trọng những tù binh Cộng sản.
- Tôi hiểu anh.
- Cho nên tôi cũng chỉ ở đó không đầy hai năm rồi bị đổi về vùng 4 chiến thuật. Họ đâu có ưa tôi. Họ kêu tôi là phần tử lần khân, phong thiếu tá cho hắn là sai lầm.
- Anh có thể cho biết sau vụ 42 tù giật súng mà đài BBC có đưa tin, tình hình canh phòng nhà lao có gì khác không?
- Vụ giật súng đó chỉ là một. Sau đó còn có vụ cướp súng ngay tại sân chào cờ và vụ tuyệt thực 300 người ở khu Tân sanh hoạt. Sau những sự kiện đó, tình hình nhà tù hoàn toàn rối loạn. Giám thị đổ lỗi cho quân cảnh. Quân cảnh đổ lỗi cho đám công binh làm ăn sơ sài. Công binh lại đổ cho bộ tư lệnh chỉ ham nhảy về đô thành chơi gái… Tóm lại là đổ vấy cho nhau um sùm. Khi ông Đắc bị điều đi, ông Tân về, ông có gọi chúng tôi lên quát tháo một trận. Quát chán, ông chuyển sang chì chiết ban chiến tranh chính trị là gà mờ, chúi mũi vô đâu mà để trong tù các tổ chức chính trị cộng sản vẫn hoạt động hữu hiệu, ngày lễ ngày tết vẫn xuất hiện cờ quạt, tranh ảnh biểu ngữ khắp nơi. Cuối cùng ông dọa cách chức ráo trọi ban giám thị. Ông gọi ban giám thị ban thái giám, toàn những thằng liệt dương liệt vị hay sao mà tù hoạt động, tù trốn chạy như đi chợ cũng không biết. Tôi đã nói ông này là dân com măng đô chủ trương bạo lực nên ông đưa thằng trung úy Hiểu, tức Hiểu Râu cọp người Bùi Chu lên đại úy, nắm toàn quyền ban giám thị trong tù. Gọi bằng Tổng giám thị.
- Sau đó ông cho củng cố lại toàn bộ hệ thống phòng thủ: Tăng cường thêm hàng rào gai loại tối tân chở từ Ốtstrâylia về, chỉ thị cho tiểu đoàn công binh thiết kế lại các bãi mìn, biên chế tiếp một đại đội quân khuyển thiện chiến, xin kinh phí mắc lại hệ thống đèn phòng thủ và đèn pha chiếu sáng, xin trực tiếp từ Oasinhtơn hai cái máy đo địa chấn hiện đại để chống đào hầm, đồng thời cho rải chất độc hóa học cộng xe ủi mở rộng khu vành đai. Chưa hết! Ông đề nghị với bên Hải đoàn vùng 4 và bộ chỉ huy chi khu Phú Quốc mở tiếp những cuộc càn đánh thật nặng vào căn cứ kháng chiến để bứng ra khỏi đảo bất cứ một mầm mống cách mạng nào. Theo ông, nhà tù và phong trào cách mạng bên ngoài gắn bó rất chặt, muốn ổn định nhà lao thì phải xóa trắng bên ngoài và muốn diệt cỏ bên ngoài, lại phải bình định triệt để được nhà lao. Tôi nhớ lúc ấy, khi ông hoa chân hoa tay nói đến đây, viên đại tá cố vấn người Mỹ chỉ khẽ nhún vai cười, ông ta tỏ ra không tin và có ý định coi thường kế hoạch ồn ào và hơi ngây thơ của ông bạn đồng sự bản xứ. Viên cố vấn này sau một cái ngáp khẽ đứng dậy yêu cầu cả bộ máy nhà tù, phải tập trung hướng vào bên trong tường trại giam, phải chia cắt, phải gài nhân mối, phải phát hiện cho ra kẻ cầm đầu, và nếu cần bắn hết không thương tiếc. Tình hình chính trị đang vận động có lợi cho đối phương, thế giới cũng đang sắp xếp lại, ông ta tỏ ý phàn nàn quân đội bản xứ có một việc nhỏ là coi tù cũng không xong.
- Nghe viên cố vấn Mỹ thuyết giáo bằng cái giọng trịch thượng, trong chúng tôi có nhiều người đỏ mặt lên. Thực chất hắn là cái gì? Cả quân đội, cả chính phủ hắn là cái gì, hay chỉ là một mớ bung xung hơn nửa triệu quân ăn tục nói dóc đánh đâu thua đấy mà lại còn to họng. “Nếu cần bắn bỏ không thương tiếc”. Câu này một sĩ quan người Việt nói còn có thể bỏ qua nhưng từ miệng một gã ngoại lai bật lên lại là chuyện khác. Khi đó ranh giới thù nghịch biến mất. Chỉ còn đọng lại cảm giác sỉ nhục khi bị thằng khác xúi anh em trong nhà giết lẫn nhau. Vậy mà mấy vị giám thị vỗ tay gật gù, ông chuẩn tướng lại còn đập gót giày tỏ ý tuân lệnh bằng mọi giá nữa.
- Tôi hiểu anh – Tôi ý nhị ngắt dòng ngôn ngữ chân thành chảy cuồn cuộn của người đối diện – Rút cục, tình hình có cải thiện được không?
- Nhằm nhè gì. Anh em tù càng đấu tranh dữ, đấu tranh có nghiệp đoàn và số lần vượt ngục vẫn tăng lên. Nếu nói một cách hình ảnh thì có thể ví thế này anh ạ! Bốn mươi ngàn tù binh càng bị đàn áp, càng chết chóc, càng cơ cực lại càng xiết chặt thành một tảng bê tông rắn chắc mà không có lực nào phá nổi hết. Tôi còn nhớ nội dung bức điện của tướng Cao Văn Viên đệ trình lên Tổng thống Thiệu đại loại như sau: “Mức độ đấu tranh của tù binh Phú Quốc lên khá cao. Mưu toan đào thoát bằng đường hầm bành trướng. Tù binh có ý lợi dụng Tết Nguyên đán để đào thoát và ám sát nhân viên canh giữ, đoạt súng cá nhân và cộng đồng tấn công trại… có thể đây là một kế hoạch quy mô có sự phối hợp với địch bên ngoài…”.
- Có lẽ bức điện ấy đã nói lên tất cả.
- Cám ơn anh! Xin được gặp anh sau, chúc anh trong cuộc sống còn cam go hôm nay tìm được sự thanh thản để sống như anh đã tìm được. Tôi tin như vậy.
- Và chúng tôi chia tay nhau trong một cái bắt tay chân thật và sòng phẳng. Trong cái bắt tay chặt mạnh ấy, tôi tìm thấy ở con người này một sự khuây khỏa nào đó khi được nói ra những điều còn ẩn náu nhức nhối như trên ở trong lòng.
- Còn tôi, từ những thông tin về phía đối địch trong tù này, tôi phải đi tiếp một chặng đường nhọc nhằn nữa để khẳng định tính rắn chắc bất khả xâm phạm của các tảng bê tông kia.
-
- 14
- Đứng trước tôi là một người đàn ông khoảng trên 40 tuổi, rắn rỏi, tầm thước, mặt vuông chữ điền và đôi mắt u uẩn. Anh đột ngột kéo xếch hai ống quần lên để lộ ra đôi bắp chân chi chít những vết tròn thâm sì.
- Đây nè! – Anh nói gằn gằn – Ghẻ lở đây nè! Dòm đã không – Rồi anh giật phanh áo để hở ra một mảng ngực, mảng bụng đầy sẹo nhăn nhúm – Chuồng cọp, chuồng chó đó! Ngon không? Đây nữa – Anh cúi thấp đầu xuống cho tôi nhìn thấy một mảng da không có tóc đỏ hồng đang đập phập phồng – Que sắt đó. Một cây que nung đỏ đàng hoàng. Sướng hả?
- Và sau khi đã làm cho tôi chóng mặt, anh nở một nụ cười thật chua chát:
- Dòm chơi cho vui vậy thôi chứ nói to lên làm gì. Tù tội ai mà chả vậy.
- Thế này là thế nào? Anh ta đang nói gì vậy? Coi là trò đùa tất cả hay đang biện minh cho những kẻ đã để thẹo trên khắp thân thể anh?
- Anh là anh Hồng? – Tôi hỏi – Trần Hồng, người đã nêu một khí phách đáng sợ: Vượt rào thoát ngục giữa ban ngày, dưới con mắt cú vọ của đối phương?
- Ối giời! Lại ông Sơn chỉ phải không? Cái ông này lắm chuyện quá! Rầy rà…
- Nghiệp viết lách đã luyện cho tôi tính cam chịu nên, thay vì tự ái do bị xúc phạm, tôi lại chủ động ngồi xuống.
- Tù đày như thế mà trông anh còn đẹp mã như một vũ sư karate siêu hạng, chả thấy ốm o gì cả.
- Ừ! Đúng! Trước khi bị bắt, hồi còn là sinh viên tôi thuộc môn phái VOVINAM – Hồng tròn mắt.
- Tức là anh người Bình Định.
- Sao biết hay vậy?
- Chỉ người Bình Đinh mới thịnh cái võ VOVINAM. Và nếu không nhầm thì tôi dám cả quyết rằng, anh dùng chính cái lợi thế VOVINAM đó để thực hiện hành vi vượt rào gây kinh dị cả nhà lao.
- Anh khôn khéo lắm! Hồng cười vang – Vậy là anh đã nhử tôi đạp bẫy bằng một lời khen rồi tiếp bằng một câu chọc khía thượng võ của dân Bình Định chúng tôi. Được rồi, nếu vậy tôi sẽ kể, kể chơi thôi chứ không ghi chép, viết sách, viết báo gì hết trơn nghe không! Tôi kể không phải phổng mũi vì mấy câu khen nịnh đó, đừng tưởng bở. Chẳng qua là tôi tiếc cái công anh tuổi cao sức yếu còn lọ mọ đến đây và cái quan trọng hơn – Anh vẫn là một người lính, một người lính trải qua trận mạc chứ không phải chỉ ngồi ở văn phòng tán láo, viết láo.
- Cám ơn chiến hữu – Tôi toét miệng cười – Nào, cởi mở đi ông bạn lính chiến! Tôi sẽ nghe cũng bằng trái tim lính chiến.
- Khi bị bắt vô tù tôi mới hơn hai mươi tuổi, còn trẻ lắm, dường như là một trong những tên tù trẻ nhất nhà lao. Vậy mới khổ! Trẻ bao giờ cũng nóng máu. Nóng máu trong một trận đánh biệt động – Binh chủng tôi tham gia ở mặt trận Huế “sáu tám” – Còn khả dĩ chấp nhận được, nóng máu trong tù chỉ có thiệt thân. Tôi bị chúng nó khẻ gãy răng ngay từ lúc xuống sân bay từ Biên Hòa về.
- Biên Hòa?… Anh cũng từ Hố Nai, Biên Hòa về Phú Quốc?
- Dạ! Từ đó.
- Anh biết Ba Toản?
- Ba Toản đặc công? – Trời! Sau đó tôi cùng ở một nhà giam với ảnh một lúc.
- Và anh bị bẻ răng khi không chịu nhận mình là phiến cộng?
- Đúng! Sao mà anh biết?
- Tôi mỉm cười gật gù, thì ra đây là người tù trẻ tuổi nóng tính bị mất tung tích mà anh Ba Toản đã áy náy nhắc đến.
- Nghiệp vụ mà – Tôi cười – Hay lắm! Anh nói tới đi!
- Vô khu biệt giam trước anh Ba Toản được ít bữa, tôi nổi quạu đụng độ nữa, chúng tống xuất tôi sang khu biệt giam cấm cố. Dù ở ngoài đã tưởng tượng hết cỡ, nhưng vô đây mới thấy sự tàn bạo còn trên sức tưởng tượng của mình nhiều. Tôi có thể tự hào hoặc có thể nhân danh một người bất hạnh nhất mà nói rằng: Thằng Hồng biệt động chưa đảng này đã trải qua hết các ngón đòn tra khảo độc địa nhất.
Tức một cái là ở ngoài đã vì chỉ điểm mà bị moi hầm, nay vô tù cũng lại vì mấy thằng chỉ điểm mà ăn no đòn. Có gì đâu, tôi to mồm, thấy cái gì ngang tai chướng mắt là nói toáng lên, thế là bị mách lẻo, thằng nào mách lẻo cũng không biết nữa, nếu biết, có bị bể sọ tôi cũng cho nó ngập miệng vô cát. Mà nó không đánh ngay lúc ấy, lại cứ nhè mấy ngày lễ tết như ngày 1 tháng 5, ngày 22 tháng 12, ngày 3 tháng 2 mới lôi ra lấy búa đập vỡ móng tay, lấy kìm bẻ từng chiếc răng một. Răng tôi bị bẻ rồi, còn móng tay tôi bị ghè vỡ gần hết. Tức quá tôi liều: “Oai gì cái lối trói người lại đánh, thử ra ngoài rừng xem nào, một tao chấp cả chục!”. Tất nhiên chúng không theo tôi ra rừng mà quẳng vô chuồng cọp, chuồng chó. Chuồng cọp còn dễ chịu mặc dù đã chịu không nổi, còn chuồng chó thì tức là anh chỉ có một động tác ngồi như chó, không nằm, không đứng, không bệt đít xuống được. “Con chó người” ấy mỏi quá, chỉ cần thay đổi động tác chút xíu là cọc nhọn sắt sắc như dao cứa nát thịt ngay. Mà đâu chỉ có ngồi một ngày. Ngồi 5 ngày, một tuần, có khi còn hơn nữa. Nắng hay mưa cũng kệ. Nắng, chúng còn cho kê lò than gần kề; lạnh, chúng hắt thêm nước lạnh. Vậy mà không cảm cúm, không ốm đau gì cả mới kỳ chớ. Cơ cực quá, thân thể người ta bỗng có khả năng miễn dịch hay sao ấy. Thử tưởng tượng đang vận sức lom khom như thế mà nổi cơn sốt rét thì chỉ còn cách úp mặt xuống cọc nhọn mà chết.
Hồi ấy tôi đang còn sức lực, thông thường sau vài ngày nằm chuồng chó, người khỏe cũng lăn ra bê bết hàng tháng, nhưng tôi vẫn tỉnh queo. Tưởng thách thức, điên tiết chúng lại hành tôi nữa bằng cách bắt tôi lộn qua lộn lại cái hàng rào bùng nhùng cao gần một thước có gài trái bên trong hàng chục, hàng trăm lần. Lộn ngược không sao, yếu sức một chút ngã vô hàng rào là mìn nổ tan xác… Có người chịu không được sự hành hạ cân não đó đã tự động thả đời mình vô mìn cho thoát nợ. Người khác gần như phát bệnh tâm thần, giữa trưa chui liều ra khỏi chuồng cọp rồi trèo lên nóc sắt, vừa chửi kẻ thù vừa lấy nứa rạch bụng ruột thòi ra cả đống… Lại có người táo tợn hơn cứ vừa la hét vừa tâng tâng nhảy qua các lớp rào, cố tình cho đụng mìn hoặc cho lính xả súng bắn chết. Kinh khủng lắm!
Nhưng kinh khủng nhất vẫn là chúng bắt ăn bát cơm trộn cát cộng với nước đái. Cơm ăn không đã mắc ói rồi, nay trộn thêm cát, thêm nước đái nữa thì chịu sao nổi. Vậy mà phải chịu đó. Không ăn chúng đập! Đang ăn ói ra, đập! ăn xong ói, càng đập, bắt hốt hết lên ăn nữa. Thành thử để tránh đòn, chỉ còn cách nhắm mũi, nhắm mắt và, nuốt một hơi sau đó nằm thẳng cảng ra thở khí công. Thở cho quên đi. Chỉ cần chóp chép miệng nhớ lại mùi vị là ói ra mật xanh mật vàng.
Khu biệt giam này không có giường, có phản, có bệ bục gì hết. Đêm đi ngủ, tù cởi truồng nhõng nhõng nằm co quắp xuống nền nhà, sáng ngủ dậy, máu mủ ở vết ghẻ ăn thâm cả đất. Kỳ nào mà thùng phân chúng phạt không cho đem đi đổ, đêm nằm trở mình đè vô giòi nổ nghe bép bép. Sáng ra không khăn khố không nước nôi, phải lấy ngón tay thấm nước miếng rồi chấm chấm vô mắt cạy ghèn ra một lúc mới thấy được. Nhiều khi mặt mày dơ dáy quá, không còn một miếng vải nào mà chùi đành lấy miếng giẻ đã lau ghẻ của bạn mà đưa đại lên mặt… Vậy mà có sao đâu. Tức cười! Nhờ như thế mà bây giờ bưng chén cơm ngồi cạnh con nít đang ỉa vẫn nhai nuốt ngon lành. Anh tin không? Sức chịu đựng của con người nhiều khi tưởng như vô hạn.
Tôi bị đánh nhiều quá, mỗi lần chúng quẳng trả về trại giam, anh em thương mà nhường quần áo cho, tôi gạt đi: “Mặc làm gì! Mặc vô, nó đánh lại rách nữa! Kệ tôi!”. Chúng đánh tôi phát chán tay, và tôi càng bị đánh càng dạn đòn, càng coi khinh, nên càng bị đánh. Về sau, chúng bày ra một trò quỷ thuật khác độc địa hơn.
Đỉa trâu Phú Quốc bự lắm anh ơi! Khi no máu nó có thể to tựa cái chuôi liềm cắt cỏ, đen mun, sần sùi. Lần đó, anh em phát hiện được một thằng chỉ điểm lợi hại đã nằm vùng lâu rồi nên quyết định diệt. Tất nhiên là tôi xung phong. Thêm một người nữa là anh Phạm Duy Đài, người đánh sân bay Phú Bài đầu tiên. Anh này thuộc loại võ nghệ siêu, phong độ ngang tàng nhưng vô tù thời gian đầu lại tỏ ra dao động, hay thở dài và khóc lóc. Có lần bực quá tôi cự: “Dũng sĩ mẹ gì mà sướt mướt như đàn bà con nít, thằng địch nó khinh!” Chửi vậy mà anh mần thinh, có lẽ về sau thấm nhục và tinh thần dũng sĩ phục hồi trở lại, ảnh đã tỏ ra khá hơn và lần này xung phong cùng với tôi diệt tên chỉ điểm.
Thấy tôi xung phong anh trại trưởng can. Anh này tên là Long, huyện ủy viên Phù Cát, kiết lỵ, thổ tả, bệnh tật liên miên đến lồi một bên mắt văng cả con ngươi ra, con mắt bên kia sắp lòi ra thì được một y sĩ tù cứu chữa kịp. Tôi nói “văng” theo nghĩa đen chứ không nghĩa bóng gió gì đâu. Người mắc bệnh này, kỳ lắm, mắt cứ lồi dần ra, lồi tới đâu máu mủ tứa ra tới đó rồi một buổi trưa đang ngồi thì tròng mắt bỗng bật văng ra rơi hẳn xuống ngực, lòng thòng nối với hốc mắt đỏ lòm bằng mấy sợi gân hay sợi cơ gì đó trắng nhợt. Tôi may chưa đến nỗi nếm cảnh này nhưng cũng bị mù mắt bốn tháng, sau mới sáng dần ra. Bây giờ mỗi khi nhìn ra nắng, con mắt tôi lại trào nước như có ai vừa ném một vốc cát vô.
- Em đề nghị người khác, chúng nó nghi em sẵn rồi, bây giờ dính vô, dễ bị làm rầy rà lắm – Anh ấy chớp chớp con mắt lòi nói.
- Cho rầy ra luôn, sợ cái cóc! – Tôi trả lời.
Trả lời xong tôi mới thấy thương anh. Khổ! Cái thân làm trại trưởng trên đe dưới búa có sướng nỗi gì? Thỏa hiệp với giám thị thì bị anh em chửi, thỏa hiệp với tù thì bị giám thị trù, có khi phải sống trong cả sự ghẻ lạnh khinh miệt của đồng đội mà không biết biện minh ra sao. Cái trại biệt giam này hình thành được 18 tháng thì có đúng 18 ông trại trưởng bị chúng đập chết mỗi khi trong trại xảy ra sự cố đấu tranh gì. Tôi nắm tay anh:
- Dù có chết cũng không ân hận, anh Sáu! Ít nhất trừ đi được một con sâu ghẻ cho anh em. Có gì, em sẽ nhận tất cả về mình.
Không nói gì thêm, ông lặng lẽ gật đầu rồi lùi về chỗ nằm gần thùng cầu tiêu.
Đêm đó tôi và anh Đài bí mật trùm áo vô đầu thằng chỉ điểm rồi bóp cổ cho chết. Đâu đó, hai thằng bí mật khiêng xác chết quẳng xuống nhà bếp, dúi đầu nó vô lò than đang ngún khói…
Sớm hôm sau, ông trại trưởng làm bộ hớt hải lên báo thằng giám thị rằng thằng đó đang đêm lạnh quá bò xuống bếp sưởi thế nào trúng gió nên gục chết. Thằng giám thị đá hất cái mặt xác chết đã cháy nham nhở lên, cười gằn:
- Lại thêm một thằng! Chúng mày khá lắm! Được rồi, cứ coi như chết cảm. Bây giờ tao cho chục thằng chúng mày cũng thử chui cổ vô đó coi có chết cảm không.
Nó cầm dùi cui gõ vô đầu mười người bắt ra khỏi hàng. Thấy tình hình vậy, tôi liền đứng ra:
- Không việc gì phải thử hết. Tôi đó. Tôi giết nó đó! Nó là thằng dâm ô đồng tính, khi đêm nó cứ bò sang chỗ tôi mó máy, nói hoài không nghe thì giết. Để cái ngữ ấy dơ dáy cả trại giam.
Thằng giám thị cười gằn một phát nữa rồi ra lệnh dẫn tôi về khu nhà bộ chỉ huy. Lúc xây lưng bước đi, tôi còn kịp nhìn thấy đôi mắt sâu hoắm của anh Đài dõi theo tôi khổ sở lắm. Tôi biết, lúc đó tôi chỉ nhìn trở lại một lần nữa thì dứt khoát con người có một thời ngang tàng kia sẽ bật kêu lên tự nhận tên mình để chia lửa cùng tôi.
Lên tới phòng tra hỏi của bộ chỉ huy nhà tù, chúng để tôi ngồi trơ khấc một mình cùng với đủ các loại dụng cụ kinh dị và mùi hôi máu bốc lên nồng nặc. Phen này chắc hết thoát chết! Tôi nghĩ vậy và cố dọn cho mình một cái chết đàng hoàng nhất. Mãi gần trưa mới có một thằng mặc áo thun đen, quần lính khật khưỡng đi vô. Dáng hắn loắt choắt, nghiêng lệch nhưng chân tay lại săn bện như cuộn bằng cáp. Tử thần nhà lao mà thiên hạ đồn đây rồi! Tôi thoáng thấy ớn lạnh trước cái nhìn nhọn hoắt lờ đờ của hắn, cái nhìn của một con thú chuẩn bị xé cắn con mồi.
Hắn ghé bộ mặt nhờn nhợt có những cái mụn lấm tấm đỏ – kiểu mụn của những con bệnh giang mai mãn tính – và cái miệng nồng nặc mùi hành tỏi vào sát mặt tôi.
- Lại là mày! Bây giờ chết được chưa? Hả mày?
- Được rồi! – Tôi trả lời thản nhiên và tự trong lòng cũng muốn chết thiệt để tránh đi những ngón đòn tra khảo cực hình.
- Há! – Hắn cười khăng khặc – Vậy nhưng mày vẫn sống, vẫn phải sống mới ngon chớ. Tụt quần ra! Mà Đ. mẹ! Mày làm cặc gì có quần mà tụt. Tháo cái khố dơ dáy kia ra!
Đến đây tôi không muốn kể lại tỉ mỉ mọi chi tiết làm gì. Mệt đầu lắm! Đại khái là nó và hai thằng nữa đóng đai tôi vào một cây cọc chôn giữa phòng. Sau khi trên người tôi không còn một mảnh vải nào hết, một thằng dùng dao cạo râu rạch thật ngọt một đường theo chiều dọc của bộ phận sinh dục tôi. Chắc nó thiến để cắt đường sinh nở? Tôi thoáng nghĩ và một chút buồn đau dội khẽ lên đầu. Nhưng không! Nó quăng con dao đi, thò tay vô một cái hộp sắt đựng nhóc nước và lôi ra một con đỉa trâu đen vằn vện. Con đỉa lúc này không no, không đói, mình mẩy nhúng nhính vừa phải, to chừng cái nắp cây viết máy. Bằng những động tác vừa thành thạo vừa thô bạo, chúng nhét gọn con đỉa đói vô bên trong cái vết rạch đang tứa máu trên bộ phận sinh dục của tôi. Rồi cũng bằng những động tác thành thạo không kém, chúng khâu vết rạch lại, nhốt gọn con đỉa vô trong luôn. Xong đâu đó chúng dang ra xa châm thuốc hút, để mặc tôi với con đỉa mở riêng một trận đánh với nhau. Chỉ khác, con đỉa được mặc sức tung hoành, còn tôi lại bị bó chân bó tay.
Gặp hơi máu lại nằm ngập trong máu, con vật bắt đầu uốn cong thân mình hút thức ăn. Nó hút nhoi nhói rồi mạnh dần lên. Mỗi lần cái vòi của nó hoạt động tôi lại cong rút người lại như có kẻ đang cầm kìm rút gân rút tủy mình. Máu vô bụng nó bao nhiêu, thân mình nó nở to ra bấy nhiêu, và càng nở to nó lại càng say sưa hút. Bộ phận sinh dục của tôi căng nhức không chịu nổi, thốn buốt lên tận óc, như hàng trăm cái cật nứa cứa xiết vô đó. Tôi xây xẩm mặt mày như có một tia lửa hàn xuyên thẳng vô háng, nóng giẫy và rát bỏng. Con đỉa ham mồi, càng phình to. Bộ phận sinh dục của tôi sưng u lên, méo mó và chuyển động… đến bây giờ tôi mới hiểu tại sao chúng nó lại có ý nhồi một con đỉa không no không đói vô trong tôi. Nếu đói, con vật sẽ yếu sức không tung phá hết mình được, nêu no, con vật sẽ trở lên cù lần chậm chạp. Cái bộ phận tội nghiệp của tôi đang bị xé rách toang mà lại chỉ rách từng phần, từng thớ thịt nhỏ, bên trong con đỉa vẫn cuộn lên cuộn xuống dữ dội. Tôi có cảm tưởng nó sắp bò ngược lên trên, vừa bò vừa phá vỡ tất cả các tế bào mạch máu, đứt tất cả các dây thần kinh; vừa bò vừa sinh sôi nảy nở ra hàng trăm hàng ngàn con đỉa nhỏ nhằm óc lão tôi bám tới… đau đớn và kinh khiếp tột độ, tôi ngất xỉu…
Khi tỉnh dậy, cái bản mặt nhờn nhợt của thằng “tử thần” đã kề sát bên tôi, tiếng nó khàn khàn:
- Tưởng mày anh hùng đảm lược mà lại chịu thua trước một con đỉa dơ dáy à? Mẹ kiếp! Anh hùng rơm! Mày thử mở mắt ra nhìn cái của quý của mày coi giờ đây nó ra cái hình thù gì?
Tôi lờ đờ đưa mắt xuống và khẽ rùng mình. Trời đất ơi! Cái vật ấy của tôi lúc này chỉ còn là một mẩu thịt nhăn nhúm và nhoe nhoét máu không còn nhận ra cái hình hài ban đầu vốn cũng đã quá thảm hại nữa. Nó tính triệt đường sinh sản của tôi, uất quá, tôi vặc luôn:
- Hèn! Giỏi thì cắt mẹ nó đi, bày đặt trò vè gì khốn nạn vậy?
- Hô! – Thằng cai ngục cười – Giết mày dễ quá và mày cũng đáng tội chết lắm rồi nhưng để mày sống với cái con c… dị dạng của mày giỡn chơi. Hy vọng ta lại tái ngộ trong lần vượt ngục sau hả, chú lính Quân giải phóng anh hùng sợ đỉa!
… Một giờ sau chúng thả tôi về. Mọi người đổ xô tới hỏi han, chăm sóc. Anh đài xin ở đâu được một ít thuốc đỏ và nước muối, vừa lúi húi rửa vết thương cho tôi vừa nói:
- Tôi từng này tuổi, chuyện vào sinh ra tử coi khinh mà thua chú. Tôi cảm phục chú. Từ nay tôi coi chú là em, anh em ruột thịt sống chết có nhau.
Mắt tôi nhòe đi vì nghĩa tình đồng đội đang phủ lên những vết thương của tôi một nàn hơi nóng ấm áp và rất đỗi thiêng liêng. Chính giây phút đó trong đầu tôi lóe lên một quyết định: Sẽ vượt nữa, và phải vượt được!
Tôi quyết định vượt vào ban ngày. Tức là đánh thẳng vào những giây phút bất ngờ nhất của đối phương. Đây là một đòn cân não năm ăn năm thua mà bây giờ nghĩ lại vẫn còn thấy rùng mình, vẫn không hiểu tại sao lúc ấy mình lại có thể thực hiện được.
Tất cả xuất phát từ hình ảnh thê thảm của người tù tâm thần nhảy rào giữa ban ngày để hứng đạn cho chết đi. Hình ảnh ấy ám ảnh tôi hoài, vừa thương cảm vừa hờn căm lại vừa ai oán. Rồi biết đâu một thời khắc rồ dại nào đó tôi cũng hóa điên mà tìm cách tự sát như con người bất hạnh kia? Vậy trong lúc còn tỉnh táo, trong lúc còn chưa điển hẳn, tôi phải ra đi. Tôi biết từ nay tôi đã là mục tiêu sống của kẻ thù, chúng cho chết lúc nào hay lúc đó. Tôi không muốn lấy cuộc đời chiến sĩ ra làm một thứ trò trơi tiêu khiển cho đối phương ngon lành như vậy. Tôi phải đi! Đi bằng ngay lối đi của kẻ tâm thần, lối đi mà đối phương không bao giờ lại có thể hình dung ra được đó chính là cách đi của người hoàn toàn tỉnh táo. Đơn giản vậy thôi.
Tôi bắt đầu quan sát. Các giấc trưa, trong khi anh em nằm thiêm thiếp thì tôi, dù cơn sốt nóng trộn lẫn cơn sốt rét khiến đầu nhức như búa bổ, vẫn cố giương mắt nhìn trân trân ra ngoài. Nơi đó, nắng đang đổ lửa xuống cảnh vật, có cảm tưởng cả khu rào kẽm gai trùng điệp, cả những chòi cu đứng chơ vơ ở vành ngoài khu rào cũng đang bị đốt nóng đỏ dần lên. Sân tù vắng tanh. Bọn quân cảnh chui hết vào bóng rợp để tránh nắng. Mấy tên giám thị thì lâu lâu đi qua đi lại săm soi nhìn vào trại một chút lấy lệ rồi lại mất hút đi đâu. Cả khu tù chỉ có mấy cái chòi cu là còn lính gác. Nhưng cũng gác uể oải lắm! Thằng thì ngáp, thằng thì lim dim gà gật, thằng lại giở sách báo ra coi để giết thời giờ. Chúng hoàn toàn tin rằng đây là thời điểm an toàn. Đường độc đạo ra vô đã có cự mã chắn kín rồi, mấy thằng tù dù có cánh cũng không thể lọt khỏi một thước rào nào chứ đừng nói đây là cả hàng chục, hàng trăm thước. Vả lại, chui rào ban đêm bọn tù còn chết như rạ cả ra đấy, huống hồ lại là ban ngày. Có mà nằm mơ! Cho nên cái thằng gác ngồi ở hướng đối diện với tôi yên trí giở sách ra coi. Nó coi sách gì? Trinh thám ba xu, kiếm hiệp kỳ tình hay dâm ô đồi trụy cũng kệ cha nó. Miễn là nó có coi. Coi nhưng cứ sau một trang hắn lại ngóc mặt lên lờ đờ quan sát một vòng. Quan sát không thấy gì, hắn lại chúi đầu xuống coi tiếp. Cứ thế, cái đầu hắn ngẩng lên gục xuống theo một quy luật định sẵn đúng bằng chiều dài trang sách. Ước tính khoảng ba phút! Chỉ cần mươi mười lăm cái ba phút đó thôi là…
Đến đêm tôi tính rủ anh đài cùng hành động nhưng bò đến nơi thấy ảnh đang nằm rên hừ hừ nên đành thôi. Chuyện này, ngoài ý chí và sự liều mạng ra, nó còn đòi hỏi một thể chất tối thiểu, đang bệnh đau như ảnh thì không thể nào thực hiện nổi. Nhưng tôi cũng không muốn ra đơn chiếc mặc dù hành động một mình trăm bề thuận lợi hơn.
Tôi bò đến cậu Mơ, tuổi trạc bằng tôi và tính tình cũng khí khái cương trực lắm.
- Bậy nào! – Chưa nghe tôi nói hết, Mơ đã quạu lại – Muốn tự sát à? Ai lại vượt rào giữa ban ngày? Có họa là thằng rồ.
- Im nghe tớ nói đã – Tôi ghìm đầu Mơ sát vào miệng mình – Thế mới bất ngờ. Tớ nhìn kỹ rồi, lần nào cũng như lần nào nó không thay đổi đâu, chỉ cần cậu nhanh nhẹn và làm đúng như tớ.
- Khoan đã – Hơi thở của cậu ấy dồn lên nặng nề – Tính toán cho kỹ đã. Tại sao ta không chui rào ban đêm?
- Không được! Kiểu chui rào này chúng đã quá quen thuộc và biết cách phòng ngừa rồi, khó lắm! Chỉ còn cách chọc vô cái khe hở chủ quan trong đầu óc chúng thôi. Cậu không nhớ tháng trước, khi cậu Thận định lợi dụng chiếc xe chở củi vô bếp để chui xuống gầm nó theo ra ngoài ai cũng cản à? Vậy mà cậu ấy cứ chui và cứ thoát. Thủ đoạn tác chiến đó.
- Biết rồi! Nhưng ông là dân biệt động, lại có võ, ông có thể vượt rào dễ dàng, còn tôi, tôi ngại…
- Không ngại cái gì hết! Mà sao lại đá cái chuyện võ vẽ vô đây. Không có một thứ võ nào, thứ biệt động nhà nghề nào thay cho cái táo bạo trong đầu này này. Tớ cam đoan ăn chắc nếu cậu cứ làm đúng như tớ, đừng nửa đường ngã lòng.
- Nhưng… Ra được ngoài rào rồi thì sao? Trời vẫn còn sáng mà – đến đây giọng của Mơ đã có phần xuôi xuôi.
- Còn sáng thì mình ém lại. Cây cỏ lùm bụi lúp xúp thiếu gì.
- Ờ…! Để mình suy nghĩ thêm đã… Nghen!
- Cứ nghĩ đi! Nhưng sáng mai là hạn cuối cùng phải trả lời cho mình. Cậu không đi, mình cũng cứ đi. Nhớ kỹ đó. Tớ đã báo cáo kế hoạch này với ông Sáu Long rồi.
- Ông nói sao?
- Tất nhiên là nhất trí.
- Ờ… để mình nghĩ… Nghĩ thêm.
Để mặc anh bạn nằm đó với sự trăn trở thêm thắt chắc là phải kéo dài suốt đêm của mình, tôi bò về chỗ và nhắm mắt rà lại toàn bộ các chi tiết cần hành động.
… Sáng hôm sau, trước giờ đi làm cỏ, Mơ đến bên tôi, mặt mày trông hốc hác hẳn đi nhưng đôi mắt đỏ ghèn dấp dính lại cháy lên:
- Đ. mẹ! Tớ quyết định rồi! Đi!
Tôi lén bóp chặt tay Mơ.
Buổi sáng hôm đó trôi qua quá trậm, tưởng như lão mặt trời rực đỏ không chịu chuyển dịch một tí ti nào hết. Nhưng rồi cái gì cần đến cũng đến. ăn uống bậy bạ xong, tôi và Mơ nháy nhau thằng trước thằng sau ra cầu tiêu ở sát chân rào giả đò đi cầu (thời gian này do ta đấu tranh nhiều và cũng do Hồng thập tự quốc tế can thiệp nên chúng tạm thời dời cầu tiêu ra khỏi phòng để đối phó). Hành trang đi đường kiểm lại thật nghèo nàn: Một chiếc quần lót rách tơ tướp mặc trên người, một bộ lấy dáy tai tự làm để giết thời gian trong tù, một con dao con bằng quai cà mèn và mấy viên thuốc kháng sinh anh em nhường cho, thế thôi.
Ngồi trong nhà cầu hôi thối nóng như rang, tôi phóng nhanh mắt ra xung quanh. Mọi thứ vẫn không thay đổi: Thằng lính gác trên chòi đang đang cắm cúi đọc sách, thằng giám thị mất hút trong khu nhà bếp, mấy tên quân cảnh đang chúi mũi vào bàn cờ vạch trên đất của anh em tù ở sau hè theo kế hoạch giữ chân của anh Sáu nhằm hỗ trợ cho cuộc vượt ngục của hai đứa tôi. Ngon rồi! Tôi hỏi nhỏ sang cái cầu kế bên:
- Xong chưa?
- Có ỉa đâu mà xong – Giọng Mơ hồi hộp.
- Vậy, chuẩn bị nghen! Khi tớ vọt là phải vọt theo liền. Hít thở cho sâu, động tác chính xác không khua động. Chuẩn bị…
Vừa kịp thằng gác cúi xuống, tôi luồn qua chân cầu tiêu rồi bật nhanh qua hàng rào thứ nhất. Đây là loại rào bùng nhùng, không cao lắm nhưng cồng kềnh ba vòng xếp chồng lên nhau, phải dùng tay bám cọc sắt rồi lăng mạnh người qua kiểu vận động viên nhảy sào. Và không ngờ chúng tôi đã lăng qua rất nhẹn. Kỳ lạ thiệt! Sức lực trong tù tưởng đã kiệt cùng nhưng vẫn còn ẩn chứa một tiềm năng quật khởi dồi dào đến thế, cái dồi dào mà bây giờ dù đã khỏe mạnh đàng hoàng, có bắt nhảy lại cũng không nhảy được.
Do tính toán kỹ địa hình địa vật, nên lúc ấy những lùm cỏ ba ngạnh mọc lúp xúp ngang bắp chân đã che kín được thân thể chúng tôi, đủ để tên gác có rời mắt khỏi trang sách nhìn lên thì cũng chỉ thấy quanh mình toàn một màu thép gai và cỏ lác ảm đạm.
Chắc anh sẽ hỏi: Vậy còn mìn trái chúng gài dày đặc và chó ngỗng chúng thả tùm lum thì sao? Dạ! Rất đơn giản, bọn tôi có quan sát và tính toán cả rồi. Chó ngỗng ư? Không khi nào chúng thả ban ngày vì làm gì có tù nào dám chui ban ngày, còn mìn trái? Chúng chỉ tập trung trong ruột rào chứ khoảng trống giữa các lớp rào chúng để trống để còn có thể cơ động đi lại khi gặp tình huống.
Đảo mắt lờ đờ một vòng không thấy gì, tên gác trên chòi lại tiếp tục cúi xuống. Nó sẽ lại cúi xuống được ba phút… ôi chà chà! Lúc ấy tôi lại thầm rủa mấy cha văn sĩ sao viết ít thế, đáng lẽ mỗi trang nhét chữ cho ken sít thì có phải tôi được năm phúc không? Chúng tôi sẽ đánh ngay vào cái trang sách ba phút đó để vượt tiếp hàng rào thứ hai. Đây là hàng rào hình mái nhà. Thấp ngang bụng thôi nhưng bề mặt dàn ra đến trên ba mét, chuyên đóng vai trò làm vật cản xung phong. Hàng rào này vượt khó. Chui ư? Không được, rất chậm, chưa đâu vô đâu thì đã hết ba phút rồi. Vẫn chỉ có thể dùng cách bám cọc sắt lăng người (rất may còn có cọc sắt, nếu không coi như hoàn toàn thất bại). Nhưng không lăng một lần qua được. Lần thứ nhất tung người đến khoảng giữa, chọn một ô rào thoáng rộng nhất thả chân xuống rồi tức khắc lại bám tiếp cọc nhún chân lăng lần thứ hai ra hết lớp rào. Tôi thực hiện các động tác này ngọt hơn mặc dù bàn chân và ống chân chà vô gai rào rớm máu; còn Mơ, do sức yếu nên khi lăng vô giữa, bàn chân to bè thả không gọn vào mắt cáo rào gây một tiếng động reng reng khá to. Nhưng thật may, cậu ấy lại lấy đà nhảy tiếp được. Vùi mặt trong cỏ, hai đứa hồi hộp nhìn lên… Nghe động, tên gác nhớn nhác dòm ngay xuống chỗ chúng tôi, nòng súng rà qua rà lại ngo ngoe như đầu rắn hổ mang, nhưng hồi lâu không thấy gì, chắc nó đoán con chồn, con sóc rung dây hoặc tiếng rung reng cũng như cái bóng gì đó nháng ra dưới mắt vừa rồi chỉ là ảo ảnh nên hắn lại ngáp một cái rõ to, tiếp tục cúi xuống. Hú hồn hú vía! Hai thằng nhìn nhau cười méo xẹo và nghiền chặt răng tiếp tục hành động.
Hàng rào thứ ba là hàng rào tường cao quá đầu người. Hàng rào này không thể bám cọc tung người qua được, cũng không thể loay hoay trèo từng nấc. Không sao! Tôi đã có cách qua nhiều đêm trằn trọc suy nghĩ. Hơi nhồm người chạy gần vài bước lấy đà, tôi chụm hai tay bật người lao đầu qua một lỗ rào bằng hai bàn tay theo cái kiểu người ta bay qua vòng lửa trong rạp xiếc hay cái lối trai gái làm động tác blông-nhông xuống nước. Cũng ngọt, chỉ phải cái hai bên nách và đùi rách nát. Rách thế chứ rách nữa, kể cả giò cẳng bị tiện đứt cũng cứ nhảy. Cưỡi lưng cọp rồi anh ạ! Chỉ còn một cách là sống chết cũng nhào lên phía trước.
Chạm đất, tôi cuộn người lăn một vòng lấy lại cân bằng rồi ngoái đầu lại. Mơ chuẩn bị nhảy. Tôi thoáng thấy hai mắt cậu ấy bạc đi vì lo lắng. Không sao! Tôi đã dự kiến trước nên quả quyết phẩy tay ra hiệu. Mơ lao qua… Vừa thấy cái đầu lởm chởm và hai cánh tay sần sùi mụn ghẻ của cậu ấy nhoi ra khỏi lỗ rào bên này, tôi vội quỳ xuống đưa hai tay lên làm trụ đỡ cho cả thân mình choắt cheo kia có điểm tựa mà chuồi qua nốt. Vẫn chưa hết nửa trang sách. Lạ thiệt! Nằm co tròn trong đám cỏ, hai thằng thi nhau thở để mặc cho máu me chảy ròng ròng… Kìa! Nó lại ngẩng lên rồi… đó! Nó lại sắp cúi xuống…
Cứ thế, bằng khoảng cách một trang sách, chúng tôi lặng lẽ vượt từng lớp rào. Mười sáu lớp tất cả. Mỗi lớp là một công trình, một thử thách. Nếu có một ai đó nhìn ra thì sẽ thấy giữa cái nắng chói chang 12 giờ trưa bỗng dưng lại xuất hiện hai cái bóng dị dạng tung lên rồi lại hụp xuống trong biển rào gai như ma quỷ, lại như hai vệt nắng nhếnh nháng mỗi lúc mỗi đỏ lòm ra…
Sau gần một giờ đồng hồ đùa giỡn với tử thần, chúng tôi đã ra khỏi hàng rào cuối cùng, trần truồng và hoàn toàn kiệt sức, nhìn nhau mà không còn nhận ra nhau là người nữa, hai cái giẻ thịt vấy máu thì đúng hơn. Những mảnh giẻ cuối cùng đã giắt lại trên 16 lớp rào rồi.
Nằm nghỉ hẳn nửa tiếng trong bụi sim cho hoàn hồn, hai đứa tiếp tục mở cuộc hành trình thứ hai không kém phần gian khổ đi tìm Cách mạng.
Tôi nói điều này anh có cười cho là duy tâm thì kệ anh nhen! Trước lúc vượt rào, khi còn ngồi chồm hổm trong hố xí, tôi có cầu nguyện thần phật đàng hoàng đó. Cả vái nữa. Tôi nói: “Hỡi hồn thiêng sông núi, hỡi thần phật bốn phương hãy phù hộ cho con vượt qua được sự khổ nạn gian nguy này. Nếu sống, con nguyện sẽ làm người ngay thẳng, sống có trước có sau, sống vì bạn vì bè… Hãy phù hộ cho con!”. Vậy mà sống đó. Phải chăng thần phật đã động lòng trắc ẩn mà giúp chúng tôi được sức lực và lòng can đảm vượt qua hết 16 hàng rào tử địa.
Lúc đó tôi tin. Còn lúc này, trước khi dấn thân vô chặng đường mịt mù một sống hai chết đi tìm Cách mạng, tôi lại khẩn cầu nữa:“Hỡi thần phật bốn phương! Thần phật đã thương hai đứa tôi thì thương cho trót. Các vị như thần cao cả hãy phù hộ cho chúng tôi đi đúng hướng, đúng đường, không bị lạc, không lọt vô tay kẻ ác để chúng tôi mau chóng đến được với những người anh em cùng chí hướng đang lẩn quất ở đâu đây. Nếu được vậy, hai đứa tôi lòng thành xin tế một…”. Khấn đến đây, tôi giật mình. Năm 1967 khi còn ở ngoài, trước khi vô trận đánh ác liệt không cân sức, bọn tôi cũng xin tế một con heo lòng thành nếu thắng lợi nhưng ở ngoài, một con heo có thể xoay xở được, còn ở đây, tế vậy mà không có khác nào nói xạo, thần phật đâu tin, mà dù có kiếm được thì cũng không nên hoang phí, chuyện chi cũng một con heo, nghèo tàn nghèo mạt còn gì. Anh cười hả? Ừ! Cái đầu óc tôi lúc ấy lẩm cẩm vậy đó nhưng mà thực cái bụng. Thực bụng dù rộng hay hẹp, thần phật cũng không nỡ quở. Tôi bèn hạ giọng: “…Nếu được vậy, hai đứa tôi xin lòng thành tế một cái… đầu heo!”.
Vái trời vái đất, vái đường vái núi xong; chúng tôi bứt lá lau qua máu trên người rồi nhằm hướng núi lên đường.
Chuyện dài dòng lắm, nếu viết anh có thể viết được cả một quyển riêng về chuyện này. 16 ngày cả thảy kia mà. Tức cười! Như là sự sắp xếp cố tình của tạo hóa. Tôi ở tù 16 tháng, vượt lăng 16 hàng rào và lạc rừng cũng đúng 16 ngày. Ý quên! Tính những trận đòn nhừ tử thì tôi cũng chịu 16 trận thừa sống thiếu chết nữa (?). Tôii chỉ kể vắn tắt, anh nghe chơi.
Đi lạc trong rừng đến ngày thứ bảy, chúng tôi chưa kiệt sức vì đói nhưng kiệt sức vì tuyệt vọng. Đi hoài, đi mãi mà sao vẫn chỉ thấy rừng là rừng. Rừng càng đi càng rậm rạp, càng bước tới càng không thấy có đường ra. Rất may nhờ có sự chỉ dẫn của mấy người bạn tù từng trải mà hai đứa còn kiếm được thứ nhét vô bụng. Mấy ảnh dặn: ở trong rừng, bất cứ lá gì màu đỏ, non, không có lông đều ăn được. Lá đỏ mà có lông thì là độc, tuyệt đối không dính vô. Về trái cây, trái gì nhấm nhấm thấy đắng, bỏ ngay. Trái gì nhấm thấy ngọt, chua là tốt. Còn các loại cỏ, cua, cóc, ếch nhái, kỳ nhông, kỳ đà… ăn được ráo. Vậy là chúng tôi cứ theo đó thi hành, bảy ngày bảy đêm nhét đủ các thứ lá đỏ không có lông, trái nhấm chua, ngọt… vô cái dạ dày sôi òng ọc để khỏi gục xuống. Hai thằng phân công nhau: Thằng giỏi đường lo tìm đường, thằng giỏi lá lo kiếm lá, thằng nào tập trung lo việc thằng đó không được dẫm chân chèo lộn xộn.
Sang ngày thứ tám, hai đứa mò đến được một khu chùa, bên ngoài có biển đề “Hồng Long Tự” mừng quá! Có chùa là có dân, có dân là có đồ ăn, có dân là sẽ tìm ra được tất cả (sau này mới hay đó chính là chùa Suối Đá, thuộc địa phận thị trấn Dương Đông).
Hai thằng rủ nhau xuống suối tắm rửa cẩn thận, lấy lá lấy lẩu buộc chằng che đi cái gì cần che trên thân thể để nhà chùa khỏi tưởng là quỷ sứ dưới địa ngục hiện về rồi khép nép đi vào sân.
Chùa này sư thầy đã chết, chỉ còn bà Tuyết, pháp danh Diệu Ý và cô Diệp Thị Hoa, pháp danh Diệu Hiền ra tiếp. Ban đầu họ sợ nhủn người, mồm miệng líu ríu nói không ra lời. Sau thấy chúng tôi tội tình quá, cứ dán mắt đăm đăm vô buồng chuối chín trên bàn thờ, mặt mũi lại không tỏ vẻ gì độc ác cả nên họ chạnh lòng mà mở cửa cho vô gian trong. Hai bà hỏi chúng tôi có đói không? Hai đứa gật đầu. Họ nấu cho mỗi đứa hai lon gạo ăn với nước tương, chớp mắt một cái là hết vèo. Họ nấu thêm một ít nữa. Cũng hết! Nói đùa, giá lúc đó họ có nấu cho mỗi thằng chục cân gạo, nghĩ bụng chắc cũng hết. Nhưng bảo nhau kịp dừng lại. Có đói đến chết cũng phải giữ tác phong người Cách mạng, đừng để nhân dân nhầm mình với thổ phỉ mà coi khi. Vả lại, mỗi cái bụng cũng chứa cả chục chén cơm lùm lùm rồi còn gì.
Ăn xong chúng tôi mới rỉ rả nói thực mọi chuyện, tự xưng mình là ai và nhờ nhà chùa giúp đỡ chỉ hướng đi đến với Cách mạng. Cả hai bà lo lắng nhìn nhau, trong cái nhìn đó có cả tin lẫn ngờ, lẫn cả phần sợ hãi. Họ chỉ hướng lung tung không có căn cứ cụ thể gì hết. Họ nói chỉ nghe đồn mang máng mạn Bắc đảo có Cách mạng, các ông cứ đi về đó. Rồi họ nấu thêm cho chúng tôi mỗi người một lít gạo, nắm lại, gói ít muối tiêu và bọc nải chuối đưa cho chúng tôi làm lương khô đi đường. Lát sau, họ còn đưa thêm cho chúng tôi mỗi đứa mượn bộ quần áo nâu sồng kiểu nhà chùa, một cái xoong con, hộp quẹt, con dao phát rừng nữa.
Chúng tôi đành cảm ơn lòng tốt nhà chùa rồi lại khăn gói thất thểu đi tiếp, lòng dạ hoang mang không biết đi đâu, về đâu bây giờ? Có cái lạ là con chó trắng của nhà chùa cứ bịn rịn đi theo chúng tôi suốt đêm như đưa tiễn, lại như thầm dẫn đường. Nó không kêu, không sủa, cứ đi lầm lũi, dụ sao cũng không quay trở lại. Gần sáng thấy lòng vòng hoài vậy không ổn, tôi phải làm như giận dữ cầm cây gậy dứ dứ nó mới kêu tiếng một rồi chạy lộn trở về. Nhìn con mắt nó buồn lắm! Tôi nghĩ bụng, hay là nó báo điềm gở nhưng không dám nói sợ núng lòng đồng đội.
Qua ngày thứ chín. Lòng dạ bắt đầu thấy bất an và vô cùng nản chí. Lặn lội gần chục ngày thừa sống thiếu chết chỉ để khao khát được gặp dân, nay gặp dân rồi lại như chưa gặp gì cả, lại thấy thất vọng hơn, cuộc hành trình dò tìm lại càng mờ mịt mông lung. Bấm đầu ngón tay biết bữa ấy là ngày mười lăm tháng chín. Tôi ôm chặt lấy Mơ lúc ấy đang lên cơn sốt rét rung cả đệm lá rừng: “Bà con chưa thật tin mình, hiểu mình nhưng đối xử tốt với mình, vậy là được rồi. Vậy là có thể hy vọng rằng lực lượng cách mạng vẫn có, vẫn đang còn lẩn quất đâu đây. Cứ đi thôi, nhằm rừng xanh mà đi, đi mười ngày không gặp thì đi hai mươi ngày… ba mươi ngày… một trăm ngày… Dứt khoát sẽ gặp. Và cùng lắm không gặp được thì hai đứa tạm làm người rừng ăn trái cây, củ lá ít năm chứ nhất định không ra đầu giặc, không quay trở về nơi chốn cũ“ Mơ nhìn tôi rất lâu bằng đôi mắt sốt rét lờ đờ rồi lặng lẽ gật đầu. Tôi trào nước mắt ra vì thương bạn, thương mình. Chính tôi là người đề xướng việc này, tôi là người động viên Mơ ra, nay cậu ấy có mệnh hệ gì thì tôi biết ăn nói ra sao? Một nấm mồ nho nhỏ nằm ẩm ướt giữa rừng, ngày đêm làm mục tiêu cho đàn mối, lũ kỳ đà đến bới đào đục khoét… Hình ảnh hiu hắt đó dội mạnh vô lòng tôi. Tôi cũng đã yếu sức lắm! Những đòn tra tấn ở trong tù lựa lúc này trội phát, hè nhau ngóc dậy hành hạ tôi. Tôi nói với Mơ cũng là nói với chính lòng dạ đang lung lay của mình. Hình ảnh ngôi chùa với cảnh sân vắng, mái buồn, thềm đá rêu phong… thấm buốt vô suy nghĩ của tôi. Anh cũng là lính, có bao giờ anh, trong một đêm hành quân vô tình đi qua một căn chòi trên rẫy, một mái lá xiêu xiêu, một chiếc cầu ao bắc vội; lòng tự dưng thèm thuồng được rũ bỏ tất cả, được ở lại làm một con người sống âm thầm trong căn chòi ấy, mái lá ấy và chiếc cầu ao ấy không? Tôi có đó. Giá bữa ấy hai nhà sư có lời mời chúng tôi ở lại làm chân quét chùa, trông coi vườn tược để ngày ngày được bầu bạn với cỏ cây, với sự tĩnh lặng thì có lẽ tôi sẽ ưng thuận ngay. Xét đến cùng, cuộc đời con người là cái gì mà khổ đau quá thể, thù hận, chém giết rồi tù đày… Sẽ dẫn đến đâu? Một khu chùa, một chén cơm với tương cà, một ánh sớm mai với chim hót và một chiều hôm gió nhẹ lao xao… Phải chăng toàn bộ lý do để sống ở đời cũng gói gọn trong ý nghĩa ấy?…
Đó! Vô ngày thứ chín, trong đầu tôi nó lại nảy sinh những trạng thái tình cảm như vậy, không biết có yếu đuối quá không hay đó chính là chuyện ngàn năm vĩnh cửu muôn đời bao giờ cũng đúng của kiếp người? Ấy vậy nhưng cái phần người thứ hai, phần người thù hận, phần người khao khát hành động, khao khát được tự do trong tôi lại vẫn buộc tôi hoàn tất ráo riết hành vi thoát ngục của mình. Trong đó lại xen vào cả cái phần người siêu hình tin ở tâm linh thần phật nữa. Buổi sáng, tôi đứng quay mặt về hướng đông, hướng mặt trời mọc để, xin lỗi anh, nghiêm trang đái một bãi. Tôi tin rằng, nước đái sẽ đuổi xua con ma lạc đường lạc lối chạy đi. Dìu dựa vào nhau, chúng tôi lại tiếp tục cắt rừng băng tới hướng Bắc đảo.
Đi được một đỗi, chúng tôi phát hiện ra dấu vết bọn biệt kích để lại trên một vạt cỏ trống: Cơm sấy, dấu giày đinh, than củi còn đang ấm nóng và cả một vốc củ mì luộc dở. Khốn khổ! Tôi bỗng bật cười! Lính mà cũng phải ăn củ mì ư? Chúng cũng đói khát chẳng kém gì chúng tôi ư? Thì ra làm thằng lính, ở bên nào cũng cơ cực cả. Hai thằng vơ đám củ mì, cơm sấy nhét tuốt vô ruột, làm một bụng nước suối thẳng căng rồi lần mò đi nữa. Tất nhiên là đi chếch với hướng đi của đám biệt kích để đừng đụng nhau.
Đi vậy được hai ngày. Ngày thứ mười một, chúng tôi đụng một căn nhà ở sát mé rừng. Quan sát thấy nhà này nghèo: mái lá, tường đất, không vườn không tược gì hết, nhìn giống một căn tròi trông rẫy hơn là một cái nhà. Chúng tôi quyết định vào. Bởi lẽ, bằng kinh nghiệm tôi hiểu rằng, nhà nghèo bao giờ cũng là nhà có người đi cách mạng hay thân cách mạng. Bọn giàu sang có khi nào chứa chấp chúng tôi!
Nhưng mọi lý thuyết không phải bao giờ cũng hoàn toàn đúng. Giống như tình cảnh trong chùa bữa trước, nhà có hai chị em thì cậu em vừa nhác thấy chúng tôi đã trốn biệt, còn cô chị, một cô gái gốc Hoa, khá đẹp lại tỏ ra hết sức sợ hãi. Thấy thái độ ấy, tôi đành nói thẳng sự thật. Nói chung trong những hoàn cảnh trớ trêu, cứ nên nói thật, nói dối vòng quanh có khi họ nghi hơn, đâm lỡ việc.
- Nếu cô ngại – Tôi ôn tồn nói, thì cho anh em tôi xin một bữa cơm rồi đi luôn. Được không?
- Dạ… Nhà cháu… Không còn gạo ạ!
Tôi lắc đầu với vẻ buồn lòng vì hai nghĩa. Cỡ chạc tuổi nhau mà xưng hô vậy chắc mặt mũi tôi biến dạng qua những năm tháng tù đày và lang thang chục ngày trong rừng dữ lắm. Thứ hai: Hết gạo thật hay cô ấy nhẫn tâm muốn đuổi chúng tôi đi lẹ chừng nào hay chừng đó cho rảnh nợ?
Có lẽ thoáng bắt gặp được nét mặt tội tình chân thật ấy ở tôi, cô gái chợt dịu giọng:
- Hết gạo… Nhưng nhà còn nồi cá… có nhiều… hai chú ăn đỡ.
Nói rồi, cô gái đi xuống bếp mang nồi cá lên. Cái nắp nồi vừa được mở, cả hai đứa đã muốn nhểu nước miếng: đầy tú ụ trong nồi, mười khúc cá nằm xếp lớp béo ngậy, cái vây cái vi nở phồng lên…
- Hai chú ăn đi… ăn hết đi! Ở đảo chỉ thiếu gạo chứ không thiếu cá.
- Cám ơn!
Chả khách khí gì, chúng tôi ngồi xuống chén sạch trơn nồi cá kho nhạt, vừa nhai vừa ước ao giá bây giờ có một chén cơm xen vào thì ăn xong có chết lăn quay ra cũng hả một đời.
Mơ nói nhỏ vô tai tôi:
- Chuồn đi! Coi chừng thằng nhỏ hồi nãy đi báo lính thì chết cả nút.
- Ừ nhỉ! – Tôi ngớ ra rồi quay qua cô gái – Cô chỉ giúp chúng tôi đường về khu giải phóng được không?
- Khu giải phòng nào cơ ạ?
- Tức là khu có anh em cách mạng ở đó.
- Cháu… cháu không biết. Không biết thiệt mà!
- Lạ kỳ – Tôi bỗng nặng giọng - hòn đảo to bao lăm mà hỏi ai cũng không biết Cách mạng nằm ở đâu cả. Thôi được rồi, cô không chỉ, chúng tôi cũng cứ đi. Nếu chẳng may có bị bắn chết thì oan hồn chúng tôi sẽ hiện về bắt tội cô đó.
- Nói vậy tội nghiệp cháu mấy chú ơi! – Giọng cô gái đã có nước mắt – Chị em cháu mải lo mần ăn còn không đủ sống, công sức đâu đi lường gạt thiên hạ.
Chúng tôi nhìn nhau… Cô gái này nói thật. Nhìn đôi mắt, khuôn mặt kia quyết không thể là là người xấu. Tất cả chỉ do kẻ thù ở đây kìm kẹp và lộng hành lắm thì người dân mới bị o ép như đui như điếc thế này.
Chào cô gái, chúng tôi lại đi mà trong bụng lơ ngơ không biết đi đâu cả.
Đêm thứ mười hai thì chúng tôi đụng một con lộ rộng, nằm ép tai xuống mặt lộ nghe thấy tiếng xe chạy, cả tiếng máy bay lên xuống nữa. Đây là đâu và con lộ này là con lộ gì? Lúc đó tôi hoàn toàn không hay biết, bụng dạ cứ đinh ninh rằng hai đứa đã đặt chân tới vùng Bắc đảo. Nhưng Bắc đảo, nơi hy vọng có căn cứ cách mạng lại lắm ô tô quân sự của chúng chạy rì rì suốt đêm như vậy ư? Chả có lý! Sau này mới biết hai đứa đã nằm ở cách Dương Đông không bao xa. Và con lộ này là con lộ nối liền Hàm Ninh với thị trấn. Còn lúc đó, giữa màn đêm thanh vắng, nằm trên mặt lộ mát lạnh nghe gió xào xạc thổi bốn hướng mà thèm một giấc ngủ xoải chân, xoải tay không lo lắng, không hãi sợ gì quá!
Mơ bảo ban đêm chắc an toàn, hai đứa cứ kéo thẳng đường lộ mà đi, ngán chui rúc rừng rú quá rồi! Tôi gật đầu. Lần đầu tiên sau bao nhiêu ngày làm thân giun, thân dế, đêm nay hai chiến sĩ giải phóng quân vừa thoát ngục ung dung bước trên mặt lộ như bước trên chính mảnh đất thoáng đãng của ông cha mình.
Thấy một ánh đèn le lói bên đường, chúng tôi rủ nhau ghé vào. Đó là nhà của một ông già người Tàu. Vừa nhìn thấy chúng tôi, ông đã vội đóng ập cổng lại, bỏ đi vào nhà trong gọi thế nào cũng không ra nữa. Gọi thêm, chỉ có con chó lông đen sủa vang trả lời. Cay đắng! Cay đắng thật tình anh ạ! Lúc đó tôi tan rã cả người trong một suy nghĩ nhức nhối: Thân phận thằng lính bỏ thây ngoài trận mạc, tàn tạ trong lao tù để rồi được cái gì? Hay là chỉ để đổi lấy cái ập cửa ghẻ lạnh của nhân tình thế thái kiểu này? Buồn quá! Hai thằng cúi đầu lầm lũi bước tiếp…
Gần sáng thấy một mái nhà xiêu vẹo ẩn kín trong lùm cây, hai thằng đạp cửa kêu nữa. Thử đánh canh bạc liều. Nhà này mà cũng ghẻ lạnh thì coi như bỏ luôn, từ nay tốt nhất là chỉ có chui nhủi vô rừng mà tìm. Thật bất ngờ, người mở cửa lại cô gái gầy gầy đêm hôm trước. Thì ra đi đứng ngớ ngẩn thế nào, sau hai đêm lặn lội tưởng đã đi được xa lắm, chúng tôi lại trở lại ngôi nhà này.
Sau khi nghe kể, cô gái chớp mắt một hồi rồi nói với cậu em trai chừng mười bốn, mười lăm tuổi đang ngồi trân mắt nhìn hai ông khách như ở hành tinh khác đến:
- Em dẫn mấy chú xuống hầm, chị đi nấu cơm. Giờ này để mấy chú đi nữa, đường xá không biết, chắc rơi vô tay mấy ông quốc gia thôi.
Cậu bé gật đầu, dẫn chúng tôi ra vườn… Cơm nước xong cô gái nói:
- Đêm nay hai anh (chắc cô đã nhận ra tuổi thực của chúng tôi qua khuôn mặt râu ria) cứ ngủ ngon, an toàn không có sao đâu. Sớm mai tôi sẽ dẫn hai anh em ra ém ở bìa rừng. Khi nghe tiếng tù và hãy ra. Sẽ có người dẫn hai anh đi.
Cô gái bỏ đi rồi, Mơ lo lắng nhìn tôi:
- Coi chừng ta sa vô bẫy?
- Phải tập tin vào con người đi – Tôi nói – Mà dù có sa vô bẫy thì đã sao, thằng lính phải chấp nhận mọi hoàn cảnh. Nhưng khỏi lo đi! Nhìn vô mắt cổ, tao thấy tin hoàn toàn. Ngủ đi, mai lấy sức.
Quả thật lòng tin của tôi là có cơ sở. Sớm mai, cô gái gọi chúng tôi dậy sớm, bưng ra một xoong cơm nghi ngút khói với cá kho bắt ăn hết. Tôi bảo nên nắm vài nắm đi đường, cô lắc đầu cười. Ăn xong cô dẫn chúng tôi ra bìa rừng, ngồi khuất mình ở một lùm kín rồi quay trở lại sau khi chúc hai đứa thượng lộ bình an. Nhìn theo cái dáng con gái gầy gầy trẻ trung khuất dần sau vạt lá, tôi chợt thấy một chút bâng khuâng lạ lẫm nhen lên trong con tim tù ngục của mình…
Ngồi được một lát thì vang lên một tiếng tù và ở bìa suối. Hai đứa đi ra. Và thêm một cái bất ngờ: Người thổi tù và kiêm dẫn đường không phải ai khác ngoài cậu em đã bỏ trốn khi nhìn thấy chúng tôi đêm hôm trước.
Bằng những bước đi thành thạo, chỉ trong vòng hai tiếng cậu bé đã dẫn chúng tôi đến với Cách mạng ngon lành. Người đón chúng tôi đầu tiên là anh Ba Chanh, cán bộ của huyện đội. Anh nói:
- Tối hôm trước, thằng nhỏ vô báo có hai chú. Tôi kêu nó dẫn ra nhưng tới nơi, hai chú đi mất tiêu rồi. May quá chưa chui đầu vô hàng rào địch. Thôi, xuống suối tắm giặt, lấy quần áo đây mà thay rồi lên ăn cơm. Nghỉ đã, nghỉ ít ngày cho khỏe rồi ta tính. Có muốn ở lại cùng đánh giặc cho vui thì nhận đại một cây súng, hở?
Cả hai chúng tôi trào nước mắt. Thế là trải qua bao ngày cực nhục, hôm nay chúng tôi đã được trở về gia đình cách mạng thân yêu của mình, trở về trong tiếng nói ấm áp yêu thương của những đồng đội như anh Ba Chanh, như chị em cô gái tốt bụng vùng địch hậu.
Chẳng cần suy nghĩ nông sâu, cả hai đứa chúng tôi đều tình nguyện ở lại bổ sung vào lực lượng võ trang của huyện đảo, hoạt động tại đặc khu Hàm Ninh với nhiệm vụ nắm địch và đưa đón anh em mình từ trong ngục tù vượt ra.
Cô gái đó tên là Phùng Quế Anh, người gốc Hoa, vốn là cơ sở cách mạng của ta, cậu em trai là giao liên đã từng âm thầm đưa đón bao người tù trở về với căn cứ. Được nghe nói lại rằng, từ những năm 1953, khi ba chục ngàn quân Tàu Tưởng xuống tàu rời khỏi đảo, lại có những người trốn ở lại lấy vợ sinh con an cư lập nghiệp ở đây. Phải chăng chị em cô gái này cũng là dấu tích mai hậu của những cuộc ở lại đó? Biết đâu đấy, cuộc đời chả có gì là không có thể xảy ra. Sau này, khi hòn đảo được hoàn toàn giải phóng, tôi có tìm gặp lại ngôi nhà ấy, nhưng chỉ còn lại mỗi người chị, cậu em trai không rõ lý do nào mà vượt biên theo bạn bè và hiện nay đang ở Mỹ… Cuộc đời kỳ cục vậy đó anh à!
Cũng như tôi hồi ở tù, mình có nghĩ mình là Đảng là Đoàn gì đâu, chỉ cốt sao giữ được cái khí phách người lính cách mạng, vậy mà khi ra tù, do cái lý lịch đã ở tù Mỹ – Ngụy nên thân phận cũng trầy trụa lắm. Mãi đến những năm vừa rồi tôi mới xong phần “thử thách” để vô Đảng đó. Chả lẽ những ngày ở tù tôi chưa được thử thách chút nào ư? Vô lý, trong khi không ít kẻ đang xin ra. Nghĩ cũng buồn. Có lẽ năm nay tôi sẽ về hưu. Mệt rồi!
Và tôi thấy người tù nổi tiếng vượt rào giữa ban ngày đang ngồi trước mắt tôi mệt mỏi thật. Chả lẽ những năm tháng đời thường lại tạo cho anh nhiều nhức nhối ưu tư hơn những ngày lao tù hay trận mạc trên hòn đảo đến thế? Và đâu chỉ có phải riêng anh chịu đựng cảnh ngộ oái oăm này.
Người lính – Chết chóc và gian khổ coi thường nhưng sự phi lý và bất công lại dễ làm anh gục ngã. Cái sự về hưu ở độ tuổi mới trên bốn mươi và đôi mắt u uẩn cũng như cung cách gắt bẳn lúc đầu của con người này liệu có thể cho đó là dấu hiệu gục ngã không?
Không! Cái đó tôi không biết và cũng chẳng nên tìm biết. Bởi lẽ, mỗi người chỉ có thể hoàn tất được một vai trò lịch sử, chỉ có thể sống thật tốt đẹp được trong một thời kỳ. Anh đã hoàn tất và anh đã sống thật hùng tráng trong thời kỳ trận mạc, tù đày. Còn bây giờ anh thế nào, xã hội có hiểu anh không? Cái đó đòi hỏi khả năng tự nhận biết và năng lực tự vượt mình của anh và của cả tôi, của tất cả mọi người.
Định hỏi anh về Quang, nhưng vẻ mặt buồn phiền kia đã ngăn tôi lại. Quang ư? Con người mất tích đó ư? Cũng như mọi người, chắc anh không biết được đâu. Bốn chục ngàn tù binh, bốn trăm tám chục nhà giam, thời gian đã hai mươi năm trôi qua, tìm một con người nhỏ bé thật khó khôn lường. Một lần nữa tôi đành khất lại việc riêng tư để đuổi theo cái số phận tổng thể của anh em tù.
Đêm đó ngủ lại với Hồng để nghe anh tâm sự về những giày vò day dứt của ngày hôm nay – Những day dứt giày vò còn nóng bỏng hơn cả ngày hôm qua.
Ngoài kia, phía trời xa, cả hành tinh cũng đang nóng bỏng phập phồng hướng về vùng Vịnh… Nếu chiến tranh nổ ra, người ta dự tính sẽ có tới năm trăm ngàn người thiệt mạng ngay từ những ngày đầu, trong đó ít nhất có hơn trăm ngàn dân thường…
Cái đài một pin của chúng tôi lại khắc nghiệt vang lên bản tin giờ chót.
(còn tiếp)
Nguồn: Nhà lao cây dừa. Ký sự của Chu Lai. NXB Văn học, 2005.
www.trieuxuan.info |