03.01.2009
Nguyễn Trọng Huấn
Cụ Tom và rượu Làng Vân

Cái Làng Vân ấy tưởng gần mà thật xa. Riêng tôi, đi mất hai mươi năm và nhiều nghìn cây số.


Chuyện là thế này. Tôi có mặt ở Hà Nội từ khi là một Thanh niên xung phong tròn hai mươi tuổi, từ chiến trường Điên Biên phủ về tiếp quản thủ đô. Cho đến lúc chia tay Hà nội sau Chiến thắng 1975, đã là một trung niên tròn tuổi bốn mươi. Hai mươi năm ấy, rượu Làng Vân, rượu Chương Xá, vv… những danh tửu đất Bắc, chỉ nghe như cổ tích chứ đâu có trông thấy mặt mũi bao giờ. Nói gì đến hạnh phúc được nhúng môi làm một hớp cho biết cái vị, cái hương cuả thứ tiên tửu mà đồn rằng nếu có để thưởng thức hàng ngày, sẽ trường sinh bất lão. Hoàn cảnh nó vậy. Miền Bắc đang phải tập trung toàn lực cho chiến tranh, cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Gạo cho chiến trường,  gạo cho dân ăn còn chưa đủ,  lấy đâu ra gạo cất rượu cho các " bợm " say sưa. Thảng hoặc, ở nhà quê, có bợm nào thèm quá, nấu vụng ngoài bờ ao thì  cái chai hứng rượu, cái ống dẫn hơi phải dìm xuống ao cho bớt " toả hương ". Công an xã mà nó ngửi thấy thì bỏ mẹ. Vì vậy, thứ rượu dìm dưới ao ấy, được phong hàng  "Quốc lủi", để phân biệt với thứ " quốc tửu" chỉ có trong mơ và "quốc doanh" bán ở cửa hàng mậu dịch, nhạt như nước ốc.


Mãi đến năm 1986, một lần ra Hà nội, bạn tôi, ông Thái Bá Vân, một nhà nghiên cứu, phê bình nghệ thuật, mà cũng là một tửu đồ đầy tư cách, biết uống rượu từ những ngày còn du học bên trời Tây mới rủ tôi đến ông Văn Cao uống rượu.  Nhà Ông Văn Cao ở 108 phố Yết Kiêu. Gọi là nhà nhưng  thực chất là một căn gác gạch cuả một toà biệt thự cũ,  có toa lét riêng, có cầu thang xây, dẫn thẳng lên phòng. Với Hà nội thời ấy đã có thể coi là trung thượng lưu.


Nghe tôi là kiến trúc sư, ở miền Nam ra, chơi với Trịnh công Sơn, lại Thái Bá Vân dẫn đến, mặc nhiên " anh Văn " coi là thượng khách, có tiêu chuẩn " được mời rượu làng Vân ".


Một cái chai nút lá chuối khô dấu trong gầm tủ trịnh trọng lôi ra. Chiếc khăn cũ dùng để chùi mạng nhện. Ba cái chén thủy tinh thường thấy ở các quán  " chè chén năm hào " được lau kỹ. Anh Văn cẩn trọng, chậm rãi rút túm lá chuối khô cuộn chặt làm nút, rưng rưng rót rượu vaò ly. Mỗi ly chừng một phần ba, đều nhau, rồi ngưng lại. Anh bảo, cái thứ này, uống đến đâu, rót đến đấy. Rót đầy, mải chuyện, nó bay hơi, nhạt rượu. Phí.


Quả nhiên " Cái rượu làng Vân " mà Ông Văn Cao cho tôi uống hôm ấy là một thứ rượu khác thường. Trong veo, thơm ngọt, đặt miêng chén lên mũi, hít vào nhè nhẹ, thoảng thơm hương mễ cốc. Kề ly lên môi, nhấp một ngụm nhỏ, ngậm lại, tráng qua, một mùi thơm ngạt ngào  xông lên hốc mũi, niêm mạc tê đi.  Nhắm mắt lại, nuốt nhẹ ngụm đầu, một cảm giác râm ran truyền lan trong cơ thể, một làn hơi ấm nhẹ nhàng dẫn lên đầu, lên mặt,  ra toàn thân. Quả nhiên, danh bất hư truyền. Đấy là cái lần đầu tiên trong đời, tôi được uống rươu làng Vân.


Năm tháng trôi đi. Lại một lần ra Hà nội. Gặp chị Băng, vợ anh Văn Cao ở chợ Am Phủ. Chị bảo tôi : -" Anh Văn ốm nằm bệnh viện Việt – Xô. Anh Huấn vào thăm đi ". Tôi ghé chợ mua chục trứng gà. Nhìn chục trứng, Ông cười :" Ông mua cái này làm gì. Để chủ nhật, tôi trốn về, mời bà Quách thị Hồ đến hát chầu văn ông nghe. Nhà đang sẵn chai vân ". Chai vân ấy tôi không bao giờ được uống vì hôm chủ nhật Ông trở bệnh, không trốn được.


Hai mươi năm sau, 2006, tôi theo Nguyễn Duy cùng mấy anh em bên báo chí, truyền hình, làm một cuộc lãng du " Xuyên Việt ẩm thực hành", lang thang khắp nước đi nếm "rượu và mồi".


Sáu anh em trên một chiếc xe, ngày đi đêm nghỉ. Nơi nào non xanh nước biếc, chỗ nào rượu ngon, mồi thơm, đều lặn lội ghé thăm. Rượu Bàu  Đá, đất võ Tây sơn; rượu Kim Long, Quảng Trị,  nổi tiếng từ thời Pháp thuộc; rượu Lệ Thủy, Quảng bình do Lâm thị Mỹ Dạ chiêu đãi, "nhắm" bằng  Hoàng Phủ Ngọc Tường tứ chi bất động đang nằm hóng chuyện; rượu làng Chuồn bên bờ phá Tam Giang cuả nhà hàng Ý Thảo, một nhà vườn trong thành nội – Huế, một bữa tiệc Huế đặc sắc linh đình, cơm với 13 món muối. Rượu Tạnh Xá, rượu " Sư cụ vượt tường lửa " uống ở Thanh Hoá, quê nhà Nguyễn Duy, rượu Mẫu sơn, thứ rượu cuả người Dao nấu trong sương mù xứ Lạng.  Sang Lào Cai, trèo lên bản Dao chót vót trên mây thử rượu San Lùng bên bếp lò rừng rực lửa. Về miền Tây sông nước Cửu Long thử rượu Gò Đen Long An, rượu Phú Lễ, Bến Tre, sang Trà Vinh, dậy từ 3 giờ sáng xem dân Xuân Thạnh nổi lửa nhóm lò đặng nếm chén rượu đầu. Kể cả thứ rượu dán nhãn " Nước mắt quê hương " xế đồi Vọng cảnh ở Huế cuả một ông chủ người Nhật đẹp trai, nói tiếng Việt như người mình .


Vậy mà đến Hà nội, hỏi đường về làng Vân, các tửu hữu đều ú ớ : … Ờ … ờ … đi đường Bắc Ninh, đến sông Cầu… Bắc Ninh hay Bắc Giang nhỉ ? Mãi rồi Nguyễn Đình Toán mới mở lời: " Bắc Ninh, Bắc Giang gì cũng được. Cạn chai này, mai tôi dẫn các ông đi ". Anh là một nhà nhiếp ảnh nổi tiếng, chụp khá nhiều chân dung đẹp, đặc biệt, chân dung văn nghệ sỹ khắp ba miền Bắc –Trung – Nam.


Chúng tôi theo lối Bắc Ninh, qua thành phố đang hối hả lên đời,  đường đôi, đèn cao áp giăng hàng, villa trọc phú đua nhau xanh đỏ. Rẽ trái, rẽ phải, mãi rồi cũng đến đê sông Cầu. Bờ bên kia là Bắc Giang, là làng Vân, quê hương cuả thứ tiên tửu mà chúng tôi đi tìm.


Sông Cầu là một dòng sông cổ, góp nước từ suối khe vùng Bắc Cạn, Thái Nguyên mà về. Đoạn qua Bắc Giang chính là phòng tuyến sông Như Nguyệt mà năm 1076, Lý Thường Kiệt đánh một trận diệt hơn 1000 quân Tống.  Không chỉ một chiến công, mà bên sông này, lần đầu tiên trong lịch sử, người Việt đánh giặc bằng Thơ. " Nam quốc sơn hà Nam Đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư. Áng thần thi vang vang bên bờ Nam sông Như nguyệt, bờ Bắc quân Tống vỡ mật chạy dài. Xuôi nữa, về Phả Lại, chỗ sông Cái gặp sông Lục Nam có đền Kiếp Bạc, những địa danh làm nên lịch sử.


Sông Cầu hôm chúng tôi qua, hai bờ ken dầy xà lan chở hàng. Rõ ra là một vùnh kinh tế trù phú. Ngôi nhà thờ đá cuả họ đạo Nguyệt Đức sừng sững bên sông, buông những hồi chuông yên bình.


Vân xứng danh là một làng cổ, giàu có vùng bán sơn địa điển hình xứ Bắc. Nhà ngói hai tầng san sát, sân gạch, tường xây, đình làng, mái tam quan, đầu đao cong vút. Đường làng hẹp, len giữa những bờ tường, thăm thẳm, hun hút giữa hàng tiểu sành xếp chồng lên nhau. Thi thoảng thò ra một miệng cống, một cửa chuồng heo. Khắp làng thoang thoảng mùi hèm (bã rượu).


Từ đầu làng hỏi nhà Cụ Tom, không ai không biết. Nhà giữa làng, sân gạch, nhà xây, tường vây bốn phiá. Trời mùa Đông, đang dịp cuối năm, chúng tôi áo đơn áo kép, Cụ 92 tuổi, phong phanh chiếc áo len màu gụ, chít khăn mỏ quạ, bỏm bẻm nhai trầu. Hỏi chuyện rượu, Cụ vui hẳn lên.


- Làng tôi cả làng cất rượu. Từ đời ông bà. Các cụ kể nhà tôi cất rượu đã bốn năm đời. Tôi học cất rượu từ khi về làm dâu nhà này. Chồng tôi uống rượu từ bé. Hai mươi năm trước, Ông ngoài bảy mươi, nghỉ uống rượu, thế là "đi" luôn, nhẹ như không, chả bệnh tật gì.


- Thưa Cụ, từ đầu làng vào đây thấy nhiều nhà đang cân sắn (khoai mỳ). Thế nhà ta cất bằng sắn hay bằng gạo?


- Chả sắn gạo gì sất. Nhà tôi chỉ cất bằng nếp. Nếp cái hoa vàng. Hồi đánh nhau với Pháp, nhà tôi đi kháng chiến, sẵn nghề cất rượu, được kháng chiến phân giao cất muối mỏ cho bộ đội. Đi đâu tôi cũng mang nồi, chõ đi theo, đến đâu cũng cất rượu cho Ông nhà tôi uống. Mình có nghề, không cất rượu, cứ buồn buồn thế nào. Cái thời tem phiếu, Nhà nước cấm. Thử hỏi, dân làng tôi không cất rượu thì sống bằng cái gì ? Xin mãi rồi trên cũng cho, nhưng bắt cất bằng sắn. Rượu sắn chua mà rẻ, chỉ vài nghìn một lít, cũng hợp túi dân nghèo. Rượu nhà tôi, các ông có lấy phải hai ba. chục nghìn. Trước kia sông Cầu còn trong, rượu cất bằng nước sông Cầu. Bây gờ cất bằng nước mưa. Cai bể nước mưa ngoài kia, phải hứng từ hè. Nếp cái hoa vàng gặt hồi tháng chạp, tháng giêng, chỉ xay, không giã. Xay ngày nào cất ngày ấy. Cũng chỉ cất vào tiết Xuân, quanh năm nghỉ. Có năm Thái Bình trồng được thứ nếp cái hoa vàng cực ngon. Nhà tôi mua liền năm tấn, dành để cất dần. Men phải tự tay tôi làm.


Những năm khó khăn, vợ chồng một ông đại tá quen với nhà tôi, vế đây xin học nghề. Bà vợ nghe đâu là dược sỹ, xin học làm men. Tôi chả dấu gì, bảo ban kỹ lưỡng, nhưng rồi không theo được. Nghề này trông thế mà vất (vất vả). Nhất là ủ men, chả máy móc nào đo được, cứ phải dùng tay mà thăm. Nóng quá, hỏng. Lạnh quá, cũng hỏng. Men hỏng thì còn gì là rượu. Vả lại, nghề nào chẳng vậy. Không yêu nghề, không lăn lộn với nghề thì chỉ có đi làm... cán bộ.


Chúng tôi xin phép được thử một ly. Cụ lấy chai rượu, rót cho mỗi người một chén. Mùi rượu thơm lừng. Đúng là thứ rượu hai muơi năm trước tôi được uống ở nhà ông Văn Cao. Rượu trong veo, tăm rượu lăn tăn như hạt tấm. Thử bật lửa ghé vào, một ngọn lửa xanh, dài bùng lên, cứ thế cháy mãi. Khác với rượu Bàu Đá chúng tôi uống ở Tây Sơn thượng đạo, quê nhà vua Quang Trung, khi rót, tăm rượu to như hạt đỗ, vồng lên miệng chén như bọt bia. Có lẽ có một bí ẩn nào đấy chưa thể giải mã mà theo chúng tôi, về hương vị và hình thức, rượu Bàu Đá giàu chất  Võ, còn rượu làng Vân đẫm tính Văn. Chả thế mà các liền anh, liền chị Kinh Bắc cất câu quan họ nghe não hết cả lòng.


Nước mình, dân mình cất ra bao nhiêu thứ rượu qúy. Những làng như làng Vân có khi còn cất rượu từ  trước cái thời Lý Thường Kiệt viết  Nam quốc sơn hà Nam Đế cư. Không có rượu làng Vân sao thơ Cụ hay thế ?


Những người như Cụ Tom, trải bao thăng trầm thế cuộc, vẫn son sắt giữ gìn cho hậu thế một báu vật, không để bị thất truyền. Những làng như vậy, những người như vậy, chính là những địa chỉ văn hoá, những con người văn hoá, góp công sáng tạo để văn hoá Việt trở nên thơm lừng, sóng sánh, say đắm lòng người. Ngẫm lại  thấy qúy biết bao so với những kẻ  mũ cao áo dài, lợi dụng chức quyền, chuyên nghề đục khoét…


                         Thành phố Hồ Chí Minh, Rằm tháng Bảy, Mậu Tý. 


                                          Nguyễn Trọng Huấn


 

trieuxuan.info