Ai chưa lên Cao nguyên Đồng Văn nghĩa là chưa tới Hà Giang, lên Đồng Văn rồi mà chưa tới đỉnh Lũng Cú cũng coi như chưa tới Đồng Văn. Nghe người ta nói thế, dù đã xem phim ảnh, sách báo tôi vẫn không hình dung nổi vùng đất cực Bắc của tổ quốc còn ẩn chưa biết bao điều kỳ ảo.
Từ Hà Nội lên đến thị xã Hà Giang đã xế chiều, nơi tỉnh bố trí cho anh em văn nghệ sỹ đi thực tế sáng tác lại ở khu nhà nghỉ của tỉnh tại huyện Quản Bạ, cửa ngõ Cao nguyên Đồng Văn. Như vậy phải ngược hướng bắc chừng năm chục cây số nữa. Chúng tôi tranh thủ lên đường ngay, chừng gần ba chục cây số đã phải vượt dốc Păc Sum dài mười cây số, núi non cao dữ dội, lòng vực thăm thẳm, tay lái Hà Nội chưa quen đường lại chạy khi bóng đêm đã chùm xuống nên chiếc ô tô chở chúng tôi phải bò rón rén. Hết dốc Păc Sum chợt chiếc xe leo dựng lên dốc Cổng Trời có đô dài chừng năm cây số. Xưa kia con đường chỉ là lối mòn chênh vênh sườn đá đủ cho người ngựa dìu nhau đi, người ta dựng hai cây gỗ nghiến trên đỉnh dốc gọi là “Cổng Trời”, biểu thị cửa ngõ một vùng Cao nguyên cách biệt. Từ Cổng Trời nhìn xuống phía bên kia là trung tâm huyện Quản Bạ, giữa trời đêm thăm thẳm thị trấn Tam Sơn hắt ánh điện lên tựa một thung lũng giát vàng. Bốn huyện vùng cao của Hà Giang là Quản Bạ, Yên Minh, Mèo Vạc, Đồng Văn trước đây chỉ mang một tên chung là Cao nguyên Đồng Văn. Địa danh này còn được gắn với cái tên đầy gian nan nhức nhối: Cao nguyên đá, vùng thuốc phiện, lãnh địa của Vua Mèo.
Bạn đã từng chiêm ngưỡng cảnh hoành tráng của Cao nguyên Đồng Văn chưa? Cả một vùng núi non rộng lớn là những cột đá, đụn đất hình chóp nón cao ngất dựng kề nhau. Con đường len lỏi dưới chân ải bỗng lượn lên cột đá có khi vòng tới đỉnh chóp rồi lại nghiêng xuống. Từ lưng núi bên này nhìn sang sườn núi bên kia con đường như vết dao cứa vào vách đá. Theo cách nhìn của người nghệ sỹ thì Cao nguyên Đồng Văn là một bức tranh hoành tráng về thiên nhiên hiếm nơi nào có được. Chỉ có điều con đường ngoằn ngoèo tạo dáng cho bức tranh thiên nhiên ấy nó được tạo lên như một bản hùng ca về sự dũng cảm, hy sinh, sức mạnh đoàn kết để có con đường mang tên Hạnh Phúc. Nghe nói khi Nhà nước quyết tâm mở con đường lên Cao nguyên Đồng Văn không ít người còn nghi ngờ về sự thành công, đã nói: “Nếu làm được đường lên Đồng Văn thì trâu đực cũng biết đẻ!”. Vậy mà thanh niên của sáu tỉnh Cao - Bắc - Lạng - Thái - Tuyên - Hà cùng lực lượng tình nguyện dưới xuôi lên góp sức đã làm được. Suốt bảy năm trời ròng rã dưới thời tiết khắc nghiệt nắng gió, mưa rét, khoét núi đục đá để tháng 3 năm 1965 con đường xuyên Cao nguyên đá đánh dấu một cuộc sống mới hạnh phúc được mở ra với người dân vùng cao.
*
Lên vùng cao, đoàn chúng tôi quyết định thay tay lái người H’mông quen đường tên là Sùng Mí Giàng. Mí Giàng dừng xe trên đỉnh Mã Pì Lèng giới thiệu với chúng tôi về công trình đường xuyên cao nguyên đá. Trong đoàn có nhiều người lần đầu tiên lên cực Bắc như tôi thật bàng hoàng kinh ngạc. Chỉ tiếc trời mưa mù mây trắng quẩn dưới chân cản mất lời giới thiệu về dòng sông Nho Quế thơ mộng lượn lờ như dải lụa mềm dưới chân núi có độ sâu hai nghìn mét. Ngước lên cao vời vợi chúng tôi còn bắt gặp một sợi dây cáp vắt vẻo thành đá đã hoen gỉ, khi mở con đường người ta đã dùng nó làm bảo hiểm treo người từ độ cao 300 mét, dốc đứng 90 độ để đục đá lửng lơ giữa trời. Để khai thông được con đường này xóa đi cảnh biệt lập thâm sơn cùng cốc đối với người vùng cao cực Bắc đã có biết bao máu xương của những người dũng cảm đổ xuống. Lịch sử tôn vinh họ, đồng bào vùng cao ghi tạc công ơn của họ. Nghe kể lại, ngày thông đường lên cao nguyên đá, người từ khắp các lũng núi, sườn đá kéo nhau xuống xem, người già không đi được thì bảo con cháu đặt lên lưng ngựa dắt đi cho tận mắt thấy, tay sờ vào được cái ô tô cho mãn nguyện đời người.
Trước mắt chúng tôi là Mèo Vạc, cả một vùng đá tai mèo xẫm đen như bạt ngàn ngọn chông, cũng tựa như đó là những gốc cây nham mhở của cánh rừng cháy chụi. Vậy mà trên rừng chông, nách đá nở vàng hoa đậu, xanh mướt búp ngô. Những ngôi nhà của người H’Mông, người Lô Lô được xếp bằng đá, quây rào bằng đá...toàn đá là đá, hèn chi gọi là “Cao nguyên đá”. Tôi chợt nhớ tới Mèo Vạc - không gian của “Mùa hoa thuốc phiện cuối cùng” mà nhà văn Nguyên Ngọc đã viết. Nơi tiêu biểu cho việc đấu tranh xóa bỏ cây thuốc phiện thay bằng cây lương thực, cây nông sản không ít gian nan nhọc nhằn để vươn lên xây dựng cuộc sống mới. Cho dù phim ảnh, văn thơ có ca ngợi con người và sức sống trên đá bao nhiêu thì cao nguyên Đồng Văn, thì MèoVạc vẫn hiện hữu một vùng đất đai khắc nghiệt khó khăn nhất cả nước.
Theo Chủ tịch huyện Mèo Vạc Thào Hùng Sơn cho biết thì vùng đất có tới 90 % diện tích là đá tai mèo. Con người phải xuống các lũng thấp gùi đất cho vào hốc đá để có tám ngàn héc ta ngô, còn lại 10% ít ỏi đất là các thửa ruộng bậc thang trồng lúa, tất cả mùa màng ở đây đều chỉ có thể trồng một vụ. Bởi mùa khô đến nước để ăn còn phải đi xa hàng chục cây số cõng về, hơn nữa thời tiết có lúc xuống không độ thì cây gì có thể sinh sôi trên tuyết lạnh. Chỉ có cây pơ mu là vẫn sừng sững giữa non cao, loại cây giỏi chịu nóng chịu rét không khác gì cây kơ nia ở Tây Nguyên. Vậy mà vùng đất này đang phải nuôi sống 5,8 vạn con người. Lãnh đạo tỉnh Hà Giang, lãnh đạo huyện Mèo Vạc tóc trắng đi hàng đêm là phải thôi. Xứ sở đá chót vót ở độ cao 1.500 mét so với mặt biển, nuôi con gì, trồng cây gì để ổn định đời sống cho dân đâu phải dễ.
Anh Nguyễn Trần Bắc, Thường trực Tỉnh ủy Hà Giang trong buổi tiếp xúc với chúng tôi không khỏi day dứt. Đồng bào đã gồng hết mình rồi, ngoài sự hỗ trợ của Trung ương, Tỉnh đã có nhiều kế sách phát huy nội lực giúp đồng bào thoát nghèo. Trong đó có phong trào cán bộ công chức toàn tỉnh trích lương góp cùng đồng bào thực hiện thành công công thức “Một mái nhà, một con bò, một bể nước”; nghĩa là mọi nhà đều có tấm lợp xi măng hay tôn thay mái lợp cây ngô, có một bể chứa nước ăn cả năm, có một con bò để làm vốn. Rồi đến phong trào “Hạ sơn”, xóa nhà tạm, lo phản nằm cho dân, kéo điện thắp sáng từng nhà v.v... Cao nguyên Đồng Văn như cái cây trên đất cằn được bón phân tưới nước có lực vươn lên, cứ thử nhìn khóe mắt biết cười của chàng trai H’Mông, cô gái Lô Lô mà xem cũng đủ cảm nhận được diện mạo cuộc sống nông thôn mới vùng cao Mèo Vạc đang có nhiều khởi sắc. Anh Nguyễn Trần Bắc đọc luôn câu thơ như lời tâm tình giành cho đồng bào mình:
“Sống trên đá, chết nằm trong đá
Vẫn anh hùng vượt khó đi lên!”
*
Tôi bỗng nhớ tới nỗi day dứt trong “Mùa hoa thuốc phiện cuối cùng” của Nguyên Ngọc. Biết nhân vật Thào Thị Mỷ còn đó, tôi đã tìm đến căn nhà tại chợ Mèo Vạc để ngưỡng mộ. Ông Nguyên Ngọc quả là tinh mắt, nét đẹp thời con gái vẫn còn phảng phất trên gương mặt tuổi bảy mốt của bà. Không vậy mà mới tám tuổi người ta đã đặt lễ nhận dâu, mười hai tuổi đã phải khăn gói theo về nhà thằng chồng kém bà sáu tuổi. Bà bảo: “Ông Nguyên Ngọc nói đúng đấy, mùa hoa thuốc phiện cuối cùng!”. Không hiểu bà nhắc lại tên tác phẩm với tôi hay đang tự sự với chính mình về đoạn đời thấm đẫm nước mắt. Lần ấy theo cha lên núi chăm sóc những cây thuốc phiện, nàng vô cùng sung sướng ngắm những cánh hoa đủ màu sắc, sao mà nó đẹp thế. Vì nàng biết hoa càng thắm lượng thuốc phiện càng nhiều, cha con nàng càng vui bởi đó là gạo, là ngô, là quần áo lành lặn cho cả nhà. Nhưng cuộc đời thật cay nghiệt, cũng chính ở chợ Mèo Vạc này đây vì thuốc phiện Thào Mỷ đã pjải chứng kiến cảnh người ta cướp đi sinh mạng người cha thân yêu của mình. Từ đó nàng căm ghét thuốc phiện, sợ con người. Số phận thật trớ trêu, nhà chồng lại là nơi buôn bán thuốc phiện, ngày ngày Thào Mỷ lại chứng kiến những mưu mô độc ác của con người, máu người lại đổ, nước mắt đời lại chảy. Hai lần nhai lá ngón nhưng người ta bảo số Thào Mỷ không chết mà sáng ở hậu vận. Phải chăng cách mạng là điểm sáng đó, nàng cứ thầm cảm ơn ánh sáng cách mạng đã làm thay đổi cuộc đời con người. Thào Mỷ đã đi theo cách mạng xuống tận Tuyên Quang, Thái Nguyên vận động quần chúng, rồi được học chữ, trở thành cán bộ xã, làm tới chức Phó Chủ tịch huyện Mèo Vạc. Khi Nhà nước có chủ trương xóa bỏ cây thuốc phiện, Thào Mỷ luôn tích cực đi đầu trong phong trào này. Dù biết thay thế bằng cây ngô trên đá gặp không ít khó khăn, nhưng nếu còn cây thuốc phiện máu người còn đổ, cuộc sống đời người rồi sẽ ra sao?
Mèo Vạc xóa bỏ được cây thuốc phiện thì không còn khó khăn nào hơn có thể cản trở bước đi tới. Con đường Hạnh Phúc thông thương đã xóa bỏ lối sống tự cung tự cấp, định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa. Mà mục tiêu mũi nhọn là con bò, hiện Mèo Vạc có đàn bò lớn nhất tỉnh, gần 17 ngàn con, bên cạnh còn có đàn dê, đàn ong mật. Đối với cây ngô, cây đậu tương đều được áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật đưa giống mới có năng xuất cao vào sản xuất. Nhờ vậy bình quân lương thực quy thóc năm 2003 Mèo Vạc đạt 300 ky lô gam đầu người trên năm. Dù vậy tỷ lệ hộ nghèo vẫn chiếm 28%.
Có người nói: “Nếu xuất khẩu được đá thì Mèo Vạc mới mong giàu!” cũng chỉ là một ao ước thôi, ấy vậy mà có thật. Từ trong rừng đá đã xuất hiện bóng dáng công nghiệp, đó là mỏ Ăng ti mon, bước đầu thực hiện trong bốn tháng đạt hai trăm tấn, mục tiêu đặt ra là 1.000 tấn/năm. Rồi đây sẽ có hai cửa khẩu Săm Mun, Đền Bồng giữa Mèo Vạc với Trung Quốc được thông thương; Lãnh đạo huyện Mèo Vạc hy vọng sẽ có cơ sở gọi vốn đầu tư nước ngoài, chắc chắn cuộc sống sẽ có nhiều điều được mở ra. Khi cái bụng đã no cơm, con người hướng tới việc lầm giàu bằng chính đôi tay của mình nhưng trong đầu còn tắc nghẽn con chữ, khác nào bước chân muốn đi tới văn minh nhưng sự lạc hậu lại níu kéo quay về. Chỉ có cái chữ mới khơi thông được vòng luẩn quẩn đó. Vậy là Mèo Vạc tập trung ưu tiên phát triển sự nghiệp Giáo dục. Cùng với việc tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội, đến nay tất cả các xã đều có trường học cao tầng kiên cố, trung tâm huyện đã có trường cấp ba, 91% các em trong độ tuổi đều được đến trường đi học, đây là một cố gắng lớn đối với điều kiện dân cư ở rải rác trên núi cao. Năm 2000 toàn huyện có 3 bác sỹ, nay có 12 bác sỹ, các thôn bản đều có y tá. Điện lưới quốc gia vượt núi cao đem ánh sáng đến mọi nhà. Đồng bào Mèo Vạc có kinh nghiệm đục đá mở đường, nay có chính sách khuyến khích hỗ trợ của tỉnh và huyện thưởng xi măng cho những cung đường dân sinh tự mở. Đến nay tất cả các xã đều có đường ô tô vào đến trung tâm, đường bạt núi về tới thôn bản, về tới cổng nhà đều được lèn đá tráng bằng xi măng. Những cái mà người dân Mèo Vạc làm được đã trở thành một kỳ tích. Năm 2003 cán bộ và nhân dân các dân tộc huyện Mèo Vạc đã được Nhà nước công nhận, phong tặng danh hiệu anh hùng trong thời kỳ đổi mới.
*
Bà Thào Thị Mỷ đưa tôi sang thăm nhà người con trai cả ở gần đó, ngôi nhà hai tầng quay mặt ra chợ Mèo Vạc có đủ tiện nghi đắt tiền. Bà trong trang phục váy áo H’Mông đẹp nhất ngồi bên cạnh đứa cháu nội cho tôi chụp một tấm hình kỷ niệm. Nét mặt bà rạng rỡ như khung cảnh đổi thay của cuộc sống mới mà bà luôn biết ơn nhờ cách mạng mới có.
Rời Mèo Vạc, chúng tôi lên tột đỉnh Lũng Cú, chóp nón của hình chữ S Việt Nam. Trong gió lạnh mưa mù mà tôi muốn mở rộng cánh cửa kính xe cho khí trời trong veo tinh khiết của đất trời cao nguyên đá vào căng lồng ngực, tâm hồn thật nhẹ nhõm. Tôi chợt nhớ tới lời đề nghị của Bí thư Huyện ủy Mèo Vạc Nguyễn Trung Tài trong buổi chia tay với chúng tôi: “Mong có một bộ phim truyện về vùng đất, con người Mèo Vạc!” thật là một mong ước lãng mạn nhưng cũng thật long lanh tình người. Bất chợt ý nghĩ của tôi cũng hòa đồng bay lượn vào trong giấc mơ đó. Mong muốn có những thước phim về Mèo Vạc thật đầy đủ về số phận một vùng đất, con người xưa và nay mà bản nhạc xuyên suốt là bài ca mở con đường Hạnh Phúc trên Cao nguyên đá ª
5-2004
Nguồn: Rút từ Cửa Hà, dòng sông gấm. Ký của Nguyễn Liên. NXB Văn học, 2008.
www.trieuxuan.info
|