Người xưa thường nói: “Nhất cận thị, nhị cận giang, tam cận lộ”. Xã Cẩm Sơn quê tôi hội tụ đủ cả ba yếu tố đó. Là trung tâm hành chính của huyện Cẩm Thủy, có dòng sông Mã như dải gấm ôm gọn lấy vùng đất, thuận lợi cho việc giao thương buôn bán, lại là nơi giao nhau giữa hai tuyến quốc lộ quan trọng, tạo nên một thế chiến lược quân sự và phát triển kinh tế xã hội. Tuyến đường 217 nối giữa miền xuôi với miền núi phía tây Thanh hoá thẳng tới biên giới Việt Lào, một nhánh tới đất huyện Quan Hoá xuyên qua tỉnh Hòa Bình, Mộc Châu Sơn La lên Tây Bắc. Tuyến đường 45 được hình thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, là mạch máu giao thông chiến lược nối hậu phương miền Bắc với tiền tuyến miền Nam ruột thịt.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, có lẽ do đặc điểm trọng yếu của tuyến đường 217 giặc Pháp đã cho xây dựng đồn bốt tại Cẩm Sơn nhằm kiểm soát cửa ngõ này. Năm 1945 Nhật đảo chính Pháp, rồi cách mạng tháng Tám bùng nổ, những người nông dân Cẩm Sơn đã nô nức đi làm cách mạng, tay cuốc, tay dao, gậy gộc cùng dòng người khắp nơi đổ về cướp Huyện đường, lật đổ chế độ phong kiến dựng nên chính quyền nhân dân. Hít thở không khí “trời của ta, đất của ta” chưa được bao lâu thì nhân dân ta lại bước vào cuộc kháng chiến 9 năm cam go và oanh liệt. Cẩm Sơn trở thành nơi tập kết quân lương chi viện cho mặt trận Cổ Lũng, mặt trận Tây Bắc. Người người lúc ấy trở thành chiến sỹ, thành dân công tiếp vận; nhà nhà còn là nơi đón nhận thương binh từ mặt trận về chăm sóc.
Ngày còn nhỏ bọn trẻ chúng tôi thường ra bãi sông đào dế, cả một triền bãi chia lô đất phần trăm vàng óng hoa lạc hoa cải. Chúng tôi cuộn dây giấy thành bó túm hai đầu ghì xuống sông gạt nước vào bờ bắt những con cá bé xíu phơi bụng trên cát. Ngồi nướng ngô bên bờ bãi nghe người lớn kể chuyện thuở đánh giặc, ngắm qua bên kia sông ngọn núi cửa Hà sừng sững uy nghi, tôi tự hào về vùng đất kỳ vĩ thiên nhiên ban tặng cho quê tôi đã sinh ra những con người đoàn kết thương yêu nhau, cần cù lao động nhưng cũng thật kiên cường trong đấu tranh giải phóng dân tộc. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi đã đi qua hơn nửa thế kỷ, những người trực tiếp tham gia kháng chiến đều đã ở vào tuổi “cổ lai hy”, thế nhưng mỗi lần kể cho con cháu nghe về những ngày hào hùng ấy các cụ vẫn sôi nổi rạo rực như thời còn son trẻ. Có biết bao chuyện để mà kể nhưng có một câu chuyện cả người kể lẫn người nghe muốn kể mãi không chán về cha ông mình mưu trí, dũng cảm, tay không bắt sống giặc.
Hôm ấy, đoàn dân công xã Cẩm Sơn trên đường gánh gạo tiếp viện cho chiến trường Tây Bắc, đang vượt dốc Mướp giữa âm u rừng núi huyện Quan Hóa, chợt phía trước thông báo có địch. Tất cả bất ngờ giây lát trước tình huống không được chuẩn bị; nếu chúng phát hiện thì đoàn dân công khó bảo toàn tính mạng, để chúng lọt sâu vào đất của ta chặn đường tiếp viện thì các chiến sỹ ngoài chiến trường sẽ như thế nào? Mọi người nhanh chóng bàn bạc và quyết định phương án tác chiến. Trong các lùm cây những người nông dân chân đất chưa một lần xung trận hồi hộp chờ đợi. Một tên, hai tên, chà những cái mũ sắt bóng loáng ở đâu cứ ùn ùn hiện ra trên lối con đường mòn, tên nào cũng lăm lăm súng trong tay ngơ ngác dò dẫm. Chợt một giọng hô đanh vang lên làm chúng hốt hoảng cụm vào nhau:
- Tất cả đã bị bao vây mau hạ súng đầu hàng, ai ngoan cố sẽ bị bắn chết!
Từ trong các bụi cây đồng loạt vang tiếng “lạch cạch” lên đạn súng. Giọng mệnh lệnh lại hô lên dứt khoát:
- Một số các đồng chí ra thu vũ khí, trói chúng lại. Số còn lại đợi lệnh!
Toán biệt kích trang bị vũ khí đầy người bị tóm gọn. Tất cả có hai mươi bốn tên, tính ra thì lực lượng địch dôi hơn lực lượng ta vài người. Bọn địch tròn xoe mắt ngỡ ngàng, đứng trước chúng là những người nông dân chân đất trong tay chỉ có đòn gánh, thì ra tiếng lạch cạch lên đạn chỉ là tiếng gõ vào đòn gánh, ông nứa. Cuộc chiến tranh xâm lược bị thất bại, thực dân Pháp mới hiểu được rằng: Chiến thắng của dân tộc Việt Nam đâu phải vì súng đạn, tàu bay, xe tăng hiện đại mà nó là nền tảng của sự đoàn kết toàn dân tạo nên sức mạnh.
Rồi cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước nổ ra. Lúc ấy, nơi nơi hành động theo khẩu hiệu: “Tất cả vì đồng bào miền Nam ruột thịt”. Nhân dân xã Cẩm Sơn lại ra sức thi đua lao động xây dựng chủ nghĩa xã hội và đóng góp sức người sức của cho cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc. Năm 1964 chiến tranh leo thang của đế quốc Mỹ bằng không quân ra miền Bắc, xã Cẩm Sơn lại là mục tiêu để địch dòm ngó đánh phá; tội ác của chúng, người dân Cẩm Sơn mãi mãi còn ghi: Toàn bộ khu làm việc của Ủy ban miền Tây bị bom Mỹ san bằng, 8 lần đánh bom phá trường học, 13 nhà dân bị phá hủy, 50 người dân vô tội bị chết, trong đó có gia đình cả 5 người bị bom Mỹ giết hại... Ngày đêm trên bầu trời những chiếc phản lực gầm gừ lấc láo như cú vọ xoi mói trút bom xuống các trọng điểm bến phà, cầu Mây và con đường chiến lược 45 hòng đe doạ ngăn chặn các đơn vị bộ đội hành quân, các đoàn xe chi viện ra tiền tuyến. Xã Cẩm Sơn đã thành lập 8 trung đội pháo cao xạ 12,7 ly trực chiến đánh trả máy bay Mỹ. Trong số 500 dân quân của xã thì có 240 người biên chế các trung đội pháo thường trực, số còn lại ngày sản xuất tập thể, đêm cùng bộ đội bắc cầu phao nối mạch giao thông và sẵn sàng làm nhiệm vụ lấp hố bom, cứu người, cứu của. Năm 1972, thực hiện sự điều động của tỉnh, một trung đội pháo phòng không 12,7 ly của xã Cẩm Sơn được thiết lập thành Trung đội mạnh do xã đội phó - Ông Trương Phúc Khuê làm Trung đội trưởng tăng cường chi viện cho chiến trường Quảng Trị. Trung đội mạnh dân quân Cẩm Sơn hoà vào cùng các cánh quân chủ lực, quân địa phương nơi tuyến lửa tham gia chiến dịch giải phóng Cam Lộ, giải phóng thành Quảng Trị. Trang truyền thống vẻ vang của xã còn ghi: Trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, xã Cẩm Sơn có 518 thanh niên lên đường tòng quân, 120 thanh niên xung phong, 500 thanh niên hỏa tuyến được điều động cho các chiến trường. Nhân dân Cẩm Sơn đã đóng góp 3.500 tấn lương thực, 105 tấn thực phẩm ủng hộ bộ đội trên đường hành quân qua địa bàn vào Nam...
*
Đằng đẵng cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ ác liệt rồi cũng kết thúc bằng chiến dịch mang tên Hồ Chí Minh lịch sử. Lòng người phơi phới mở ra nhiều khát vọng tương lai. Có người nghĩ bước chân trường chinh kháng chiến mệt mỏi đã đến lúc được nghỉ ngơi, vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long cung cấp cho cả nước lo gì. Lúc ấy nồi cơm dân quê tôi ngô sắn nhiều hơn gạo, nghĩ vậy mừng lắm. Thế là lại háo hức theo chủ trương dỡ bỏ nhà cửa, san bằng cái nơi từng gắn bó bao đời người, với bao kỳ tích lịch sử để giành đất cho công trường sản xuất theo hướng cơ giới hoá, hiện đại hoá. Dù rằng cách quê cũ chỉ dăm ba cây số, nhưng trên đồi thiếu nước, đi lại khó khăn, không bám đồng bám bãi sản xuất được, cực đấy mà không dám kêu ca. Người dân quê tôi là vậy, khi đất nước cần thì chỉ biết gắng lòng thực hiện. Đến năm 1981, trên nhìn thấu những điều không hợp lý, người dân lại lục tục kéo nhau về để làm lại từ đầu. Ruộng lúa đất màu chia lô làm nhà, trong vòng ba năm hai lần chuyển đất làm nhà thì còn gì. Ấy là chưa nói đến những cây nhãn lồng Hoàng Giang nức tiếng bị cưa trụi gôc, bao giờ mới trở lại được cái thời hưng thịnh ngày xưa?! Cái cơ chế chủ quan áp đặt kéo lùi người dân quê tôi không vươn lên được. Nên nghèo vẫn nghèo, là trung tâm huyện lỵ lúc ấy nhà xây lợp ngói chỉ tính đầu ngón tay.
Cũng may Đảng đã mạnh dạn tìm ra con đường đổi mới tại Đại hội VI, đẩy lùi được cơ chế chủ quan làm cả xã hội trì trệ để phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ nay người lao động thực sự nhận thức đầy đủ về khái niệm làm chủ ruộng đất, chủ động chuyển dich cơ cấu cây trồng năng suất cao, áp dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất. Đến lúc này người dân Cẩm Sơn mới thực sự phát huy cái ưu thế “cận thị, cận giang, cận lộ”. Đã địa lợi lại được nhân hoà, Đảng bộ, chính quyền xã Cẩm Sơn đồng lòng chung một chí hướng tìm ra con đường tạo cho dân làm giàu. Hợp tác xã thủ công nghiệp mây tre trúc, thảm ngô, xây dựng, gạch ngói… ra đời.
Thế rồi thị trấn Cẩm Thủy thành lập, địa giới xã Cẩm Sơn chia làm hai, cái vùng đất mang trên mình bao kỳ tích lịch sử nay phải phân đôi. Dù vậy người thị trấn vẫn quen xưng bằng cái danh gắn bó tự hào là người Cẩm Sơn. Ai từng về Cẩm thủy, đến Cẩm Sơn chừng mười năm về trước hẳn khó nhận ra diện mạo của một vùng quê đang khởi sắc hôm nay. Tuyến đường quốc lộ 217 được trải nhựa thông thương từ cửa khẩu Na Mèo thông thương với nước bạn Lào, nối liền giữa miền núi với đồng bằng; trên nền cũ con đường chiến lược 45 giờ đây là người dân Cẩm Sơn như vậy thì mục tiêu miền núi tiến kịp miền xuôi không còn là điều mơ ước.
Tôi là người xa quê, hết cầm súng đánh giặc rồi làm báo, trở về được chứng kiến cái ngày xã Cẩm Sơn được Đảng, Tổ quốc xác nhận công lao phong tặng danh hiệu đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang thì mừng lắm. Cái làng Cót của tôi người dân tự hào về cái làng nghề bỗng dưng không biết tự bao giờ bị thay bằng cái tên xóm Đại Đồng, thành lập thị trấn cái xóm Đại đồng lại chia ra mỗi bên một phần. Chỉ buồn nỗi, lịch sử ai nỡ phân chia, trong đội dân công tay không bắt giặc ngày ấy, giờ đây bị xẻ ra trên hai vùng đất. Ngày xã Cẩm Sơn đón nhận danh hiệu anh hùng, người bên này vui thì người bên kia lại rưng rưng buồn tủi.
Mỗi thời kỳ đã trao cho vùng đất Cẩm Sơn một sứ mệnh trọng đại, con người và vùng đất ấy đã luyện tâm rèn chí vượt qua mọi cam go thử thách chung tay làm nên những kì tích vẻ vang. Tôi ao ước gía như xã Cẩm Sơn và Thị trấn Cẩm Thủy đều được nhận danh hiệu cao quý như vậy thì trọn vẹn biết bao. Và rồi tôi lại tự động viên, nếu lịch sử còn ghi thiếu chỗ nào, thì cây bút của nhà văn nhà báo sẽ có trách nhiệm bổ sung cho thật đầy đủ để thế hệ đường Hồ Chí Minh công nghiệp hóa; khúc sông Mã chịu đựng hàng trăm tấn bom đạn, con người phải đổ máu để cho mạch giao thông nối liền. Nay khúc sông ấy đã có cây cầu bê tông sừng sững vắt ngang; đó là điều kiện thuận lợi cho kinh tế, xã hội phát triển. Cẩm Sơn nay 100% số hộ có nhà xây, xóa bỏ nhà tranh, nhiều nhà tầng mọc lên. Nền nông nghiệp mang dáng dấp của công nghiệp hóa, trên mỗi thửa ruộng đã có máy cày thay trâu, máy suốt lúa, bon ngô thay cho sức người. Nhiều trang trại rừng xuất hiện, đồi Rồ, đồi Rè, cây tạp nay biến thành đồi luồng, đồi lát. Thung Hạc, chùa Chặng trở thành điểm du lịch sinh thái, du lịch văn hóa. 90% hộ dân có phương tiện xe máy, 100% hộ có phương tiện nghe nhìn; toàn xã có hơn 200 người có trình độ cử nhân đang công tác ở các lĩnh vực, công tác khuyến học chăm lo đến các thế hệ tương lai được quan tâm coi trọng. Làng Ngọc Thung của người Dao xưa là làng nghèo khó nhất xã nằm khuất trong bốn bề núi non bao bọc, nay có đường ô tô, có điện lưới, nhà nhà có chảo thu sóng truyền hình... tôi thầm nghĩ mặt bằng đời sống kinh tế xã hội của mai sau mãi mãi tường tận về con người của một thời, những thế hệ của mỗi thời kỳ đã làm vẻ vang cho một vùng đất xứng danh anh hùng ª
Nguồn: Rút từ Cửa Hà, dòng sông gấm. Ký của Nguyễn Liên. NXB Văn học, 2008.
www.trieuxuan.info
|