08.01.2010
Nguyễn Liên
Trận đánh trước ngày ba mươi tháng Tư

 


Đồng Dù là một căn cứ lớn nằm cạnh lộ 8 Củ Chi đi Bình Dương, về phía Tây Bắc Sài Gòn độ ba mươi cây số. Căn cứ này trước đây trong “Chiến tranh cục bộ” là hậu cứ của sư đoàn 25 Mỹ - sư đoàn “Tia chớp nhiệt đới”. Khi “Việt Nam hóa chiến tranh”, Mỹ giao lại Đồng Dù cho sư đoàn 25 Ngụy Sài Gòn. Căn cứ rộng độ bảy cây số vuông nằm giữa cánh đồng như con mắt cú vọ gườm gườm nhìn về Trảng Bàng, nhìn lên Hố Bò Nhuận Đức, ở đó khu du kích nổi tiếng của Tây Ninh, của Củ Chi, của vùng ven.


Căn cứ được rào kín bằng mười một lớp dây thép gai vòng ngoài chừng ba trăm mét, phía trong là một dãy tường đất cao một mét rưỡi, rộng khoảng một mét hai với một hệ thống công sự phòng thủ chắc chắn, cứ nam mươi  mét lại có một lô cốt, mười mét lại có một hố bắn cá nhân.


Trong căn cứ Đồng Dù có cả sân bay, một trận địa pháo lớn tới 15 khẩu, một thiết đoàn thiếu độ 20 xe tăng, một trường huấn luyện hạ sĩ quan. Quân số địch đóng trong căn cứ lúc ấy độ ba ngàn năm trăm  tên do chuẩn tướng Lý Tòng Bá, Tư lệnh Sư đoàn 25 chỉ huy. Tóm lại đấy là một thứ “mồi” không phải dễ nuốt tí nào cả đối với chúng tôi là những người lính chỉ quen với rừng, hết sức bỡ ngỡ lại chân ướt chân ráo mới tới.


Trước khi nhận lệnh đánh Đồng Dù, Trung đoàn 48 từng tham gia chiến dịch Tây Nguyên, tiến đánh đồn Chư Sé trên đường 14, tấn công quận lỵ Thuần Mẫn, Cheo Reo, cắt đứt đường tiếp viện của địch từ Buôn Ma Thuột đi Pleiku rồi trận truy kích nổi tiếng trên đường số 7 từ Cao nguyên xuống đồng bằng Phú Yên.


Nếu trận Buôn Ma Thuột là một vết tử thương của chế độ Thiệu, một đột phá khẩu để dân tộc ta đi vào vòm cửa khải hoàn thì đường số 7 - tôi muốn ví von theo kiểu thầy thuốc - là nơi Ngụy mất nhiều máu nhất để đến nỗi cái cơ thể Việt Nam Cộng Hòa đang bề ngoài phì nộn ấy bị choáng cấp, thực sự đổ ụp xuống để rồi ngày 30-4-1975 nó thở hắt ra giãy đành đạch.


Giờ đây chúng tôi nhận nhiệm vụ đánh Đồng Dù, mở cánh cửa sắt phía Tây Bắc Sài Gòn cho quân ta tràn vào dứt điểm cuộc chiến tranh trường kỳ của dân tộc. Trong lúc chờ đơn vị bạn hành quân qua cầu trước tôi tranh thủ kéo cậu Niên công vụ xuống sông tắm. Vì muốn tẩy sạch bụi đường cũng có mà vì để thỏa tính lãng mạn của mình cũng có. Cách đây ba mươi năm, tôi từng vùng vẫy trên sông nước Nậm Rốm trong cái ngày tấn công giải phóng Điện Biên Phủ, nay trước trận đánh cuối cùng kết thúc cuộc chiến tranh chống Mỹ tôi lại đằm mình trong sông nước Sài Gòn. Từ đây chúng tôi đã nhìn thấy quầng sáng của thành phố Sài Gòn hắt lên nền trời đêm một thứ ánh sáng nhờ nhờ mông lung và lạ lẫm quá, tôi cứ thấy chộn rộn trong lòng.


Đêm 24-4 chúng tôi vượt sông Sài Gòn về tập kết ở Phú Mỹ Hưng thuộc huyện Củ Chi. Pháo ở Trảng Bàng, ở Tân Trung Hòa, ở Đồng Dù có thể bắn về tận đây. Những đơn vị chủ lực của ta đang tập kết ở đây để chuẩn vị cho trận đánh cuối cùng. Cán bộ đi trinh sát, chiến sĩ gói bộc phá, người làm đường kéo pháo, tất cả chuẩn bị hết sức khẩn trương và nhộn nhịp. Tôi chưa sống ở Vĩnh Linh, mới dừng chân ở địa đạo Củ Chi này tôi đã cảm thụ được cái chất anh hùng ca của lời hát: “Mẹ vẫn đào hầm từ lúc tóc còn xanh, nay mẹ đã phơ phơ đầu bạc...”. Lúc này những người mẹ Củ Chi anh hùng bằng xương bằng thịt chứ không phải là những hình ảnh trong bài ca tiếng hát nữa, mẹ thương chúng tôi biết ngần nào:


- Út ơi! Bổ dưa mời chú Hai ăn, con!


 Còn chúng tôi, cả Sư đoàn, mười mấy sư đoàn mang tinh thần cho trận đánh cuối cùng này làm thế nào đây để xông lên bạt vía quân thù, để thỏa lòng mong ước của người dân trong lòng địch đang chờ đợi. Chờ đợi là vậy, nhưng cái mục tiêu mà sư đoàn tôi đảm nhận là phải mở được cánh cửa sắt để đại quân ta tiến về Sài Gòn.


Ông già Năm ở Phú Mỹ Hưng oang oang khuyên tôi bằng một giọng đặc Nam bộ:


- Qua khuyên thằng Hai, có phải bọn bay định đánh Sân Dù? Hổng ăn đâu! Đánh vào đấy bỏ con lại nghen!


- Chúng con còn giải phóng cả Sài Gòn ấy chứ ba!


- Hầy! Sài Gòn toàn lính kiểng! Chúng bay đánh được Sân Dù thì Sài Gòn không đánh khắc tan. Sức mấy nó giữ được.


Ông già nói có lý. Đảng ủy và cán bộ chỉ huy Sư đoàn tôi chăm chú nghe quân báo, nghe cán bộ địa phương và cả một thượng sĩ nội tuyến ở trong căn cứ Đồng Dù báo cáo lại cách bố phòng của địch ở đây.


Để làm tốt công tác chuẩn bị, Quân đoàn trưởng Vũ Lăng ra lệnh cho chúng tôi tổ chức một đợt kiểm pháo. Nếu tính tất cả trận địa pháo của địch ở vùng này có đến 80 đầu khẩu. Như vậy phải hết sức thận trọng không được để xảy ra một sơ sót nào.


Chiều 28-4, chúng tôi làm lễ xuất quân bên bờ sông Sài Gòn đúng lúc nước lên. Đôi bờ càng thêm mênh mông. Máy quay phim của các phóng viên chiến trường bám theo đơn vị bắt đầu quay xè xè. Lá cờ quyết thắng được giao cho tiểu đoàn chủ công, chiến sĩ Phạm Văn Lệ được vinh dự vác cờ. Suốt cuộc đời chiến sĩ của tôi, trên 20 năm đi đánh giặc chưa lần nào tôi trông thấy khuôn mặt người lính ra trận lại trang nghiêm và rạng rỡ như lần này.


20 giờ địch bắn pháo. Có ai đó đã nói: “Người lính chỉ chết một lần, còn người chỉ huy phải chết nhiều lần!”. Chỉ một loạt pháo 105mm rơi vào đội hình thì có khi mất đứt một đại đội như chơi. Không được chủ quan. Đến cách cứ điểm một cây số, tôi nhận được điện báo của Sư đoàn phải khẩn trương vào chiếm lĩnh vị trí chiến đấu, có thể địch bỏ chạy.


2 giờ sáng ngày 29-4, trời đêm mông lung, chúng tôi tới Chỉ huy sở. Nói Chỉ huy sở cho oai thực ra chỉ là một bờ ruộng hoang, ở đó các chiến sĩ công binh đã đào sâu xuống một cái hố cho chỉ huy.


3giờ 30 phút thông tin hoàn thành mạng hữu tuyến. Chúng tôi thay nhau trực và đi kiểm tra bộ đội chuẩn bị sẵn sàng mở cửa.


Đúng 5 giờ ngày 29-4, phía đông trời đã ửng hồng, pháo ta bắn. Đến 30 phút đầu cứ điểm của địch chết lặng, không một tiếng súng bắn trả. Tôi băn khoăn hỏi Trung đoàn trưởng Lê Quang Bình: “Hay nó chạy?”. Bình chưa kịp trả lời thì con “nhím” Đồng Dù xòe hết lông, xe tăng địch chạy hỗn loạn, bốn cái xông ra bịt cửa. Tất cả các lô cốt, các ụ bắn cá nhân thi nhau nhả đạn, tôi không còn phân biệt được những thứ nổ gì nữa. Thật là một trận núi lở trời long, y như có động đất. Đạn bay ra phía chúng tôi vù vù như những con ong sắt nổ tung tóe trước mặt, sau lưng, đất đá bay rào rào. Ta bắn pháo đến 7 giờ thì bộ binh lên mở cửa. Hướng C3 mở cửa rất gọn nhưng vẫn chưa lên được. Hai chiếc xe tăng địch nép hẳn vào bờ tường đất và cứ mỗi lần xung kích nhô đầu lên nó lại đổ cả thùng đạn 12 ly 8 vào cửa mở.


Hướng thứ yếu do Trung đoàn bạn phụ trách cũng chưa lên được. Đã thế Lý Tòng Bá lại điều một Tiểu đoàn Bảo an ở Phước Hiệp đánh thúc vào đít bên phía Trung đoàn bạn.


Qua chiếc bộ đàm PRC25 tôi nghe tướng Bá túi bụi điều quân, lại còn khoác lác nữa mới bực mình chứ:


- Các chiến hữu cứ yên chí! Mấy thằng Bắc Kỳ bụng toàn rau muống ấy, để rồi xem nó làm được gì. Tôi đã xin được sự yểm trợ tối đa của không quân rồi!


Sau đó 5 phút quả thật có 2 chiếc phản lực F5 đến lơ láo ném được 4 quả bom cách chỗ chúng tôi 200 mét. Bộ đội cao xạ có dịp lên tiếng kịp thời. Hai chiếc “Thần sấm” hình như không ưa cái chuyện nhảy vào khu “hỏa diệm sơn” này nên chúng cứ ngắc ngư dướn lên cao, cao mãi rồi tuốt thẳng về Tân Sơn Nhất.


Chỉ còn một lớp cánh cửa cuối cùng thôi mà sao khó thế. Địch bên kia bờ đất sẵn sàng chĩa đại liên trút đạn, bộ đội ta cảm tử muốn mở bật tung cánh cửa lì lợm ra, mấy đồng chí phóng viên vừa quay những thước phim lịch sử vừa lấy khăn gạt nước mắt nhìn đồng đội lao lên rồi đổ xuống. Tôi hình dung cả đội hình chủ lực của quân đoàn đang chờ đơn vị mình mở cửa mà sốt ruột quá. Sống chết gì cũng phải lọt được vào cửa mở đã.


Chúng tôi ra lệnh điều thêm pháo thêm xe tăng vào tăng cường cho mũi đột kích chủ yếu. Trung đội trưởng Vũ Thanh Sơn (sau này được tuyên dương anh hùng) cứ ép mình xuống mà bò lên cửa mở. Ở đấy rải rác đã có gần hai mươi đồng chí hy sinh. Anh nhặt lấy khẩu B41 của một đồng chí xạ thủ vừa trúng đạn 12ly8. Và thật bất ngờ, Sơn đứng thẳng người giữa cửa mở, giương khẩu B41 lên xỉa vào sườn chiếc xe tăng đang nép bên bờ đất một quả đạn sáng lòa. Chiếc xe tăng địch cháy phừng phừng như đúc bằng nhựa thông. Và thế là những chiếc tăng còn lại hoảng loạn vội vàng biến vào phía trong mất hút. Sau này chúng tôi thường nói đùa đấy là quả phạt đền 11mét mà sau cú sút đó trọng tài cũng nổi hiệu còi chấm dứt trận đấu.


- Thế là xong rồi! Ăn tiền rồi!


*


Cứ mỗi lần tới ngày kỷ niệm ba mươi tháng tư, ngày thống nhất đất nước, đại tá cựu chiến binh Đinh Hữu Tấn lúc ấy là chính ủy trung đoàn 48 sư đoàn 320, đơn vị nhận nhiệm vụ mở cánh cửa sắt hướng Tây Bắc cho đại quân ta  tiến về giải phóng Sài Gòn lại bồi hồi nhớ lại cái thời khắc lịch sử ấy.


11 giờ 30 phút ngày 29-4-1975, ta hoàn toàn làm chủ căn cứ Đồng Dù, các chiến sĩ của Tiểu đoàn Đống Đa giật lá cờ sọc dưa trước Chỉ huy sở Sư đoàn 25 Ngụy xuống và trịnh trọng treo lá cờ Tổ quốc nền đỏ sao vàng lên. Thế là “cánh cửa sắt phía Tây Bắc Sài Gòn bị phá vỡ tung”ª


 


                                         Hồi ức của đại tá Đinh Hữu Tấn


                                        Nguyên phó chính ủy sư đoàn 320


Nguồn: Rút từ Cửa Hà, dòng sông gấm. Ký của Nguyễn Liên. NXB Văn học, 2008.


www.trieuxuan.info

trieuxuan.info