09.01.2010
Nguyễn Liên
Người kiên cường

Có một địa danh nằm ở vùng ven thị xã Buôn Ma Thuột trong thời kỳ chiến tranh, ba mươi tám hộ dân nơi đây đã bất chấp gian khổ, ác liệt, hy sinh đấu tranh kiên cường với Mỹ Nguỵ, không dồn dân lập ấp. Cả vùng đất biến thành cơ sở cách mạng trong lòng địch, mỗi người dân dù già hay trẻ đều là một giao liên làm cầu nối giữa chiến khu với các cơ sở nội thành góp phần làm nên chiến thắng Buôn Ma Thuột 10-3-1975 đi vào lịch sử của dân tộc. Địa danh ấy là thôn Kiên Cường. Ngày nay thôn Kiên Cường đổi thành thôn I xã Hòa Thuận, TP. Buôn Ma Thuột. Những chiến sĩ cách mạng từng được nhân dân nuôi giấu, có người trở thành Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch tỉnh, người đeo quân hàm cấp tướng trong quân đội hoặc những người đã về với đời thường – trong lòng họ, con người và vùng đất ấy mãi mãi mang cái tên Kiên Cường.


Nghe tin anh Bế Văn Nhót, một cựu cán bộ binh vận của Dak Lak trong chiến tranh, là thương binh nặng hạng ¼ sau 30 năm đất nước thống nhất, từ Trại điều dưỡng thương binh Thuận Thành, Bắc Ninh trở lại thăm thôn Kiên Cường, tôi đã tìm đến nhà khách Tỉnh ủy gặp anh. Từng là lính đi qua chiến tranh, tôi không khỏi xúc động trước hình ảnh người thương binh không rời khỏi chiếc xe lăn, đã vượt hàng ngàn cây số chỉ có một tâm nguyện: “Trở lại thôn Kiên Cường cảm ơn các mẹ, những người dân nơi đây đã bảo vệ, cứu sống anh, và thắp nén hương cho những đồng đội thiệt thòi hơn mình!”. Anh Đặng Đức Yến, chủ tịch tỉnh Dak Nông là đồng đội của anh Nhót đã bố trí xe đón anh từ ga tàu hỏa Nha Trang đưa về Dak Lak.


Chị Trần Thị Hòa 45 tuổi, nhà có chiếc xe chở khách từ huyện Krông Năng lên Buôn Ma Thuột, nghe tin anh Nhót về, vội vàng tìm vào nhà khách tỉnh thăm anh. Vừa thấy anh, chị đã òa khóc.


- Con bé này ngày xưa chúa gan lỳ, sao bây giờ mau nước mắt thế?


 Anh Nhót nói vậy nhưng mắt cũng đỏ hoe, anh cố ghìm xúc động quay lại nói với chúng tôi:


– Cô bé này tôi giao cho chuyển nhận tin tức với anh Nguyễn Hữu Nghị, một sĩ quan phi công lái máy bay L19, là cơ sở của ta trong sân bay Hòa Bình. Mới 13 tuổi mà nhanh nhẹn tháo vát lắm!


Có mấy người khách ùa vào thăm anh Nhót, thế là hồi ức binh vận của anh với Hòa bị ngắt lại. Anh Nguyễn Hữu Trí thông báo: “Sáng mai ta về thôn Kiên Cường, đã báo cho địa phương và bố trí xe rồi!”.


*


Đường phố Buôn Ma Thuột buổi sáng tấp nập người, xe. Anh nắng ban mai chiếu vào tượng đài chiến thắng trung tâm Ngã Sáu làm ánh lên những tia nước đang phun thêm lung linh. Ba chiếc xe ôtô chở những cựu binh vận cùng anh Nhót chạy về hướng Bắc thành phố, tới thôn Kiên Cường. Anh Nhót không ngớt lời khen: “Buôn Ma Thuột thay đổi nhiều quá!”. Qua khu chợ Đạt Lý rẽ trái, con đường nhựa chạy tít tắp vào ngút ngàn màu xanh cà phê, cao su… Anh Nhót rướn người lên chỉ cây cầu gỗ dưới chân dốc phía trước, đấy là ranh giới giữa Đạt Lý I với Đạt Lý II (sau này là thôn Kiên Cường), nhân dân Kiên Cường đánh sập chiếc cầu này không biết bao nhiêu lần ngăn không cho xe địch vào dồn dân ra Đạt Lý I. Cây goòng còn kia, năm bảy ba (1973) Hiệp định Pari ký kết ngừng bắn, nhân dân ta quyết giữ lá cờ giải phóng cắm trên đó không cho địch hạ xuống, dân ở đây kiên cường lắm, đấu tranh giữ từng tấc đất.


Ba chiếc ô tô đỗ trước khu sân bê tông rộng lớn nhà ông Lê Hải Nam, Bí thư Chi bộ thôn Kiên Cường. Các mẹ, các chị, các đồng đội anh Nhót ào ra, mở cửa xe, xúm tay nâng chiếc xe lăn có anh Nhót ngồi bên trong, không khí thật ấm áp nghĩa tình. Người nắn vai, cầm tay, nâng đôi chân bị liệt, rồi kéo khăn lau nước mắt. Anh Nhót nhìn từng người, môi giật giật, mắt đỏ hoe. Thì ra cả thôn từng là những người cưu mang anh em binh vận, tất cả những người ân cần kia từng là đồng đội của anh. Trong đó thấy cả bác Huỳnh Văn Cần nguyên Bí thư Tỉnh ủy Dak Lak, anh Đặng Đức Yến Chủ tịch tỉnh Dăk Nông, anh Nguyễn Hữu Trí nguyên Giám đốc Sở Khoa học Công nghệ, chị Liên giám đốc Sở Tài chính Dak Lak… tất cả phút chốc như trẻ lại. Họ hỏi han, ngắm nghía anh như đang chứng kiến một người thân mới tuột khỏi tay tử thần trở về. Phút chốc họ như sống lại cái thời từng gắn bó đấu tranh với vùng đất trung dũng kiên cường này.


*


Năm 1961, Ngô Đình Diệm thực hiện chính sách ly gián cách mạng. Một trăm năm mươi hộ dân từ đất cách mạng Quảng Nam bị chúng đưa lên Tây Nguyên, cho ở gần trung tâm Buôn Ma Thuột để dễ bề kiểm soát, nhưng lại phải ở vùng ven sát cửa rừng, cách ly khu dân cư đông đúc, thành lập riêng một xã gọi là Đạt Lý II. Chúng đâu ngờ chỉ một thời gian sau, những người dân cách mạng Đạt Lý II và những người đi làm cách mạng ở chiến khu đã tìm thấy nhau. Ông Nguyễn Duy Hiệu từng làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến xã Thăng Phương, huỵên Thăng Bình, Quảng Nam. Lên Tây Nguyên ông hành nghề bốc thuốc, xem tướng số. Thầy Hiệu có uy tín gây được lòng tin với bọn sĩ quan Ngụy, chúng thường lui tới xem vận mệnh và được ông cho uống rượu. Có lúc chuốc rượu cho chúng say, ông lục xem tài liệu nhớ lấy những tin tức quan trọng báo cho Khu biết. Có lần sắp có trận càn, tên chỉ huy nhờ ông xem ngày giờ xuất hành, ông can rằng: “Lần này đi lành ít dữ nhiều, ông sĩ quan giả bệnh để tránh đi là tốt nhất!”. Tên chỉ huy lo lắng về viện cớ bị bệnh, trận càn được thay tên khác chỉ huy. Lần ấy ông báo cho quân ta phục đánh, bọn địch bị thương vong nhiều, uy tín của thầy nổi lên như cồn càng được chúng tin. Nhà ông Hiệu có bốn người con gái, tất cả đều tham gia công tác binh vận. Chị Nguyễn Thị Cúc, Nguyễn Thị Hoa sau đó thoát ly lên cứ; còn lại Nguyễn Thị Trưng và Nguyễn Thị Thanh ở lại ban binh vận.


Chị Trưng kể: “Ngày được giao nhiệm vụ tôi mới mười ba mười bốn tuổi, các chú đặt cho cái tên hoạt động là Tâm. Sau khi kiểm tra trí nhớ, tôi được giao nhiệm vụ đi nhận dạng, bắt liên lạc với một người mặc áo véc màu vàng, đầu đội mũ phớt màu nâu tại hiệu thuốc tây số 80 đường Quang Trung. Tới đúng địa chỉ phát hiện người có bộ dạng cần tìm, tôi thản nhiên reo lên:


- Chú có phải chú Ba không?


- Ủa, cháu là Tâm phải không?- Người khách cũng nhận ra như tình cờ.


- Dạ.


- Ở nhà chú Tư có khỏe không cháu?


Chú Ba vừa nói vừa đưa tờ giấy cuộn bé xíu vào tay tôi, không ai hay biết gì.


Cuộc liên lạc đầu tiên hoàn thành, lần sau chị được đi thẳng đến ngôi nhà đường Hàm Nghi (nay là Trần Phú) để trao đổi tài liệu. Sau nữa Trưng được gặp trực tiếp một sĩ quan Ngụy tại căn cứ sư đoàn 23 để liên lạc. Bây giờ nhớ lại, chị vẫn cảm thấy chan chứa niềm tin và lòng tự hào, bởi dù khó khăn đến đâu, chị vẫn hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách xuất sắc.


Thôn Kiên Cường không thiếu những gia đình mà cả nhà tham gia cách mạng như gia đình ông Hiệu. Chị Trưng lấy cho tôi xem giấy chứng nhận công tác binh vận do thiếu tướng Y Blôk ÊBan ký, giấy khen của Ban Binh vận cấp do ông Nguyễn Hữu Trí ký, và chị còn đưa cả tấm ảnh những giao liên binh vận xuất sắc được khen thưởng năm 1975, trong đó có hai chị em chị Trưng.


*


Sau cuộc tổng tiến công Mậu Thân 68, địch phát hiện người dân Kiên Cường vẫn mang trong mình dòng máu cách mạng, chúng liền bắt bớ tra tấn. Biện pháp “cương” không được, chúng chuyển sang “nhu”. Đầu năm 1969, địch dùng chính sách “bình định”, đưa hai đoàn tâm lý chiến vào Kiên Cường “cùng ăn, cùng ở cùng làm” với dân. Nhưng yêu ghét trong lòng người dân vẫn phân định rõ ràng. Bà Võ Thị Hường kể: “Tôi bỏ gạo vào trong can nhựa chuyển cho bộ đội, giống như người đem nước đi làm rẫy”. Sự khôn khéo của những người dân nơi đây đã làm kế hoạch của địch thất bại. Bình định được nửa năm không kết quả gì, chúng đành rút và chuyển sang kế hoạch dồn dân tập trung ra Đạt Lý I ở chung với những người chống Cộng, đồng bào không chịu. Đường vào Kiên Cường (Đạt Lý II) có cây cầu gỗ bắc ngang suối rộng bị đánh sập lên sập xuống nhiều lần ngăn không cho xe quân sự vào dồn dân. Địch lại tăng cường các cuộc càn quét, giết chóc, đốt nhà. Chiều chiều bọn địch vào gài mìn dày đăc quanh làng, sáng ra chúng lại vào gỡ mìn hòng “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Nhưng có hàng rào nào cản nổi ý chí lòng dân, người dân Kiên Cường mưu trí vẫn tìm được lối đi dẫn bộ đội vào làng nhận lương thực, thực phẩm, nhận tài liệu an toàn.


Năm 1973, sau hiệp định Pari, bên nào ở đâu ở nguyên đó; cờ Giải phóng bay phấp phới trên cây goòng. Bọn địch tập trung tứ phía tìm cách lấy cờ, chiếm đất. Có lần chúng vào Kiên Cường bắt dân trèo lên cây lấy cờ xuống, mọi người nói: “Lên đó dính đạn, ai lấy xác xuống!”. Trần Thị Hòa là con gái út của bà Võ Thị Hường, bố cô hy sinh năm 1972, lúc ấy Hòa chừng mười ba mười bốn tuổi. Hòa đang ngồi nấu cơm, tên sĩ quan bảo: “Nhà mày là Việt Cộng, trèo lên cây không bị bắn đâu!”. Hòa cãi: “Tôi không biết trèo!”. Tên sĩ quan liền đổ nồi cơm trên bếp của Hòa, cô căm giận đứng dậy quát vào mặt tên giặc: “Đồ bán nước. Đây, bắn tao thì bắn đi!”.


Tấm lòng của người dân Kiên Cường là vậy. Từ hơn một trăm nóc nhà, do địch đốt phá, o ép, đời sống của dân cực khổ… cuối cùng còn lại 38 nóc nhà. Ba mươi tám hộ gia đình vẫn bám trụ kiên cường, vẫn cùng Ban binh vận làm cầu nối giữa căn cứ với nội thành cho tới ngày đất nước toàn thắng. Bà Hường khẳng định: “Nếu có một gia đình ở đây phản động thì làm sao giải phóng được!”. Ba mươi tám hộ dân Kiên Cường thì có ba mươi sáu liệt sĩ, mười một thương bệnh binh, những chiến sĩ binh vận từng ở Kiên Cường hiện vẫn còn bảy mươi liệt sĩ chưa tìm được.


*


Anh Nhót nhớ lại, lần ấy do công việc khẩn cấp, không đợi được người dẫn đường, các anh quyết định vào làng thì vấp mìn. Tổ có ba người thì anh Ngoan, anh Ba hy sinh tại chỗ, anh Nhót thương tích đầy người, bất tỉnh; nhân dân vội đưa các anh ra ngoài cứ, rồi từ đó không ai nhận được tin tức gì. Hơn ba mươi năm, nay trở lại trong sự vui mừng nghẹn ngào của những người dân thôn Kiên Cường anh Nhót xúc động nói với chúng tôi: “Ở Kiên Cường này, mỗi người dân đều xứng đáng là một anh hùng. Bộ đội thoát ra rừng còn dễ, những người ở lại trực tiếp đấu tranh với kẻ thù là cả một sự khó khăn, gian khổ, hy sinh!”


Hiện nay Kiên Cường có 280 hộ dân, tự hào với truyền thống cách mạng, đồng bào luôn dẫn đầu trong cuộc đấu tranh xóa đói nghèo vươn lên xây dựng cuộc sống mới ấm no hạnh phúc. 90% hộ gia đình có xe công nông, xe máy, ti vi. Kiên Cường không có hộ đói nghèo.


Niềm vui ấy vẫn còn day dứt không trọn vẹn khi biết rằng thôn Kiên Cường đã nhiều lần làm hồ sơ đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang. Nhưng Nhà nước ta chưa có quy chế phong tặng danh dự ấy ở cấp đơn vị thôn.


Chiến tranh đã đi qua ba mươi năm, đất nước có biết bao đổi thay. Những cán bộ chiến sĩ Ban binh vận năm xưa nay trở lại vùng đất Kiên Cường gặp lại những con người trung dũng trong chiến tranh, giờ đây trong xây dựng cuộc sống mới, họ vẫn đang lặng thầm cống hiến ª


                                                       


                                               Tháng 10-2004


Nguồn: Rút từ Cửa Hà, dòng sông gấm. Ký của Nguyễn Liên. NXB Văn học, 2008.


www.trieuxuan.info


 

trieuxuan.info