Như một chàng trai Êđê thực thụ, thân hình dong dỏng, nước da gỗ mun, tóc bồng bềnh quấn ôm lấy cổ vai, nhưng cứ nhìn cái mũ phớt luôn gắn trên đầu, chân xỏ đôi giày ghệt mầu đen cao cổ, ai đó gặp anh lần đầu lại liên hệ tới một nhân vật cao bồi trong bộ phim nào đó của Mỹ. Bên hông, trước ngực lủng lẳng đồ nghề máy ảnh, ngồi trên chiếc Vespa cũ kỹ phóng bụi mù, người dân Dak Lak đã trở nên quen thuộc với một con người có diện mạo“bụi bặm” như vậy rong ruổi khắp các ngóc ngách rừng núi buôn làng đi săn tìm cái đẹp thu vào ống kính, đó là nghệ sỹ nhiếp ảnh Cảnh Dương. Đúng như chân dung ví von tự họa của anh: Tôi như loại cúc quỳ hoang dại/ Cứ vàng xanh với đời/ Lem luốc bụi nhân gian...
*
Không ngờ người nghệ sỹ có dáng dấp bề ngoài hầm hố có duyên nói chuyện dễ thu phục lòng người lại còn sáng tác cả thơ nữa, thơ anh viết ít nhưng mang tính triết lý sâu sắc. Tôi nhập làng văn nghệ Dak Lak nghe người ta nói nhiều về chàng lãng tử Cảnh Dương, khen cũng có, chê cũng có, đại loại theo tôi hình dung thì chàng trai này sống tùy hứng, bất cần. Thế nhưng khi làm việc tiếp xúc với nhau tôi lại có sự điều chỉnh về lối suy nghĩ hữu khuynh của mình. Một lần anh cùng tôi đi Bản Đôn với cánh nhà văn Hà Nội vào, nhà thơ Đỗ Thị Tấc yêu cầu được chụp chung một tấm hình với Cảnh Dương. Anh gỡ máy ảnh đeo ở cổ ra nhờ tôi bấm, rồi vẫn nguyên chiếc mũ phớt như vậy ngồi kề nữ thi sỹ, Đỗ Thị Tấc bảo: “Đặc trưng Tây Nguyên ở đây chứ đâu xa!”. Nụ cười trắng lóa làm thẫm thêm nước da đen ròn của người nghệ sỹ. Cảnh Dương nói với tôi: “Ông thấy chưa, toàn phụ nữ yêu quý mình, nhưng mình cứ mang tiếng là hay tán tỉnh phụ nữ”. Đêm đó tôi và Cảnh Dương ngồi liêu diêu bên ly cà phê, anh đốt thuốc lá liên tục, kể cho tôi nghe về chặng đường gắn bó anh với Tây Nguyên. Thời kháng chiến chống Mỹ, Cảnh Dương là lính đặc công tham gia tại mặt trận Tây Nguyên, anh bị thương trên đất M’drăc. Không hiểu nhầm lẫn thế nào mà sau khi đất nước thống nhất, anh trở về quê hương Phú Thọ thì người vợ đã cầm cái giấy báo tử mãn tang đi bước nữa. Không muốn khuấy động sự an bài đã sắp đặt cho số phận, anh khoác ba lô lên đường trở lại vùng đất cao nguyên đầy nắng gió cùng nỗi buồn trớ trêu của cuộc đời. Anh nói: “Lúc ấy chỉ muốn trút giận vô cớ, đã có những băng nhóm dao búa tôn anh làm đại ca, nhưng bản lĩnh của người lính níu chân anh lại”. Thế rồi bàn tay quen cầm súng chuyển sang cầm máy ảnh, cầm bút, anh có mặt khắp các buôn làng Tây Nguyên ghi lại những hình ảnh, tìm hiểu về những tập tục, đặc biệt cuộc sống con người, những sinh hoạt văn hóa truyền thống đã gây men lòng đam mê đến mức anh yêu quý từng nếp da nhăn nheo của cụ già M’nông, đôi tay dệt thổ cẩm của người con gái Êđê, cái ché đựng rượu cần, vòng xoang, điệu chiêng, cái gùi trên lưng, gốc cây trong rừng... đều trở thành hình ảnh mang dấu ấn thời gian, khoảnh khắc lịch sử của một vùng đất.
Lần ấy tôi đến thăm anh tại số 2 Nguyễn Tri Phương, thành phố Buôn Ma Thuột. Trong căn nhà chiều ngang chừng 5 mét, chiều sâu mười mét có hai lượt ngăn, ở giữa phòng ngủ, cuối là bếp, ngoài phòng khách kê một bộ bàn ghế bằng gốc cây, góc nhà dựng gốc cây cà phê được tạo thành loại gỗ lũa trên đó treo chung chiêng những quả bầu khô, cái gùi nhỏ, giò phong lan... ngoài hiên xếp đủ loại đôn bằng gốc cây; trên tường những bức ảnh nghệ thuật phóng to được lồng trong khung gỗ trạm trổ những họa tiết đặc trưng Tây Nguyên, anh vui vẻ giới thiệu cho tôi biết về nguồn gốc mỗi bức ảnh mà anh nặng lòng có được. Tác phẩm Múa khiên Êđê chụp chếch ngược ống kính tạo cho chàng trai Êđê tay khiên tay kiếm tung bay như chàng Đam San huyền thoại, tác phẩm nhận giải cuộc thi ảnh TDTT toàn quốc. Cũng từ góc độ thấp chụp chếch Già làng M’nông đóng khố, dao đeo ngang hông, vai vác chiếc ché to tạo cơ da săn chắc chun lại, đứng sừng sững như ngọn núi; Người mẹ Tây Nguyên được trao bằng danh dự ở Tiệp Khắc; chùm ảnh về voi được trao bằng danh dự tại Liên Xô v.v... và Cảnh Dương được công nhận Nghệ sỹ nhiếp ảnh Việt Nam đầu tiên của tỉnh Dak Lak.
Cảnh Dương có duyên nói chuyện, thả hồn hóa thân vào mỗi câu nói, đã ngồi với anh khó mà dứt ra được, cái chân thật ruột gan đó làm tôi quý anh. Ngôi nhà tưởng sở hữu của anh hóa ra nhà thuê, lại còn những đứa con đứa cháu ngoài quê vào để anh lo thụ nghề, lo ăn ở, tôi biết đó là nỗi lo thường nhật trong anh không tên tuổi, vậy mà mỗi khi cầm máy ảnh trên tay là đầu anh gác lại tất thảy dành tất cả trái tim cho sự đam mê nghề nghiệp, cho con người, vùng đất anh nguyện gắn bó. Nhà Dân tộc học người Pháp tên George Comdominas năm 1940 ông đã có mặt ở Dak Lak, đến năm 1998 có dịp trở lại nghiên cứu về dân tộc M’nông đã tiếp nhận từ Cảnh Dương ba mươi tác phẩm ảnh phản ánh về đời sống sinh hoạt của đồng bào M’nông đem về trưng bày tại Viện bảo tàng nhân chủng học Paris.
*
Cảnh Dương giới thiệu với tôi về những đồ gỗ mỹ nghệ bằng gốc cây là do xưởng của anh làm. Thì ra Cảnh Dương lại còn là một nghệ nhân gỗ lũa cơ đấy. Khi chuẩn bị nội dung cho chuyên mục Văn học Nghệ thuật trên sóng truyền hình tỉnh, tôi khai thác ngay khía cạnh nghệ nhân của người nghệ sỹ. Gọi xưởng cho nó oai chứ thực ra nó là một khu đất không được rộng lắm chỉ toàn gốc cây cà phê tầng tầng lớp lớp, Cảnh Dương hỉ hả vì đã tận thu được nguồn nguyên liệu quý giá những gốc cà phê có tuổi khai sinh từ thời Pháp thuộc, gân guốc, u sần. Trong căn nhà cột gỗ lợp tôn đặt cái máy cưa nhỏ, cái bào, ít phụ liệu đánh bóng và 2 thợ kỹ thuật đang chau chuốt gốc cây. Thực ra đây là loại nghệ thuật khó tính không thể nhiều người làm, không thể sản xuất hàng loạt. Dựa trên hình thù mỗi gốc cây để tạo ra bàn ghế, giường tủ, giá đỡ... do anh “thiết kế”, theo trí tưởng tượng của mỗi người mà nhận ra những hình thù sống động: Già làng đánh chiêng, thiếu nữ vác bầu nước v.v... Anh nói với tôi: “Mong muốn thông qua sản phẩm gửi thông điệp tới mọi người, không chỉ dừng lại ở sản phẩm đồ gỗ mà nó là cái đẹp hoàn hảo của thiên nhiên ban tặng cho con người” và anh ước ao: “Sẽ mở được lớp truyền dạy cho thanh niên dân tộc như một thứ nghề truyền thống tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có. Đã có thương hiệu cà phê Buôn Ma Thuột, hy vọng cũng sẽ có thương hiệu gỗ lũa từ cây cà phê Buôn Ma Thuột”.
Nghệ sỹ nhiếp ảnh Cảnh Dương không chỉ mang đặc trưng Tây Nguyên ở dáng vóc ngoại hình như nhà thơ Đỗ Thị Tấc nhận xét mà tôi thấy cái đặc trưng cho vùng đất đỏ bazan ấy nó còn thấm vào dòng máu, hơi thở, tư duy nữa; cứ khách quan nhìn nhận mà xem, bộ ảnh ghi lại vùng đất con người Tây Nguyên, sản phẩm gỗ lũa đậm đặc chất Tây Nguyên thì thấy nó đã tạo thành bức tượng đài bằng hình ảnh trực quan đó sao?
*
Cách đây ba năm tôi đột ngột nghe tin con người chai sạn nắng gió Cảnh Dương lâm căn bệnh quái ác: ung thư, phải nằm viện Thành phố Hồ Chí Minh. Một thời gian sau lại đã gặp anh vác máy ảnh đi Dak Nông kèm theo lời lạc quan: “ Cắt bỏ rồi!”. Nhưng ít lâu sau lại nghe tin anh nằm bẹp do di căn. Tôi hỏi thăm nghệ sỹ ưu tú Mỹ Thanh là bạn thân của Cảnh Dương mới về Buôn Ma Thuột, chị bảo: “Lại đang dưới xưởng ấy!”. Mong cho bệnh tật lùi xa anh, tôi nghĩ vậy. Cuối năm vừa qua tôi gặp Cảnh Dương tại Đại hội Văn học Nghệ thuật Dak Lak, trên tay vẫn chiếc máy ảnh, nhưng sắc thái xấu đi nhiều, chỉ cái miệng là vẫn trắng lóa nụ cười. Anh nói: “Biết chắc cái chết đang đến, bi quan nó càng nhanh đến hơn. Còn sống ngày nào mình còn tranh thủ làm việc, còn sáng tác. Mình mong còn cầm cự được với nỗi đau bệnh tật, sau tết Đinh Hợi này sẽ tổ chức được Triển lãm cá nhân giới thiệu với công chúng những hình ảnh về vùng đất, con người Dak Lak gian khổ, kiên cường, có nền văn hóa phong phú, sống nghĩa tình mà mình đã ghi lại trong ba mươi năm qua, sau đó nằm xuống là không còn ân hận gì nữa”.
Mới đây tôi nghe tin anh yếu quá không gượng dậy được nữa, lúc ấy anh lại nhớ đất quê da diết. Tỉnh Dak Lak đã cho một chuyến xe trở anh về Phú Thọ. Vậy là anh không thực hiện được ước nguyện Triển lãm của mình, anh trao lại toàn bộ số tác phẩm ảnh đó tặng cho Tỉnh lưu giữ coi như kỷ vật của anh dành cho Dak Lak. Bạn bè đồng nghiệp ít người biết ngày anh lên đường, người có thể nối nhịp cầu thông tin này là Mỹ Thanh thì chị lại đang ở tít tắp Lào Cai. Nằm trên xe anh khóc to thành tiếng như đứa trẻ phải xa anh em người thân, xa vùng đất anh từng gửi gắm bao kỷ niệm mà biết chắc sẽ không còn được nhìn thấy nữa. Nghe vậy bỗng dưng văng vẳng trong tôi vang vọng bài thơ Hóa thân của anh sáng tác, anh thường đọc.
Tôi muốn hóa thân vào truyền thuyết cổ xưa
Để cùng chàng Đam San
đi tìm nữ Thần Mặt trời lấy lửa
Hóa thân làm rêu phong trên vách đá
Để nghe tiếng ai gào trong tình sử H’ Linh
Hóa thân vào ngàn vạn tiếng chiêng ngân
Đi chín núi mười sông
báo tin vui hội hè hay xung trận.
...
Không hiểu sự hóa thân đến đâu, nhưng một người nặng lòng với vùng đất đỏ bazan như Cảnh Dương, tôi tin, hình ảnh của người nghệ sỹ như cây cúc quỳ hoang dại vẫn vàng xanh với đời ª
5-2007
Nguồn: Rút từ Cửa Hà, dòng sông gấm. Ký của Nguyễn Liên. NXB Văn học, 2008.
www.trieuxuan.info
|