16.01.2010
Nguyễn Liên
Một lần đi săn

Ông Ama Đê, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân thị trấn Dak Mâm, huyện Krông Nô. Vợ ông quê ở vùng hồ Ear Bin. Ông hứa hẹn mãi sẽ đưa tôi về thăm. Là một xã nằm ngay cửa rừng đặc dụng khu bảo tồn Nam Ka, phần lớn cư dân ở đây là người Eđê, M’nông còn giữ được nhiều phong tục tập quán mang bản sắc truyền thống. Thời Pháp thuộc thằng Tây đã chú ý tới khu rừng già nhiều sản vật quý mà tổ chức các cuộc thăm viếng bằng súng đạn. Ngày nay khách “Tây du lịch ba lô” cũng chẳng quản ngại đường khó tìm đến Ear Bin để được cưỡi voi thăm hồ, ăn nghỉ dân dã. Nghe ông Ama Đê nói đã hẹn với trong ấy rồi, tôi quyết định không bỏ lỡ dịp may.


Những người con của già làng Y Khoih sau khi cho người lên rẫy báo cho già làng biết nhà có khách, rồi hỏi tôi có mang võng, mùng màn không; trong hồ nhiều muỗi lắm đấy! Câu nhắc nhở làm tôi hơi chùn. Định bụng, quãng đường chưa đầy bốn cây số, tối từ hồ về buôn ngủ thì hơn. Tôi khấp khởi lên đường.


*


Chứa trên lưng con voi ngoài hai người quản tượng kiêm thợ săn còn có ông Ama Đê với tôi là khách và ông chủ tịch xã Ear Bin – Ama Hiệp. Nào súng đạn, bao bì, xoong nồi, túi xách lỉnh kỉnh; đã vậy con voi còn phải kéo thêm một chiếc thuyền gỗ và hai người thợ săn ngồi trên đó. Quãng đường từ buôn ra đến hồ chưa đầy bốn cây số nhưng tới gần ba cây số sình lầy, thành thử thời gian như giãn ra. Ngồi lắc lư trên lưng voi mà thương cho hơn một trăm năm mươi hec ta cánh đồng lúa nước hai vụ, nguồn cung cấp lương thực chủ yếu cho người dân Ear Bin bị lũ vùi dưới sình. Vớt vát được một vụ đông xuân nhưng cũng bấp bênh không chắc ăn. Từ năm 1998 trở lại đây, không năm nào là không có lũ tràn về. Đặc biệt là trận lũ lịch sử năm hai ngàn, người dân nơi cửa rừng ven sông này phải chạy tuốt lên đồi cao sống cảnh màn trời chiếu đất. Nhiều người gom cả đời để có được mái nhà, cái tủ, xe máy, cả những bộ chiêng, bộ ché của cha ông để lại, phút chốc bị thần nước nuốt chửng. Người dân Ear Bin bảo gần năm mươi năm nay lại mới có trận lũ lớn như vậy, thất thiệt, đau đớn quá. Các nhà nghiên cứu thì khẳng định hậu quả do con người phá rừng làm mất cân đối môi truờng sinh thái mới sinh ra. Đầu chủ tịch Ama Hiệp như bị giăng tơ, không tìm ra cách giải thoát những khó khăn cho dân, một xã vùng sâu đặc biệt khó khăn hiếm thấy ở đâu còn khó khăn hơn thế, có đến tám mươi phần trăm hộ đói nghèo. Nhìn những bông lúa lưa thưa ngoi lên từ bùn, những ngón tay nâng niu nhặt bỏ vào gùi, Ama Hiệp giải thích:


- Lúa mẹ bị lũ vùi chết rồi, bây giờ lúa con chồi lên muộn đấy!











 




Con người ở đồng đất nông nghiệp từng một nắng hai sương cũng chỉ mong cho cây lúa tốt tươi, nhiều bông nhiều hạt cái bụng mới đỡ đói. Nhưng lũ cuốn vùi cuốn dập, gom nhặt được hạt nào của thiên nhiên để sót cũng là vì cuộc sống nhưng cũng vì lòng tiếc thương mồ hôi công sức của mình. Bỗng tôi thấy nhói lên chút cảm thông cho những người phải chọn nghề săn bắt để mưu sinh.


Gần ba tiếng đồng hồ ì ọp nghiêng ngả, qua được khỏi sình lầy thì mặt nước mênh mang hiện ra. Hồ Ear Bin có chiều rộng chừng một cây số, chiều dài độ ba cây số, giữa hồ nổi lên một cù lao trên đó có hai cái lán của người đi săn cá xen trong những tán cây trĩu xuống mặt nước. Tôi dang rộng cánh tay đón ngọn gió trong lành vào lòng, hít một hơi thật sâu cho người nhẹ nhõm  y như chính tôi vừa lầy thụt lội qua chặng sình lầy vậy. Nửa vành hồ bên kia đối diện với sình là rừng già ngút ngàn, nếu ai đó có dịp đến thăm hồ Ear Bin vào dịp cuối đông, sang xuân không khỏi ngây ngất bởi màu vàng của hoa mai lan kín rừng. Thấp thoáng ven vành hồ là những mái lán của người đi săn cá, măt hồ dềnh sóng bởi những con thuyền của người săn bắt cá. Tôi liền lấy máy ảnh ra thu vào ống kính cảnh người chài lưới trên hồ, đôi chân người săn cá nhịp nhàng chèo lái, đôi tay cứ thoăn thoắt kéo lưới, thoang thoảng đâu đó thơm lựng mùi cá nướng, phút chốc tôi như được trở lại thuở hoang sơ. Chúng tôi tập kết ở một chiếc lán của người đánh cá bỏ trống thì trời đã chuyển sang chiều. Hai người đeo súng dẫn bốn con chó săn luồn theo đường rừng cũng vừa kịp vào đến nơi. Họ bắt tay vào nhóm lửa, vo gạo, nấu nướng, nghỉ ngơi đợi đêm xuống đi săn. Tôi theo Ama Thanh chèo thuyền tới mấy lán tập kết của thợ đánh bắt cá xin viện trợ thực phẩm cho bữa chiều. Chợt có tiếng gọi, theo tay vẫy thuyền chúng tôi trườn vào phía cái lán được dựng gán vào một gốc cây to, những đoạn gỗ đỡ sàn lán cắm xuống nước. Ama Thanh cho mũi thuyền chui vào đó chen cùng mấy cái thuyền khác. Tôi vất vả rời mui thuyền tròng trành bước lên bậc thang buộc bằng cây le, chưa thò đầu lên khỏi mặt sàn bỗng một giọng nói phủ đầu:


- Anh là nhà báo phải không. Làm ở báo nào?


Tôi đưa mắt điểm nhanh các gương mặt đang ngồi trên sàn, chừng chục người, người lớn nhất độ trên bốn mươi tuổi, người nhỏ cũng chừng mười sáu mười bảy, có người đầu cạo trụi long lóc, lại có người để tóc chấm vai, mấy chục con mắt đổ dồn vào tôi thăm dò. Tôi trèo lên khỏi bậc thang, thả người ngồi xuống sàn mới bắt chuyện:


- Mình cũng như anh em thôi. Anh em tìm kế mưu sinh cũng vì cái dạ dày, mình đi tiếp cận thực tế tìm hiểu văn hoá dân gian, cũng vì cuộc sống, vậy thôi.


- Vậy thì được!


Người nhiều tuổi tỏ ra yên tâm nhưng vẫn kèm theo lời răn:


- Viết gì thì viết, đừng nên đụng vào miếng cơm manh áo của bọn này.


Nói xong anh ta ra hiệu cho đám người đang xoi xét, tất cả nhanh chóng đứng dậy, mỗi người một việc, nồi thịt rắn, nồi cá luộc, nước mắm chế gừng tỏi ớt… lần lượt đặt xuống sàn. Rượu đế được rót từ can ra ca nhựa, người lớn tuổi nâng dốc vào miệng đánh ực, rồi chêm ca khác mời khách, cứ thế lần lượt xoay vòng trò chuyện. Thì ra nghe tin có nhà báo ra hồ Ear Bin, do tính cẩn trọng, Trưởng trạm kiểm lâm cửa rừng đặc dụng đã cử một nhân viên “chạy trước” báo cho dân đánh cá dẹp bớt những đồ đánh bắt bằng xung điện kẻo mang tiếng để ảnh hưởng môi trường sinh thái. Những con người đang ngồi nhấm nháp rôm rả kia, ai biết họ đang gánh trên vai cả quãng đời cực nhọc. Những con người từ nhiều miền quê khác nhau cư trú dọc triền hai con sông Krông Nô, Krông Ana lại có chung một hoàn cảnh lũ lụt đẩy họ vào khốn cùng phải lận dận tìm mọi kế mưu sinh. Ngồi uống rượu mà mắt cứ ngong ngóng gửi  vào sóng nước mênh mông. Duy nhất có anh chàng kiểm lâm luôn tươi cười thăm dò khách. Xong “tiệc” họ lại lần lượt xuống những con thuyền lá tay lưới chân chèo oàm oạp như những thân cò lặn lội gom cá vào lòng thuyền, sáng ra dồn vào sọt vào bao lội qua sình lầy rồi vượt sông sang chợ. Mỗi ngày cũng dắt vào bao được dăm bảy chục ngàn. Mải mê với chuyện săn bắt cá tôi không còn đủ thời gian để về buôn. Đúng ra do sình lầy cản chân, đành ở lại với những người đi săn thú. May mắn ông Ama Đê đã nhường tôi chiếc võng hai lớp được chuẩn bị từ trước. Tôi gấp mép quấn kín người mà muỗi rừng vẫn vo vo đua nhau cắm vòi qua hai lớp vải, tôi lại nghĩ đến sức chịu đựng của những người làm bạn với rừng, với hồ, với cả muỗi quanh năm ngày tháng bám trụ ở đây. Bên đống lửa tỏa ra hơi ấm những người đi săn thú vẫn ngồi trò chuyện đợi trăng ung. Nhưng càng khuya trăng càng sáng tỏ, trong tiếng nổ lách tách của củi đã xen những tiếng thở dài. Tôi bật dậy thức cùng những người thợ săn. Gió rít lên ào ào từng đợt xô những con sóng đánh vỡ vụn ánh trăng đang trải bạc lên mặt hồ. Tiếng mái chèo khua vào đêm rõ dần rồi có tiếng ai đó dưới thuyền gọi lên cho người trên bờ mớ cá để thêm tươi bếp lửa. Chừng như đã khuya, một người nói: “Trăng sáng quá. Ngủ đi, sáng mai ta tính!”. Họ bàn nhau rồi chui vào các tấm trăn mỏng quấn kín đầu. Tiếng gọi cho cá lần nữa thì trời mờ mờ sáng. Họ lục đục nhóm lửa, bắc nồi, đưa mắt săm soi vào phía ngọn rừng còn giăng kín màn sương mà ngán ngẩm luyến tiếc một đêm vô vị với các họng súng săn. Hơi nước quấn trắng mặt hồ, những con cò con vạc ngâm chân dưới nước say sưa mò cá, nghe tiếng mái chèo đập nước của người đi gỡ lưới chúng nháo nhác vỗ cánh kêu coọc coọc ầm ĩ. Ama Hiệp có cuộc họp ở huyện, tôi và ông Ama Đê phải về buôn gặp già làng Y Khoih nên người quản tượng cho voi chở chúng tôi về trước, xong ông ta quay lại với các tay súng săn quyết vào rừng không chịu để chuyến đi săn trắng tay.


*


Già làng Y Khoih được báo có khách tới thăm, ông từ rẫy về nhà đợi chúng tôi từ hồi đêm. Trong hồ về đã thấy hai con voi đứng nguây nguẩy vòi trước sàn hiên, già làng Y Khoih đón tôi và ông Ama Đê vào bên bếp lửa giữa nhà ngồi uống nước trò chuyện. Đã ngoài bảy mươi tuổi mà thân hình ông còn vạm vỡ phương trượng lắm, da đỏ như đồng hun, đôi bàn tay to săn chắc còn đậm dấu ấn một thời nổi tiếng săn voi ở Dak Lak. Thấy tôi gợi chuyện về nghề săn voi già Y Khoih ngước lên gác nhà nhìn cuộn dây được bện bằng da năm con trâu xưa kia dùng để bắt voi. Thời trai trẻ ấy cuộn dây kia, bàn tay này ông đã tung hoành chấn động khắp rừng gần rừng xa; khi sung túc trong nhà ông có tới năm con voi, dân vùng Ear Bin có tới trên ba mươi con voi, rồi tận Dak Mil, Dak Nông… nhà nào có voi nuôi đều có bàn tay ông góp phần quy phục. Hiện nay vùng Ear Bin còn bốn con voi thì nhà ông có hai con, rừng Nam Ka không còn voi nữa, nghe đâu tiếng súng hạ hươu nai, trâu rừng đã làm đàn voi rừng Nam Ka kéo nhau đi tá túc tút rừng Lâm Đồng. Già làng Y Khoih nhớ những con voi rừng đến tê dại cả ngón tay, giá như chúng vẫn có mặt trong đời sống của người dân Ear Bin làm được bao việc có ích. Cũng là một nghề săn, nhưng khi dùng tới súng đạn, con người mưu sinh thì con vật phải hiến sinh. Thấy tôi ngắm bộ dàn chiêng, già làng không nhớ về chuyện voi nữa, ông giới thiệu với tôi về cái súc gỗ dày chừng non hai chục phân, dài chừng hơn chục mét được chọn cưa xẻ từ trong rừng cho voi kéo về làm ghế chiêng. Ghế chiêng kê sát hông theo chiều dài ngôi nhà, hai đầu ghế vuốt cong như đầu con thuyền rồng, một đầu gắn với bệ trống lớn. Nhà già làng Y Khoih có hai cái trống to, nghĩa là có hai dàn chiêng, ấy là tài sản quý giá còn giữ được sau đận lũ năm hai ngàn, trong khi nhiều gia đình bị nước cuốn sạch trơn. Có lẽ vậy mà dân vùng Ear Bin nơi mép sông này đều có một nhà kho cất giữ tài sản ở trên rẫy.


Dự định hỏi chuyện già làng về sự tích hồ Ear Bin, về chuyện săn bắt voi độ chập chiều qua sông bật đèn pha xe chạy về. Nhưng già làng nhất định giữ lại, mà như vậy tôi lại gặp may. Chưa tàn buổi cơm chiều, dân làng đã lần lượt cầm đuốc kéo đến; họ tự sắp xếp giúp gia chủ dựng ché rượu cần kê giữa sàn, treo từng vị trí dây chiêng thuần thục cứ như công việc trình diễn văn hoá truyền thống chào đón khách là của họ. Âm thanh trống chiêng thập thình bình boong bắt đầu nổi lên, bỗng chốc từ lòng căn nhà dài âm vọng nhạc điệu chiêng lan toả vào đêm, lan toả khắp buôn làng. Tôi và ông Ama Đê được mời lại ngồi bên ché rượu, mí BHem vít cần rượu vào môi khách, hoà vào nền nhạc chiêng Mí ngân nga làn điệu Ngơi Prá (dân ca của người M’nông):


Con đến nhà chơi, nhà không có gì


Chỉ có ché rượu


Nhớ đừng quên nhau


Đã thiết tha, sau này nhớ về lại thăm gia đình.


Thì ra đó là những lời ứng tác giống như làn điệu Xường của người Mường, hay Khặp của người Thái; thiết tha lắm mới có những lời ân tình như vậy. Sau đó Mí lại chuyển sang làn điệu Ay ray (dân ca Eđê):


Gặp anh em ở vùng sâu vùng xa


Nhà ta tuy nghèo nhưng tình cảm thì nhiều


Mong sao sau này được gặp lại…


Kể cũng lạ, người dân Ear Bin sống giữa sự xen trộn M’nông và Eđê, thành ra sinh hoạt văn hoá giao thoa của cả hai dân tộc. Say sưa trong âm điệu nhạc chiêng, với lời dân ca thiết tha, tôi vít đầy chất men được chắt ra từ lòng rừng ruột núi vào lòng, rồi ngây ngất đứng lên nắm lấy dây chiêng, cầm lấy dùi chiêng hoà vào không gian chan hoà nhạc điệu ngẫu hứng.


Chợt Ama Thanh ào vào bếp lửa như cơn gió đưa vào tay già làng một xâu thịt nai để tiếp đãi khách. Anh thông báo các tay súng săn hạ được hai con nai, thực ra chưa phải dùng tới viên đạn nào. Đoàn thợ săn có đàn chó trợ giúp đã dồn hai mẹ con nhà nai chạy từ rừng xuống lòng hồ, cứ thế họ bì bõm vừa hò hét vừa dùng gậy đập, con mẹ chừng một tạ, con nhỏ độ hai chục ký lô. Những người thợ săn xẻ thịt chia nhau, phần mang về ăn, phần chuyển ra chợ. Không hiểu lúc ấy tôi vui hay buồn, tâm trạng dấm dức tôi dồn nhịp lên dàn chiêng.


Cuộc vui kéo dài tới quá nửa đêm, mọi người lần lượt ra về còn lo công việc ngày mai. Tôi nằm không ngủ được, nghĩ về cái hồ Ear Bin gắn với truyền thuyết khai sinh một vùng đất, người ta bảo thiêng lắm, con trâu bạc dưới hồ vẫn thấy xuất hiện, con cá sấu trắng thỉnh thoảng người bắt cá còn gặp, những con vật hiền từ là thần linh của vùng hồ Ear Bin, không phá phách doạ nạt ai. Giá như hồ Ear Bin được nằm trong dự án du lịch, tổ chức voi đưa đón khách thăm hồ, mỗi căn nhà sàn là một nhà nghỉ có văn hoá rượu cần, có văn hoá cồng chiêng… thì đâu cần phải có những chuyến đi săn bất đắc dĩ mà vô tình tôi cũng trở thành người đi săn. Tôi là người dễ mủi lòng, thương cho sự nghiệt ngã của trời đất đẩy con người vào bước cùng, thương cho sự hiến sinh oan uổng của những con vật cần được con người bảo vệ, thương cho cả cái tình cái lý của tôi lâng châng vô định.


Hoá ra tất cả mọi chuyện xảy ra ở cái vùng đất ven sông cửa rừng này như không có gì xảy ra. Mấy anh cán bộ kiểm lâm từ Ban quản lý rừng bảo tồn Nam Ka đóng ở huyện Lak, ngược dòng Krông Ana, Krông Nô đi kiểm tra các trạm bảo vệ cửa rừng, nghe nói lúc chiều rẽ sóng xuôi dòng đuổi theo thuyền chở gỗ lậu, gặp rồi thì thuyền máy hiện đại của kiểm lâm không hiểu sao lại trục trặc không kèm được về trạm, vậy là ai đi đường nấy, các chàng gác rừng phải nghỉ đêm lại Ear Bin. Sáng ra tôi đi một vòng thăm chợ, thịt nai bày bán giữa thanh thiên bạch nhật. Thấy tôi hỏi nguồn thịt lấy ở đâu, người bán thịt cảnh giác tôi, bất giác tôi nhìn vào ngôi nhà xây của Trưởng trạm kiểm lâm gần đó, chợt bắt gặp những con mắt của người gác rừng đang theo dõi từng bước đi của tôi vội thụt vào khung cửa.


Bỗng tôi thấy mình đang biến thành người bị săn!


Tháng 11 - 2002


 Nguồn: Rút từ Cửa Hà, dòng sông gấm. Ký của Nguyễn Liên. NXB Văn học, 2008.


www.trieuxuan.info


 

trieuxuan.info