18.01.2010
Nguyễn Liên
Làm chồng từ thuở còn non

Sau khi bài báo “Chín tuổi đã làm chồng” của tôi đăng trên báo Dak Lak thì mọi người nửa tin nửa ngờ. Ngành chức năng hỏi ngành chức năng. Tỉnh hỏi huyện. Huyện hỏi xã. Làm gì có chuyện dựng vợ gả chồng sớm như vậy. Không phải một mà là cả cộng đồng. Không phải chuyện của ngày xưa mà là sự thật trớ trêu của hôm nay mặc nhiên tồn tại. Ai dám cấp giấy đăng ký kết hôn? Ai cho phép tổ chức đám cưới? Những người có trách nhiệm ai cũng sinh nghi mình có lỗi chăng? Xin thưa: Cưới non làm gì có giấy. Tổ chức theo tục lệ thì ai thông báo để chính quyền xã biết. Bởi đó là hủ tục lâu đời mà cộng đồng người Dao đỏ mang theo từ Cao Bằng di cư lén vào hợp thành làng sống khuất trong rừng sâu của tỉnh Dak Lak. Đầu năm 2000 được huyện Krông Nô chấp nhận chuyện đã rồi, có kế hoạch giúp đồng bào định cư ổn định cuộc sống. Đặt tên cho hai làng Dao là DakNa và DakRi thuộc địa phận xã DakRồ.


Nhà báo Đặng Vĩ thường trú Báo Gia đình và Xã hội sau khi đọc bài báo đã tìm gặp tôi ngỏ ý  muốn biết thêm về làng Dao. Vì anh ta đã lần theo địa chỉ trên báo tìm đến huyện Krông Nô, ông Phó ban Thường trực Uy ban Dân số và Gia đình huyện quả quyết là nhà báo phản ảnh không đúng thực tế, làm gì có địa danh hai làng đó! Đặng Vĩ không chịu lại vào xã Dak Rồ đòi vào làng Dao nhưng có người dọa: “Không đi nổi đâu, vào sẽ bị lạc trong rừng không có lối ra”. Tôi bảo họ nói thật đấy. Qua mười một con suối, nhiều đèo dốc, đường lắt léo chìa ra nhiều nhánh. Đồng bào gùi gạo, gùi đậu đi quen cũng mất hết nửa ngày đường mới ra được đến chợ. Ông bạn say nghề nghiệp hào hứng: “Đồng bào đi được mình cũng đi được”. Tôi thầm vui vì có thêm nhân chứng đến với làng Dao nói về một tục lệ “Cưới gả non”.


*


Trưởng thôn DakNa Đặng Phú Giáo không giấu giếm gì mà còn tỏ ra thích thú khi có người tìm hiểu về phong tục dân tộc mình. Đặng Vĩ bảo: “Trẻ con lấy vợ đưa lên báo mà nhiều người không tin đâu”. Giáo nói: “Không tin thì vào đây mà xem, Quầy Khuôn mới lấy vợ cho con đấy”. Vậy là theo hướng dẫn cuat trưởng thôn chúng tôi tìm đến nhà ông Quầy Khuôn. Đập cửa lúc lâu mới thấy một cậu bé nhợt nhạt xanh xao kéo phên cửa hé nhìn.


- Em là Đặng Kiềm Quế phải không?


 Cậu bé trân trân nhìn khách lạ: “Ừ!”


 - Vợ đi đâu?


  Tôi hỏi, cậu bé cúi xuống bẽn lẽn:


 - Đi làm.


 - Quế được 10 tuổi chưa?


 - 12 tuổi, đang học lớp một - Quế tự hào lắm.


 - Vợ tên gì?


 - Nạy, Phùng Thị Nạy 12 tuổi rồi, cũng đang học lớp một đấy.


 - Sao Quế không đi làm với vợ?


 - Ốm mà!


Chúng tôi nghẹn lòng không muốn nán lại thêm, thật tội nghiệp cho cậu bé ngây ngô yếu ớt cứ bíu vào cửa ngơ ngác nhìn theo chúng tôi.


Ông bạn tôi muốn đến địa chỉ mà tôi đã có dịp may mắn được dự đám cưới. Đó là Đặng Chòi Tấn 13 tuổi đang là học sinh lớp 4 trường huyện, cô vợ Đặng Mùi Lụa hơn Tấn 2 tuổi, tròn 15. Tuổi trăng tròn đối với người con gái tròn đầy vành vạnh, dù vậy sự vụng dại đáng yêu vẫn hiển hiện trên khuôn mặt. Chúng tôi đến lúc chập chiều cả nhà đi làm chưa về. Duy chỉ hai vợ chồng Tấn ngồi tí tách ăn lạc sống ngoài sàn hiên, chân thõng xuống vắt vẻo. Phát hiện người quen Tấn cười, hai người vẫn thi nhau bóc lạc ăn. Thấy chúng tôi lấy máy ảnh ra cô vợ vội đứng dậy thụt vào trong cửa thập thò nhìn. Hệt như hôm cưới tôi nói với ông Đặng Phú Mình bố của Tấn năm nay 33 tuổi: “Muốn chụp một kiểu ảnh kỷ niệm cho đôi trẻ!”. Tấn bảo: “Thẹn lắm” còn cô vợ trong cánh cửa thẽn thò. Tôi hỏi ông Phú Mình: “Sao cho nó lấy vợ sớm vậy?”. Anh bảo: “Được tuổi rồi đấy. Lấy người về làm việc cho nó đi học chứ!”.


- Cô dâu không mặc đồ dân tộc sao? Tôi băn khoăn thấy bề ngoài cô dâu không có gì chứng tỏ là người Dao.


- Ngoài Bắc thì có đấy. Vào đây bỏ rồi.


Anh nói vậy. Tôi thầm nghĩ “giá bỏ đi cái lệ tảo hôn để giữ lấy sắc phục truyền thống dân tộc thì hay biết bao”. Lúc ấy tôi mới chợt nhận ra trong nhà, trên sàn ăm ắp rượu, thịt. Người đến ăn mừng, uống mừng lướt khướt nằm ngổn ngang.


Tôi biết rằng trong số 178 hộ gia đình đồng bào dân tộc Dao đỏ đi di cư từ Cao Bằng, Bắc Kạn vào lập làng tại đây, thứ không bị rơi rớt dọc đời du canh du cư có lẽ tục lệ dựng vợ gả chồng sớm là còn giữ được. Trong gần sáu trăm nhân khẩu duy nhất có 8 cậu học trò vượt khỏi làng hàng nửa ngày đường ra huyện trọ lại theo học lớp 4 Trường tiểu học Lê Thị Hồng Gấm. Ai hay trong số các cậu “Tú” tân tiến nhất làng thì 6 cậu đã có vợ. Ngày cưới bạn mình các cậu cũng có mặt nhưng là để xúm xụm cùng đám trẻ làng chơi trò búng dây nịt. Một cậu tíu tít rủ tôi về nhà chụp ảnh, cậu cũng đang học lớp 4 ngoài huyện tên là Lý Dào Sơn, 13 tuổi mà nhỏ thó. Cậu cũng đã có vợ được 2 năm. Tôi tò mò theo cậu về nhà. Ông bố tên Lý Chàn Lụa chừng ngoài 30 tuổi hỏi tôi bằng tiếng phổ thông chưa được tròn lắm “Một phát được mấy tờ?”  luận mãi tôi mới hiểu ý của người hỏi: “Chụp một kiểu được mấy tấm ảnh”. Vợ ông địu đứa bé nhất trên lưng, còn lại 7 đứa bé sàn sàn trên đưới chục tuổi đứng xếp thành hàng ngang. Ai dè trong đám trẻ ấy đã có hai cặp là vợ chồng. Tôi muốn xếp từng cặp theo ý thì chúng chạy tán ra nép sau lưng mẹ. Lý Mùi Sao chị gái của Lý Dào Sơn là nhỉnh hơn cả, ngược lại người chồng Lý Chàn Cán 13 tuổi thấp bé ngây ngô. Ông Lụa bảo: “Thằng rể đấy!”. Nó về nhà ông được 4 mùa rẫy rồi. Có nghĩa là họ thành vợ thành chồng khi Mùi Sao 11 tuổi và anh chồng 9 tuổi. Chẳng nhẽ cậu bé con cũng về nhà vợ để làm việc ư? tuổi ấy làm được việc gì. “Nó đi chăn trâu thôi mà” - Lý Dào Sơn cậu em vợ của Cán nói vậy.


Kể ra chuyện thật như đùa kia ở cái làng Dao này còn nhiều lắm. Thử hỏi chúng đã hiểu gì về một tổ ấm. Thực tế số phận cuộc sống riêng của các cặp vợ chồng non ấy ra sao?


*


Tôi hỏi Đặng Phú Cường, bạn đồng lớp với Dào Sơn cũng được bố mẹ lấy vợ cho từ năm lên 10 tuổi. “Tại sao lấy vợ được một năm lại nằng nặc đòi bỏ?”. Cường nói: “Không thích”. Bố của Cường, ông Đặng Quí Đường thì cười nói: “Lấy người về làm việc thôi, nó không muốn làm vợ thì bỏ”. Một việc làm liên quan đến cả một đời người chỉ gói gọn trong câu nói đơn giản vậy sao? Còn Triệu Vần Cán 14 tuổi có cô vợ Triệu Mùi Chài cần mẫn như con ong tạo ra bắp ngô hạt lúa trên rẫy nuôi chồng đi học, nhưng chồng vẫn không thích cô vợ hơn mình 2 tuổi. Không đòi bỏ nhưng chưa bao giờ Cán coi Chài là vợ. Mỗi lần từ trường về nhà ham chơi ngủ luôn lại nhà bạn. Lúc đến trường cô vợ hiền lành lại đong gạo vào bao, gấp vào đấy ít tiền đủ cho thằng chồng chi tiêu cả tuần. Cuộc sống cứ vậy thoi đưa đã bốn năm.


Đặng Chòi On là cậu bé tội nghiệp hơn. Không được đi học như mấy bạn mà phải đi làm rể nhà cô vợ Đặng Mùi Diết khi cả hai vừa chớm 12 tuổi. Bố mẹ Diết không còn, hai vợ chồng phải sống với ông bà ngoại. On kể: “Ông của Diết ác lắm, bắt làm việc nhiều từ cuốc rẫy đến gùi củi gùi bắp...” đến mức On phát ốm. Ông chê thằng cháu rể nhỏ quá ốm yếu không làm được việc và thế là On được trả lại cho bố mẹ đẻ hai năm sau đó. Hiện tại Mùi Diết đã được gả làm vợ lẽ cho một người tại Buôn Chum, huyện Cư Jút. Đến bây giờ On vẫn chưa hết sợ về cuộc sống đi làm rể của mình. Còn anh chồng Lý Chàn Cán ở rể nhà ông Lý Chàn Lụa đã bốn năm vẫn không thể đuổi kịp sự phổng phao của cô vợ Lý Mùi Sao hơn mình hai tuổi, thành thử Chàn Cán chưa bao giờ được Mùi Sao coi là chồng thực sự. Chiều chiều Chàn Cán ngồi ngóng về hướng bắc nhớ bố mẹ gia đình đang ở ngoài Cao Bằng nước mắt chảy vòng quanh.


Những thân phận đang chấp nhận cuộc sống dở dang chưa biết con thuyền cuộc đời sẽ trôi đến đâu. Ai giúp các tâm hồn non nớt chút khỏi được nỗi bí cực này. Tôi hỏi Đặng Phú Giáo trưởng thôn DakNa:


- Sao không bỏ lệ cưới sớm đi để làm khổ trẻ con vậy? Giáo cười nói:


- Quen rồi mà!


- Thế anh có cho con lấy vợ sớm không?- Tôi hỏi.


- Có chứ. Để muộn còn ai mà lấy!


 Giáo cười như đùa mà thành thật.


*


Khi cuộc sống còn những hủ tục, ai cũng luẩn quẩn với việc dựng vợ gả chồng sớm đẻ con tuỳ thích thì người bạn đồng hành duy nhất là đói nghèo. Thật ngỡ ngàng khi thấu hiểu được căn nguyên của những chàng tí hon đi ở rể. Hầu hết nhà đông con nghèo đói mà phải đổi con đi làm rể để nhận những đồng tiền giải quyết nỗi khó khăn tức thời. Đó là Lý Chàn Cán được nhà vợ lo cưới và trả cho bố mẹ Cán 5 triệu đồng (đồng bào gọi rất ngắn là: mua rể). Đặng Chòi On được mua giá 3 triệu v.v... Tại sao lại có những giá cả khác nhau như vậy? Tìm hiểu tôi được biết theo thỏa thuận gia đình nhà trai (người bán) với gia đình nhà gái (người mua) bán một nửa hoặc bán cả. Nếu bán cả có nghĩa người con trai phải đổi họ mình thành họ nhà vợ. Bán một nửa tuy ở rể vẫn mang họ nhà mình. Lệ còn quy định nếu vợ hoặc chồng tự ý bỏ nhau, ai bỏ người ấy phải đền tiền. Có lẽ vì thế mà Triệu Vần Cán không coi Mùi Chài là vợ nhưng không đòi bỏ chỉ vì sợ phải đền tiền chăng?


Ngẫm thấy cái lệ oái oăm đã rối rắm làm nghèo đi cuộc sống một cộng đồng. Trong số gần 200 hộ gia đình của hai làng Dao để tìm được một hộ có kinh tế ổn định đúng nghĩa thật khó. Xin mượn gia đình anh Đặng Chòi Hiền trưởng thôn DakRi làm đơn cử. Cuộc sống của gia đình anh có thể được coi khá giả nhất làng. Thử đặt phép tính tìm ra mức sống. Dưới mái nhà có 21 miệng ăn. Ba người vợ sinh cho anh 10 đứa con. Ba đứa con lớn lại tạo ra cho anh 5 đứa cháu nội khi anh Chòi Hiền mới 42 tuổi. Năm nay được mùa, gia đình thu được 150 bao lúa, ước tính độ 7,5 tấn theo giá thời điểm được khoảng hơn 8 triệu đồng, 5 tấn ngô được 5 triệu, lạc 1,5 triệu (tổng 3 loại đạt chừng 14,5 triệu) cứ cho rằng những giá trị khác tự cung tự cấp như nuôi gà, lợn, trồng rau... Đạt tới 21 triệu đồng thì chia cho 21 khẩu trong năm mỗi người cũng chỉ đạt mức thu nhập 80 nghìn đồng/tháng. Theo chuẩn miền núi ở mức thu ấy là diện nghèo. Như vậy suy ra đối với gia đình thuộc loại khá như anh Đặng Chòi Hiền cũng chưa thoát ra được khỏi cái vòng đói nghèo.


 Khi chúng tôi sắp rời làng Dao thì một đoàn cán bộ của xã DakRồ gồm ngành Tư pháp, Ban dân số... Do Phó chủ tịch xã dẫn đầu mở đợt vận động tuyên truyền pháp luật. Chắc chắn gian nan cũng còn nhiều. Hiện nay đồng bào đã yên tâm định cư. Trường học đã được mở tại làng. Trẻ con, người lớn đưa nhau đi học xóa mù chữ. Mong sao tâm thức được khỏi thông. Đồng bào sẽ xóa bỏ được lối sống cố hữu, bứt ra khỏi một tục lệ lạc hậu đang níu kéo để vươn lên xây dựng cuộc sống mới ª


 


3-2001


Nguồn: Rút từ Cửa Hà, dòng sông gấm. Ký của Nguyễn Liên. NXB Văn học, 2008.


www.trieuxuan.info


 


 

trieuxuan.info