Nói tới Tây bắc là nói tới hoa ban. Vậy mà tôi lên Tây bắc, đặt chân đến đất Sơn La thì mùa hoa ban đã hết, tiếc ngẩn ngơ. Sơn La còn là xứ sở của đào quả, mận hậu ngon nức tiếng; từ cao nguyên Mộc Châu qua Yên Châu, Mai Sơn tới thị xã Sơn La tôi xăm xoi qua những vườn đào vườn mận thì mùa quả cũng đã tàn, thêm một lần nuối tiếc. Bù lại, con người Sơn La mến khách; không riêng các anh ở Văn phòng Hội Văn học nghệ thuật mà gặp bất kỳ một người Sơn La nào cũng dành cho tôi cái tình thân thiện cứ như quen nhau đã lâu.
Anh chị em văn nghệ sĩ mọi miền được Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tổ chức đi thực tế sáng tác đến Sơn La trước tôi đã được đi thâm nhập lấy tư liệu, khoe rằng: “Đứng trên sườn đồi Nhà ngục Sơn La ngắm toàn bộ cảnh thị xã về đêm thật tuyệt diệu!”. Quả vậy, mà sao cái thị xã bé nhỏ nằm lọt trong thung lũng cách xa Hà Nội hơn ba trăm cây số lại mọc lên nhiều nhà nghỉ, khách sạn đến thế? Tôi đoán già đoán non, chắc không chỉ để đón khách đó đây về với sự kiện kỷ niệm 110 năm Sơn La vào tháng mười tới. Sơn La sẽ là điểm dừng của “tua” du lịch Tây bắc, có khu sinh thái suối nước nóng, có di tích lịch sử Nhà ngục Sơn La gắn với cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc, đất Chiềng Ngần vang vọng chiến công của du kích Chiềng La dùng súng trường bắn rơi máy bay Mỹ, Chiềng Ngần còn là vùng đất có truyền thuyết về “Ao bạc”, nơi thành phố Sơn La sẽ mọc lên nay mai. Sơn La còn có nhà máy thuỷ điện lớn nhất Đông Nam Á đang được xây dựng... Các anh lãnh đao Hội Văn học Nghệ thuật Sơn La nói với tôi lời tâm tình: “Viết giới thiệu về Sơn La nhé!”.
Viết thì phải có tư liệu về Sơn La, tôi chợt nhớ tới Mai, bạn đại học với nhau ở Hà Nội. Biết được tin Mai đang là phóng viên biên tập ở Đài Truyền hình huyện Mai Sơn, cô gái miền xuôi lên mà phát thanh tiếng Thái rõ nhuyễn, tôi mừng quá. Chưa kịp thực hiện chuyến đi Mai Sơn tìm Mai thì nhà văn Mã Thế Vinh khấp khởi thông báo với tôi: “Ngày mai mình đi Chiêng Ngần bằng xe của Hội có cả ông Đinh Ngân nguyên chủ tịch Hội Văn nghệ Sơn La đi cùng làm hướng đạo”. Tôi với nhà văn Mã Thế Vinh nghỉ cùng phòng cứ lo bài vở thiếu tư liệu viết mà day dứt, giờ như được giải tỏa.
*
Từ trung tâm Thị xã Sơn La đi Chiềng Ngần 9 cây số. Con đường mòn cũ xuyên qua eo núi đang được xẻ đá mở rộng. Đồi luồng, vườn nhãn hai bên đường đã thành khoảnh thành ô quy hoạch cả rồi đấy. Mai đây con đường này sẽ là đại lộ, còn hiện tại mặt đường lồi lõm nham nhở bùn nước sau trận mưa rừng, anh lái xe Lù Văn Phui là người địa phương quen đường quen đất mà còn vặn vẹo tránh né đến khổ.
Thung lũng Chiềng Ngần có diện tích trên bảy trăm héc ta bằng phẳng ngút ngát cây trái, hèn chi mà trước đây thằng Pháp đã khảo sát nơi đây nhằm xây dựng sân bay trung tâm vùng Tây bắc. Tôi nhìn ngắm những tầng những lớp mầu xanh của cà phê, mận, nhãn... mà hình dung ra cuộc sống của 17 bản với hơn ba ngàn nhân khẩu đang toạ lạc trên vùng đất trù phú gắn với truyền thuyết về cái “ao bạc” này. Truyền rằng: Thuở xưa khi Chiềng Ngần còn là vùng đất thâm u ít người biết tới, một hôm có cụ già nghèo khó vào rừng sâu đào củ mài phát hiện một hồ nước giữa ngàn cây phát ra ánh sáng lung linh, đến xem thì thấy toàn bạc khối bạc cục, ông cụ đã về thông báo cho bà con làng bản biết rồi cùng vào rừng lấy bạc chia nhau. Họ cho rằng đây là vùng đất giàu có Trời đã ban cho nên kéo nhau về quy tụ. Người Thái, người H”Mông, Kinh, Mường giao hoà cùng nhau xây dựng cuộc sống. Thế chăng nên ông Hà Mai Thuận nguyên phó giám đốc Sở văn hoá Sơn La khi nghỉ hưu đã rời nhà thị xã vào Chiềng Ngần làm trang trại. Ông Đinh Ngân ra hiệu lái xe dừng trước cổng dẫn vào một ngôi nhà sàn lợp ngói đỏ. Chủ nhà đang ngồi đọc sách ngoài hiên niềm nở ra đón khách.
- Ông Đinh Ngân à, sáng nay nghe con chim khách báo thế mà đúng là có khách quý rồi.
Nghe ông Đinh Ngân giới thiệu về chúng tôi, ông Mai Thuận bắt tay từng người: “Vui quá, bà nó lấy nước trong chai ra đây uống mừng anh em nào!”.
Ông bà Mai Thuận tiếp chúng tôi bằng ngô nếp luộc, rượu pha mật ong gọi là “của nhà làm ra”. Con cái trưởng thành có nghề nghiệp, ở riêng; hai ông bà lấy trang trại làm vui. Ông Mai Thuận cho biết 2 hec ta cà phê chè bình quân mỗi năm cho 25 tấn quả tươi, nhập công ty giá 3 ngàn đồng cũng thu về được 75 triệu; 50 cây mận hậu cho 10 tấn quả với giá 12 ngàn / kg cũng có trên chục triệu, lại 5 con hươu sao cho nhung, 200 gốc nhãn... Chà! vui với điền viên như vậy ai không muốn. Trước khi vào nhà ông Mai Thuận xe đã đưa chúng tôi thăm quan dọc ngang bạt ngàn cây cối trang trại Chiềng Ngần, ông Đinh Ngân giới thiệu với chúng tôi nơi sẽ là trung tâm thành phố, chúng tôi vào một gia đình người H’Mông có căn nhà xây đồ sộ mái Thái nền lát gạch men của anh Lý XéoVá, tôi hỏi: “Xây dựng thành phố ở đây, nhà phải chuyển đi nơi khác có tiếc không?”. Lý Xèo Vá cười; “Có chứ, nhưng mình làm lại thôi!”.
Ông Mai Thuận vừa kể cho chúng tôi nghe chuyện xưa chuyện nay về Chiềng Ngần vừa tiếp rượu chúng tôi theo cái lý của người Thái, uống một ly khập khiễng phải hai ly (gọi là đi 2 chân), chẵn là cái vốn đủ phải dư mới phát triển, vậy là ly thứ ba... cứ vậy mà say cái say của vùng đất dát bạc đến ngọt ngào. Chiềng Ngần có biết bao gia đình có trang trại như ông Mai Thuận, anh Lý Xèo Vá và còn hơn thế nữa, giờ đây đều đã sẵn sàng góp phần vào việc quy hoạch xây dựng cho đô thị nay mai; sự giàu có không còn nằm ở vườn cây chuồng trại nữa mà đó là sự hưng thịnh của một Thành phố Sơn La đang tiềm ẩn.
*
Hôm tổng kết đợt sáng tác, bà Cầm Thị Phụi- Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La không nói nhiều tới việc xây dựng thành phố mà cung cấp thêm thông tin về việc xây dựng nhà máy thuỷ điện Sơn La, việc tái định cư cho đồng bào vùng lòng hồ để “mong các văn nghệ sĩ tiếp tục viết về Sơn La”. Thì ra trong tổng số 18.200 hộ dân của 3 tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu nằm trong vùng ngập nước phải di rời thì Sơn La có 12.000 hộ. Kế hoạch trong năm 2005 sẽ chuyển được 2000 hộ, đầu tháng mười một này chính thức khởi công xây dựng nhà máy... Tôi lại nghĩ đến Mai có thể cô sẽ giúp tôi vượt con đường hơn ba mươi cây số từ thị xã lên huyện Mường La nơi xây dựng nhà máy thuỷ điện. Một lần nữa tôi lại không kịp nhờ đến Mai, đoàn Văn nghệ sĩ Dak Lak dự xong Đại hội Nghệ sĩ múa ở Hà Nội lên Sơn La có chương trình đi vùng thủy điện, vậy là tôi nhập đoàn. Đi Mường La cùng đoàn Văn nghệ sỹ Tây Nguyên chúng tôi còn có các anh trong Hội Văn học Nghệ thuật Sơn La: Họa sỹ Lò An Quang Phó chủ tịch Hội, nhà Văn Đinh Hữu Xanh Thường trực hội; có cả nhà thơ Bùi Tuyết Mai dân tộc Mường Hòa Bình.
Huyện Mường La thuộc vùng sâu nằm cách trở bên kia bờ Sông Đà nay nhờ có công trình xây dựng nhà máy thủy điện, đôi bờ đã có cây cầu thông thương, quán hàng cửa hiệu mọc lên nhưng đời sống của người dân vẫn còn nghèo, được cái tấm lòng con người chân thật. Đêm ngủ cửa nhà không cần đóng, xe máy cứ để ngoài sân ngoài đường không ai màng tới cái không phải của mình. Anh Lò Hồng Lâm Phó chủ tịch huyện Mường La tâm tình day dứt, lạ thế, một thói quen tốt đã đành, đây lại là chuyện khác. Có 300 hộ dân xã Ít Ong thuộc diện di rời chuyển xuống vùng tái định cư tại cao nguyên Mộc Châu trù phú, ở nhà sàn bê tông, giao cho bò chăn nuôi, giao đất chè chăm bón, dù cuộc sống an nhàn hơn nhưng đồng bào cứ thấy lạc lõng chân tay nhớ con cá dưới suối, nhớ bước chân tuông rừng leo núi hái măng đào củ. Do vậy mà 200 hộ còn lại của xã phải di dời cho tiến trình khởi công thủy điện sắp tới cứ lần lữa đòi di dân nội huyện, nước ngập đến đâu thì lùi đến đó, dù biết vậy sẽ khó khăn hơn. Các đồng chí lãnh đạo huyện trăn trở lắm, để vậy không đành.
Đêm ấy chúng tôi được tiếp cận giao lưu văn hoá với đồng bào xã Ít Ong. Trung tâm xã cách Huyện lỵ chừng bảy cây số mà cánh lái xe ngao ngán, ra khỏi chợ huyện tụt ngay xuống một con dốc nghiêng ngả hào rãnh, xe sau bò theo xe trước để lội suối, anh lái xe lẩm bẩm: “Khi về trời tối mới gay go đây!” . Ít Ong - theo cắt nghĩa tiếng Thái của người địa phương thì đó là lòng chảo. Có lẽ cái tên chứa đựng hình thái địa lý nên lòng chảo Ít Ong quấn hút hết cái nóng oi nồng của vùng gió Lào. Ngồi trong nhà mà mồ hôi cứ túa ra đẫm áo, lần ra suối ngâm chân tay vô tình đụng phải mặt đá bên suối giật giãy lên như đụng vào chân bếp lửa. Từng quen với khí hậu Tây Nguyên chỉ có cái nóng của mặt trời, về chiều trời se mát, không nóng từ trong không khí như ở Tây Bắc nên chúng tôi mới hiểu sự chịu đựng của đồng bào mình ngoài này, đã nóng thì nhiệt độ cao hơn mọi vùng, đã rét đến nhức buốt thịt da. Khắc nghiệt thế nhưng đồng bào vẫn không muốn rời cái nơi tổ tiên đã chọn, cứ nhìn những tấm thân ngọc ngà vùng vẫy dưới suối trời chiều, những chú bé rong ruổi đàn trâu về bản thì thấy, thiết tha lắm. Ngay trong đêm giao lưu văn hoá truyền thống bước chân theo nhịp xoè, tay nắm tay cứ như vừa níu lại, vừa như muốn vươn lên... thấy rõ vì lợi ích Quốc gia mà họ phải chuyển đi nơi khác, nếu không đã chắc gì.
Chúng tôi được các anh ở Huyện đưa lên tận đỉnh núi, nơi đang xây dựng ngổn ngang, nghe đâu khu nhà toạ lạc giữa non cao sẽ là nơi đón khách tham quan sau này. Từ đây chúng tôi có thể quan sát được đoạn sông Đà nước đang cuồn cuộn chuyển động, toàn bộ khu vực đang khẩn trương xây dựng các công trình phụ trợ, những quả núi đang hạ dần độ cao, chân móng con đập ngăn dòng đang dần hoàn tất chuẩn bị cho ngày khởi công xây dựng nhà máy chính thức. Mai đây những ngọn núi dựng đứng cao ngất kia, con sông dữ dằn sẽ không còn là nơi thả lưới bắt cá, tất cả dấu tích gắn liền với cuộc sống của người dân sẽ bị nuốt chửng vào lòng hồ. Con đập ngăn dòng với cao trình 215mét, diện tích mặt hồ 224 cây số vuông, công trình thủy điện Sơn La có công suất 2400mê-ka-oát với điện lượng trung bình năm là 9.429 tỷ ki-lô-oát giờ, công trình được xếp vào loại lớn nhất Đông Nam Á. Cùng khúc sông Đà này còn có nhà máy thuỷ điện Nậm Chiến công suất 200 Mê ka oát, thủy điện Huổi Quả công suất 500 Mê ka oát, tổng 3 nhà máy thủy điện trên địa phận Sơn La sẽ có công suất 3,100 Mê ka oát, trong khi thủy điện Hòa Bình là 1.800 mê-ka-oat. Công trình thủy điện Sơn La hoàn thành sẽ mang lại hiệu ích tổng hợp có ý nghĩa quan trọng đối với công cuộc phát triển kinh tế xã hội của cả nước. Góp phần chống lũ lụt vào mùa mưa, cung cấp nước vào mùa kiệt cho cả khu vực đồng bằng Bắc bộ, việc thiếu nước của hồ thủy điện Hoà Bình như hè vừa qua không còn phải lo nữa. Đồng bào xã Ít Ong, nhân dân huyện Mường La, nhân dân Sơn La tự hào được đóng góp vào việc xây dựng thủy điện có ý nghĩa lớn lao này. Tôi hình dung ra dòng sông Đà tung bọt trắng xóa biến thành dòng điện hoà vào mạng lưới Quốc gia chuyển đi muôn nơi, thì sự tích cái ao bạc không còn riêng ở Chiềng Ngần nữa, nó đang ánh lên lung linh trên vùng đất Sơn La.
6-2005.
Nguồn: Rút từ Cửa Hà, dòng sông gấm. Ký của Nguyễn Liên. NXB Văn học, 2008.
www.trieuxuan.info
|