Đó là một loại hoa trong lời bài hát mời uống rượu cần theo kiểu “thác đổ” của người M’nông Lăm. Hoa Kpai ví như sắc đẹp của những cô gái M’nông vùng Hồ Lăk mênh mang huyền thoại, nơi có ngọn Cưyangsin sừng sững quanh năm đội mây, nơi khởi nguồn của dòng sông đực Krông Knô và dòng sông cái Krông Ana hợp thành dòng sông Sêrêpôk ngàn đời đổ nước về hướng tây. Giữa cao nguyên xanh, đại ngàn xanh, Hồ Lăk như chiếc gương bạc treo chung chiêng giữa trời.
Truyền rằng, thuở xa xưa không hiểu nguyên cớ gì mà Thần Nước và Thần Lửa có cuộc giao tranh quyết liệt, kết cục Thần Nước bại trận, phải chui vào khe đá lẩn trốn. Hạn hán xảy ra, cây cối, vạn vật khô héo mòn mỏi. Một ngày kia, có chàng trai nghèo quyết ra đi tìm nguồn nước cho buôn làng. Đi mãi, đi mãi, khi đã quá mệt, chàng ngồi nghỉ ở một tảng đá, chợt thấy một chú lươn ngọ nguậy bò đi. “Thần linh cho ta dấu tích nguồn nước chăng?”, nghĩ vậy chàng liền theo lươn lần đi. Khi lươn biến mất, bỗng một mặt hồ mênh mông hiện ra. Lăk - theo tiếng M’nông nghĩa là nước. Có nước, người người từ khắp rừng xa núi gần kéo nhau về lập làng lập buôn. Thế rồi chữ “Lăk” thành tên vùng đất.
Không hiểu bao đời, người M’nông Gar và người Êđê Bih hợp hôn để có người M’nông Lăm ngày nay. Có lẽ do sự giao thoa giữa hai tộc người nên người M’nông Lăm mới có những nét sinh hoạt, phong tục mang bản sắc đặc trưng như vậy.
Trải dài từ chân dãy Cưyangsin hùng vĩ, phía đông là cánh đồng Yang Tao rộng lớn, được sự bồi đắp màu mỡ của dòng Krông Ana hiền hòa - đó là vựa lúa của tỉnh Dak Lak. Khác với đồng bào các dân tộc thiểu số khác ở khu vực Trường Sơn Tây Nguyên, đồng bào M’nông Lăm biết trồng lúa nước từ lâu đời. Có lẽ do phù hợp với điều kiên sản xuất mà trang phục của phụ nữ M’nông Lăm khác với trang phục phụ nữ M’nông Gar, Êđê, đó là váy ngắn, tay áo ngắn. Người M’nông Lăm còn biết lấy đất sét ở cánh đồng Yang Tao nặn ra nồi, hũ, ché... rồi nung lên thành những vật dụng trong gia đình. Tiếc thay cái nghề truyền thống hiếm hoi ở cao nguyên này đã bị bỏ quên từ khi thị trường hàng hóa lan toả khắp rừng sâu rẻo cao. Vòng phía nam Lăk là dòng sông Krông Knô dữ dằn, kể cả những con suối nhỏ dồn nước ra sông cũng xếp đá ở nhiều cung độ để tạo ra những con thác ầm ầm quanh năm. Ai đó đi Lâm Đồng, Đà Lạt kế bên qua vùng này chắc gì đã cưỡng nổi lòng ham thú hiếu kỳ những nguyên tác thiên nhiên mà lại không dừng chân thu vào ống kính làm kỷ niệm. Nửa vòng chu vi về phía Tây bắc ôm gọn lấy Hồ Lăk mênh mông có diện tích mặt nước hơn 500 héc ta là đại ngàn xanh, nơi còn cất giấu nhiều bí ẩn của rừng già, thấp thoáng trong đó là những ngôi nhà của buôn M’liêng còn đậm nét cổ xưa. Nghe đâu ngành Văn hóa đã khảo sát chọn buôn M’liêng để xây dựng buôn bảo tồn văn hóa theo chủ trương của Bộ Văn hóa Thông tin. Người dân buôn M’liêng muốn qua bên này bờ chỉ có con đường duy nhất là bơi qua mặt hồ bằng thuyền độc mộc, loại thuyền đục cả thân cây gỗ của rừng già hào phóng ban cho.
Vùng Hồ Lăk có môi trường trong lành được thiên nhiên ban tặng cho nhiều cảnh quan kỳ thú đã trở thành điểm du lịch sinh thái thì đâu đâu cũng biết. Chẳng thế mà ông Hoàng Bảo Đại từ thuở Lăk còn hoang sơ đã lần tìm đến đây xây dựng Biệt điện chiêm ngưỡng gương trời. Nhưng còn một số tiềm năng ở vùng đất tưởng như mỗi bước đi có thể chạm vào huyền thoại thì dễ gì đã có ai biết tới, nó còn ẩn giấu trong cuộc sống, đó là kho tàng văn hoá dân gian của người M’nông Lăm. Thực ra cái buôn Jun, tiếng M’nông nghĩa là buôn “lồi ra hồ’’ đã được xây dựng thành buôn văn hoá, một phần chủ trương gìn giữ bảo lưu vốn văn hoá truyền thống giàu bản sắc trong việc xây dựng đời sống văn minh tiến bộ, phần nữa cũng là để hãnh diện với khách về một vùng văn hoá phong phú. Tuy nhiên trong thời gian khá dài, do ý thức chúng ta chưa định hình được mà một số tập tục bị khép vào “mê tín, lạc hậu’’ vậy là không còn ai dám đụng đến, lâu dần thành quên. Nay chủ chương của Đảng “xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc...”. Người già nhớ lại đem truyền dạy cho lớp cháu con những tinh hoa cội nguồn của tổ tiên. Dàn chiêng, nhịp trống, điệu múa, bước chân vòng xoang, lời hát Ay ray, lời m’rá, cả lời khấn Yàng đan xen hai thứ tiếng Êđê, M’nông... ấy là cội nguồn tổ tiên cả. Có thể người già truyền đạt chưa hết nghĩa, cũng có thể do ảnh hưởng nhịp sống hôm nay mà người được tiếp thu không trọn vẹn, mỗi thứ thất lạc một ít. Khách du lịch trong nước hay nước ngoài mỗi lần đến Lăk nghỉ trên nhà sàn buôn Jun muốn được thưởng thức bên ngọn lửa dân dã với ché rượu cần là những điệu dân ca, dân vũ... vậy là đáp ứng yêu cầu du lịch, nhóm phục vụ mang tính tự phát hình thành.
*
Trên đường từ thành phố Buôn Ma Thuột về Lăk, nghệ sĩ ưu tú Vũ Lân giới thiệu cho chúng tôi hiểu về vùng đất, con người, cả sự giao thoa văn hóa để có nét đặc trưng độc đáo của người M’nông Lăm mà chỉ vùng Lăk mới có. Thì ra nghệ sĩ Vũ Lân còn là nhà Nghiên cứu văn hoá, anh đã có dịp cùng các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian nằm ở vùng đất này sưu tầm, tìm tòi cả năm trời nên mới rành rọt đến thế. Anh được Giám đốc Sở Thương mại Du lịch mời hướng dẫn giới thiệu cách tổ chức một chương trình phục vụ khách cho Đội Văn nghệ dân gian chi nhánh Du lịch Lăk. Đây cũng là hướng đi mới của ngành du lịch được mở ra trong nhận thức của những người làm công tác du lịch. Du lịch văn hóa thì nhiều nơi đã làm, biết dựa vào tiềm năng dân gian mà khai thác đem giới thiệu với khách thì nhiều nơi đã có, nhưng ở Dăk Lăk thì đây là điều mới được quan tâm, hy vọng đó là bước khởi đầu trong năm du lịch cho những bước đi thành công tiếp theo. Nghệ sĩ Vũ Lân đã làm tròn trách nhiệm suốt hai tháng trời hướng dẫn cho những diễn viên là con em của đồng bào M’nông; những rơi rụng theo thời gian đã được tìm lại nguyên mẫu. Theo anh Vũ Lân: “Khách trong nước hay nước ngoài, có người tham quan nhưng cũng có người nghiên cứu văn hóa, ngoài cách sắp xếp chương trình thế nào cho vui mắt, đòi hỏi phải không được lạc điệu. Những người quan tâm đến văn hóa cảm thấy say mê là mình thắng lợi rồi!”. Anh hào hứng khoe với chúng tôi:
- Chương trình văn nghệ dân gian được khách khen lắm. Khách tình cờ đến Lăk mà được xem thôi, nhiều người chưa biết đâu!
Có lẽ vì thế nên chúng tôi mới có chuyến đi cùng anh ghi nhận những thành quả làm được cho du lịch Lăk để giới thiệu lên truyền hình chăng?
Xe chạy tới khu du lịch Lăk lúc 8 giờ sáng. Các cô gái duyên dáng đang ở trong nhà dài bỗng chạy òa ra chào thầy Vũ Lân. Anh dặn dò với họ điều gì đó, rồi tranh thủ cái nắng dìu dịu buổi sáng, chúng tôi cho xe chạy ra phía buôn Jun ghi một số hình ngoại cảnh. Hai phóng viên trẻ Hồng Phong, Quốc Việt thao tác chuẩn bị camera chĩa ống kính về phía hồ có con thuyền độc mộc đang dập dềnh chở hai vị khách Tây sang hướng buôn Mliêng. Bỗng chị chủ quán hàng giải khát bước ra, cất giọng mỉa mói:
- Vậy mà đầu năm các anh chẳng về đây mà quay truyền hình!
- Có gì vậy? - Tôi tò mò, chị ta liền chỉ về phía bờ hồ, phẩy tay:
- Phân bò chứ còn gì nữa, tràn ngập ô nhiễm cả vào trong quán đây này, ai còn dám đến nữa.
- Ở đâu ra mà nhiều thế?
- Người đi mua bò dồn lại đây đợi thuyền chuyển đi, mấy ngày liền chịu không nổi.
Tôi chợt nhớ có lần ai đó đã đưa lên báo về buôn du lịch này, khách ngủ trên nhà sàn trong gió đêm thoang thoảng mùi phân trâu phân bò. Lần trước về Lăk, tôi đem chuyện này nói với anh Y Bang- Phó Chủ tịch huyện. Ông lãnh đạo huyện phụ trách về văn hoá xã hội thả một hơi thở nhẹ giống như chấp nhận chuyện không thể khác được. Chẳng nhẽ buôn văn hóa mà mỗi gốc cây trở thành nơi buộc trâu bò, rác thải bừa bãi?
- Không phải vậy - Anh Y Bang tỏ ra bức xúc - trước hết phải phê phán ngành du lịch. Một cái buôn cạnh hồ mà có tới hai đơn vị du lịch giành phần khai thác. Toàn khai thác cái sẵn có, đã ai bỏ ra được đồng đầu tư nào đâu. Chỉ nói tới rác thải do khách gây ra, ngoài phạm vi nhà dân, ngành du lịch nên có những thùng rác công cộng!
Hoá ra ngoài công ty du lịch của Nhà nước còn có Nhà hàng du lịch Đam San từ Buôn Ma Thuột về đặt đại diện cạnh tranh giành khách gọi thuyền, gọi voi, gọi dàn chiêng phục vụ. Hèn chi khách khó chấp nhận là phải.
- Sao huyện không đứng ra quản lý? - Tôi hỏi thì anh Y Bang lại thở ra.
- Địa bàn của huyện đấy nhưng nhiều cánh tay vươn tới quản lý lắm. Chẳng hạn Hồ Lăk lại thuộc phạm vi Vườn quốc gia quản lý, Biệt thự Bảo Đại xuống cấp, phải đợi Bảo tàng Huế lên kế hoạch trùng tu. Tất cả những thứ ấy nếu được giao về cho địa phương quản lý thì chúng tôi mới chủ động được.
Bây giờ thì khác rồi. Nghe đâu cuối năm vừa qua, ngành du lịch đã có cuộc họp thống nhất cách quản lý. Chúng tôi đến Lăk được chứng kiến con đường từ thị trấn Liên Sơn lượn ven hồ xoáy vòng lên đỉnh đồi Biệt Điện đã được đổ bê tông nhựa, công nhân điện đang hoàn chỉnh hệ thống đèn cao áp dọc theo tuyến đường, công nhân giao thông kè đá thành ta luy phía mép hồ. Trên đỉnh đồi, công nhân xây dựng đang hoàn thành việc phục chế Biệt điện Bảo Đại...
Chúng tôi vào ngôi nhà đón khách của Công ty du lịch tại buôn Jun. Ngôi nhà có mái tròn như chiếc nấm, lợp tranh theo kiểu lợp của người M’nông. Hoá ra hai cô nhân viên du lịch là người buôn Jun, là diễn viên đội văn nghệ dân gian. Đang nói chuyện với chúng tôi bỗng có tiếng chuông điện thoại reo, H’won nhấc máy.
- Khi mọi người luyện tập thì mấy người than vãn bỏ cuộc, bây giờ lại muốn cho đi biểu diễn thì biết thế nào mà diễn!
Trao đổi với ai đó một lúc rồi H’won quay sang chúng tôi phân bua:
- Trước đây chúng em biểu diễn phục vụ khách tùy hứng, lúc đầu thầy Vũ Lân về hướng dẫn bài bản như gò vào khuôn, khó lắm. Nhiều người không kien trì đã bỏ cuộc nửa chừng. Bây giờ thấy chương trình được khách yêu cầu ngày càng nhiều lại nhắn nhe, trách móc không cho đi diễn!
Tiếng chuông điện thoại lại réo. H’won xin lỗi dừng câu chuyện, nhấc máy: “Đoàn trưa nay đến ạ, vâng chúng tôi nghe đây, tám chục người, nghỉ lại đêm xem chương trình văn hóa dân gian...”.
Chúng tôi gặp may rồi, vậy là đêm nay sẽ được ghi nhận thực tế, sẽ có những cảnh quay không phải bố trí. Chương trình phục vụ khách sẽ diễn ra trong không gian ngôi nhà dài. Chúng tôi lên trước 19 giờ để chuẩn bị máy móc thì khách đã đợi sẵn, trong đoàn khách từ Nha Trang lên có cả số khách nước ngoài mới từ Đà Lạt sang. Nghệ sĩ Vũ Lân mặc trang phục Êđê trực tiếp dẫn chương trình. Anh thật có duyên trong việc này. Trước mỗi tiết mục là lời giới thiệu tóm tắt ý nghĩa nội dung: “Thưa quý vị, trong các lễ cúng của người M’nông chúng tôi đều ngân vang tiếng chiêng đồng, nhưng vì sao trong lễ cúng rước hồn lúa lại phải dùng dàn chiêng bằng ống tre. Là vì điều kiện diễn ra lễ cúng xuất phát từ trên rẫy rước về nhà...”. Nhìn động tác uyển chuyển say sưa giới thiệu hóa thân vào vai trò của anh, tôi không còn nhận ra người trai Hà Nội hào hoa, bởi chính tôi cũng đang bị cuốn hút vào nội dung, khúc nhạc điệu múa. Chúng tôi tranh thủ làm mấy phỏng vấn đối với khách du lịch đang hào hứng xem. Bernar người Úc trả lời tôi nhưng mắt vẫn không rời sàn diễn: “Tôi thấy vui được xem chương trình này. Ở nước chúng tôi cũng có nhưng diễn ra ngoài trời. Ở đây chương trình rất đặc biệt, người dân tộc mặc đồ truyền thống đẹp lắm. Trong mỗi tiết mục lại có lời diễn giải để mọi người hiểu được...”. Tôi bỗng nhớ hồi sáng, anh Nguyễn Ngọc Hân - Giám đốc chi nhánh Du lịch Hồ Lăk trao đổi với nghệ sĩ Vũ Lân về việc ghi lại toàn bộ lời giới thiệu, nội dung các tiết mục để chuyển sang nước Anh theo yêu cầu của một đơn vị du lịch Anh quốc muốn đặt văn phòng đại diện tổ chức khách sang Việt Nam đến với Hồ Lăk. Mừng cho ngành du lịch Dak Lak nhưng tôi cũng có một điều băn khoăn, giá như mỗi nhân viên du lịch Lăk đều trở thành người hướng dẫn chương trình hấp dẫn như nghệ sĩ Vũ Lân, mỗi người đều là một hướng dẫn viên thông thạo ngọn nguồn về vùng đất, vùng văn hóa sẽ thuận lợi biết chừng nào. Tôi đem ý này trao đổi với anh Lý Thanh Tùng - Giám đốc Sở Thương mại Du lịch Dak Lak thì được anh cho biết: “Sẽ đào tạo bồi dưỡng kiến thức cho mỗi nhân viên trong ngành phải là một hướng dẫn viên giỏi. Từ điểm du lịch Hồ Lăk sẽ xây dựng cho điểm Buôn Đôn rồi các điểm du lịch khác nữa!”.
Đêm bên bờ Hồ Lăk trong ánh lửa bập bùng, tiếng chiêng rộn rã, các cô gái M’nông trong điệu múa uyển chuyển tạo ra dòng thác, cánh tay nâng từng nửa quả bầu chứa nước chồng lên nhau từ trên cao trút xuống miệng ché rượu cần trong tiết mục “Mời uống rượu cần theo kiểu thác đổ” lúc sáng lúc mờ ảo như huyền thọai làm ngây ngất lòng khách.
Khách tây, khách ta say sưa truyền tay nhau cần rượu, đê mê ngấm theo lời hát Ay ray: “Nhìn xa xa các cô gái buôn tôi như bông hoa Kpai, nhìn gần hơn nữa như một khóm hoa Kpai, nhìn thật kỹ càng đẹp, sao mà không đẹp cho được!”.
Lời hát cứ quyện vào đêm cùng ngọn lửa bập bùng tưởng như không thể dứt.
2003
Nguồn: Rút từ Cửa Hà, dòng sông gấm. Ký của Nguyễn Liên. NXB Văn học, 2008.
www.trieuxuan.info |