26.01.2010
Nguyễn Liên
Mang hơi thở của rừng về biển

Biển Nha Trang dù lộng gió vẫn không làm dịu bớt cái nóng tháng 6 nghiệt ngã của dải đất cát miền Trung. Ngồi trong phòng họp Nhà sáng tác, mười lăm văn nghệ sĩ được Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam mời về dự Trại sáng tác dường như không để ý tới cái nóng thời tiết; say sưa trao đổi, đàm luận với nhau về tiêu chí sáng tác cho dân tộc và miền núi làm nóng lên bầu nhiệt tâm của những con người thiết tha với đồng bào, với vùng đất mình đang gắn bó. Rằng xác định viết cho dân tộc miền núi hay viết về dân tộc miền núi. Rằng cảm ơn lãnh đạo Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam đã không ngừng sáng tạo trong công tác tổ chức. Đó là cái mới về hình thức mở Trại gắn với thâm nhập thực tế tạo cho văn nghệ sĩ mọi miền có điều kiện giao lưu hiểu thêm về một vùng đất, vùng văn hoá của các dân tộc anh em. Tôi thầm nghĩ, không vậy, từ Tây Nguyên xa xôi làm sao hiểu được con người vùng đất Mèo Vạc, Hà Giang mà ra được cái bút ký “Đường hạnh phúc trên cao nguyên đá”; đến thủy điện Mường Lay, Chiềng Ngần để có “Ao bạc Sơn La” v.v… mà vẫn còn tư liệu dành cho dự định dài hơi hơn, sâu hơn.


Lần này chúng tôi đến Nha Trang, đem hơi thở của rừng xuống biển. Nhà lý luận phê bình, nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ già dặn tay nghề cho đến người cầm bút non trẻ bày ra những tác phẩm viết về rừng trao đổi với nhau bên con sóng. Đó là cái mới trong nội dung mở Trại thiết thực bổ ích mà theo tôi, chắc gì đã có Hội nào làm được như vậy. Bởi có người cho rằng đi Trại Sáng tác là đi nghỉ dưỡng, cứ chuẩn bị sẵn tác phẩm nộp là xong. Trên tầng lầu Nhà Sáng tác nằm bên con đường bờ biển mà nhìn, ban ngày những con thuyền của ngư dân neo đậu trên mặt vịnh lờ vờ như ngủ lấy sức cho những lưới cá đèn về đêm. Sáng sớm lúc mặt trời lên, chiều tà khi mặt trời xuống hình như cả thành phố đổ ra biển vùng vẫy tựa gió lốc rồi trả lại sự bình yên cho biển ngủ. Chúng tôi bỗng bị cuốn vào những đợt gió thoả thích ấy. Kỳ lạ, những người nghiệp viết đã ngấm vào máu thịt thì hoàn cảnh nào cũng cứ vịnh vào nghề mới thôi. Nhà thơ Lâm Quý nói với tôi: “Ta xuống biển tắm với mọi người, nhưng phải lên trước mọi người để quan sát người ta tắm biển ra sao, đấy là cái nhìn của nhà văn…”. Câu nói đầy hình ảnh nhưng tôi hiểu tầm nhìn của người cầm bút sáng tác phải như thế nào.


*


Thế rồi chúng tôi cũng được hòa vào hơi thở cuộc sống biển. Con tàu chở chúng tôi du ngoạn đảo mới trườn vào những lớp sóng đầu tiên, nhà thơ Minh Hằng đã chao đảo mắt nhắm nghiền tựa vào nhà văn Lê Phan Nghị dù rằng trước đó chị đã có biện pháp đề phòng say sóng. Có người bảo đấy cũng là một cách cảm thụ, thấy biển mênh mang hơn, sóng vỗ mơn man hơn… Không biết có đúng không nhưng từ biển vào đến bờ nhà thơ Minh Hằng đã có những câu thơ thấm đậm tình biển:


Má bên này áp vào mặt biển


 Má bên kia áp vào mặt trời…


 Biển quàng tay mát lạnh


 Mặt trời thở lời yêu vào tóc


 chỉ bàn chân vô hồn


 Vẽ trên đất hành trình cô độc.


 Nhà thơ Khánh Mai của Khánh Hoà khen về cái nhìn lạ của Minh Hằng mà những người giáp biển hằng ngày khó nhìn thấy.  Con tầu vạch sóng lướt qua đảo Trí Nguyên, từ ngoài xa nhìn vào hình dáng một con tàu thời trung cổ căng những lá buồm no gió như muốn  chuyển dời cả hòn đảo trên mặt vịnh xanh, ai biết nó lại được đúc bằng bê tông mà trong lòng là cả một bộ sưu tập về cá…  Biển xanh thẳm ôm lấy làng chài nổi. Những ngôi nhà xây, nhà lầu của ngư dân, ai cũng biết nó là thành qủa của những bè cá lồng, những sản phẩm của đại dương ban tặng mà có. Nào trường học, cột điện cao thế… tất cả như những đường nét mảng mầu của một bức tranh được lót nền bởi mầu xanh của đảo của trời. Lướt trên sóng một giờ đồng hồ thì con tàu đến đảo Yến.  Bởi nuôi yến nên người ta gọi đảo Yến, còn những tầng tầng lớp lớp đá xám xịt kia xếp từ đỉnh xuống tới chân đảo nên cũng thành cái tên đảo Mun. Tàu không cập đảo mà thả neo bồng bềnh cho du khách bơi lặn ngắm san hô cùng các loại hải sản. Một số trong chúng tôi e ngại xuống biển mặn thiếu nước ngọt đành ngồi trên tàu làm người quan sát. Tàu quay lại đảo Hòn Một bỏ neo cho khách ăn trưa và thưởng thức văn nghệ ngay trên khoang tàu do lái tàu, nhà bếp, nhân viên phục vụ tàu ca hát. Những bản nhạc tổng hợp đượm màu bếp núc mà nghe rõ mùi mẫn, lại còn giới thiệu hát cả bằng tiếng nước ngoài phục vụ mấy ông Tây mới nhuyễn làm sao. Sau đó du khách lại thả mình xuống nước dự tiệc nổi, chúc với nhau ly rượu nho trên sóng. Trở về đảo Tằm mọi người lên bờ thư giãn… Trọn gói du ngoạn đảo như vậy cho một vé ngót trăm ngàn. Mức ấy với một người đã có điều kiện đi nghỉ thì không khó khăn gì.


*


Nha Trang quyến rũ bởi có vịnh, đảo đẹp… và còn có cả món tắm bùn hấp dẫn. Vào suối khoáng nóng Tháp Bà để được tắm bùn chữa bệnh phục hồi sức khỏe người đông như trẩy hội. Có người mong được phục hồi sinh lực, có người chỉ để thỏa ước hiếu kỳ, dù với giá tắm tập thể sáu mươi ngàn đồng cho một người, bồn đôi hai trăm năm mươi ngàn, còn có cả phòng tắm VIP giá hơn một triệu… Không phải ai qua cửa cũng xuôi ngay, có người cũng đắn đo rồi mới chặc lưỡi; nhưng không mục sở thị thì làm sao thấu hiểu ngọn nguồn. Được ngâm mình trong bùn ấm, phơi mình cho khô, sau đó dội nước cho sạch trước khi vào ôn tuyền thủy liệu pháp nghĩa là đứng giữa hai bức tường xếp đá cho các tia nước nóng phun vào người, người ta còn gọi đó là massare nước. Rồi lại ngâm mình trong bể nước nóng, gân cốt hình như giãn ra, xong thì ra bể bơi nước ấm, mệt thì lên ngồi cho thác nước khoáng ấm dội vào người… Có người mãn nguyện mà nói rằng: “Đồng tiền mua tấm vé như vậy cũng xứng thôi”. Tôi chợt liên tưởng tới đại đa số người lao động mấy ai có thể can đảm đừng nghĩ về những hạt thóc bắp ngô do hai sương một nắng mới có, để vào thưởng thức món chữa bệnh này. Một đứa trẻ khóc nức nở chỉ mỗi chuyện phơi nắng lại đen mất da rồi; cả nhà cuống quýt nựng dỗ. Tôi thương cho những đứa trẻ miền quê đang dầm mưa đội nắng, thương cho những người dân miền núi chúng tôi, có người cả đời chưa vượt qua khỏi cánh rừng.


*


Từ thành phố Nha Trang tới Thị xã Cam Ranh chạy dọc bờ biển có một xa lộ mới mở, nó cõng trên lưng cả một tiềm năng cho ngành du lịch khai thác. Một bên núi cao trùng điệp, một bên là biển đảo mênh mông. Con đường vươn tới đâu cái đẹp của thiên nhiên hiển hiện tới đó. Khoảng giữa cung đường ấy từ độ cao nhìn xuống bãi cát trắng lượn vòng như cái lược ngà, những căn lều lợp lá nối dài bày ra đồ nhậu biển dân dã phục vụ khách tắm, có người nói:“ Bãi Dài đẹp nhất Khánh Hoà”, không biết đúng chưa, nhưng đã thấy rồi tôi cứ ước ao mình được nếm trải một lần.


Hèn chi người bạn của tôi định cư ở Nha Trang đã hơn hai mươi năm rất đỗi tự hào được làm người công dân của Thành phố này. Sợ tôi không đủ thời gian để ngấm say, bạn tôi luôn nâng ly rót:“ Khánh Hoà có nhiều cảnh đẹp, có tiềm năng về kinh tế biển, tiềm năng du lịch, có bề dày về lịch sử, văn hoá…”. Chân càng bước lòng càng say thật. Bạn đưa tôi đi thăm Thành cổ Diên Khánh, một di tích lịch sử của Khánh Hòa. Tấm bia trước cửa Thành ghi:“ Thành cổ Diên Khánh do Chúa Nguyễn xây dựng năm Quý Sửu (1793) để phòng thủ, án ngữ và bảo vệ vùng đất Nam Trung bộ… Là trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế, văn hóa tỉnh Khánh Hòa các thời kỳ lịch sử từ 1802 đến đầu 1945…”.  Như vậy Thành phố Nha Trang là thủ phủ của tỉnh Khánh Hòa sau đó. Bạn tôi lại dẫn lời nói của Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại buổi lễ kỷ niệm mười năm giải phóng Khánh Hòa: “… Đất Khánh Hòa, thiên thời, địa lợi, nhân hòa…”. Cứ theo bản đồ địa lý mà thấy thì phía Đông giáp biển Đông lợi thế về kinh tế biển, phía Tây là Cao nguyên giao tiếp với kinh tế rừng. Trục quốc lộ Một thông thương ra Bắc vào Nam qua phía Bắc giáp tỉnh Phú Yên, phía Nam tỉnh Ninh Thuận. Người Nha Trang hiền hòa nhân hậu; chăm lo phát triển kinh tế đấy nhưng không bon chen. Một lần có vị du khách Thụy Điển lên truyền hình Khánh Hòa ca ngợi về Nha Trang rằng: “Nha Trang là Thành phố biển đẹp nhất thế giới, có bờ biển dài ôm lấy thành phố với nhiều di tích danh lam thắng cảnh…”. Không hiểu có ngoa ngôn hay không nhưng ở Nha Trang có cả một dãy phố Tây sinh sống, buôn bán, có cả một Nhà hàng Pháp… Bạn tôi còn phấn khích đọc lên câu thơ:  “Khánh Hòa là xứ Trầm hương/ Non cao biển rộng người thương đi về…”.


Chao ôi, người Khánh Hòa tự hào về Khánh Hòa, yêu vùng đất của mình đến thế là cùng. Tôi thầm nghĩ, bạn cứ lên Tây Nguyên của tôi xem, tôi sẽ đưa bạn về với đêm lửa Hội, tay vít cần rượu chắt thứ men rừng vào lòng, rồi bạn sẽ muốn bước chân theo nhịp chiêng hòa vào vòng xoang không muốn dừng. Bạn cũng sẽ thấy núi rừng cao nguyên của tôi đáng yêu làm sao. Tôi cũng có cái để tự hào cho người thương đi về đấy chứ.                                                                         


                                              6-2006


 


 Nguồn: Rút từ Cửa Hà, dòng sông gấm. Ký của Nguyễn Liên. NXB Văn học, 2008.


www.trieuxuan.info


 


 

trieuxuan.info