27.01.2010
Nguyễn Liên
Châm bạc trên suối tóc H’ linh

Mùa mưa cao nguyên, những trận trút nước chợt ào đến, chợt đi; cũng có khi dầm dề dăm bảy ngày làm đất cây bê bết. Đã một tuần cho đến thời điểm khởi công xây dựng công trình nhà máy thủy điện Dray H’ Linh 2 lại chưa có một trận mưa nào. Mới tám giờ ba mươi phút sáng, chúng tôi bước xuống khỏi xe cái nắng nóng mặt trời liền trùm xuống đầu, tràn xuống vai lưng làm ai nấy như có kim châm lên da thịt ran rát mồ hôi. Ấy vậy mà khách mời và nhân dân các xã Tâm Thắng, Hòa Phú, thị trấn EaTLinh, Nam Dong, EaPô của huyện Cư Jút đã đứng thành hàng thành lối dưới băng cờ khẩu hiệu để chờ giây phút chứng kiến lễ khởi công xây dựng công trình thủy điện có tầm cỡ ở Dak Lak.


Từ trên độ cao dễ chừng hơn chục mét nhìn xuống con đập ngăn dòng và nhà máy thủy điện Dray H’Linh1 bên kia bờ đang xả nước cuồn cuộn xuống những ghềnh đá, tôi mơ màng hình dung ra công trình thủy điện mới sẽ nuốt chửng hết thảy sóng nước vào lòng để biến thành điện năng phục vụ đời sống kinh tế dân sinh cho nhân dân Dak Lak và khu vực Tây Nguyên nay mai.


Trong sóng nước cuồn cuộn, chợt tôi nhận ra hình ảnh những người lính Sư đoàn 470 thuộc Binh đoàn Trường Sơn ngày nào trần lưng chống chọi với thác lũ trong suốt sáu năm ròng để có dòng điện năng hòa vào mạng lưới Quốc gia từ thủy điện Dray H’Linh1. Giờ đây những người lính trung dũng của Sư đoàn lại đang có mặt cùng Công ty 24 thuộc Tổng công ty cơ điện (Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn) để xây dựng công trình thủy điện Dray H’Linh 2.


Đại tá anh hùng lao động Lê Xuân Bá nguyên tư lệnh Sư đoàn 470 cũng được mời về dự lễ khởi công công trình mới. Trong niềm tự hào tôi nhận thấy đáy mắt anh lộ một vẻ suy tư, tay cầm máy ảnh săm soi xuống dòng thác như muốn thu tất cả vào ống kính nhưng lại cũng không biết chụp cái gì. Bởi trong từng gợn sóng long lanh kia thắm niềm vinh quang của người lính xây dựng nhưng hòa trong ấy còn có cả máu của những đồng đội anh.


Thời điểm đầu những năm tám mươi của thế kỷ trước cả khu vực hai bên triền sông Sê Rê Pok là thâm u rừng rậm. Khi ấy chiến tranh qua đi chưa lâu, đời sống của đồng bào các dân tộc tỉnh Dak Lak trước sự hồi sinh còn thiếu thốn đủ bề. Trung ương quyết định cho xây dựng nhà máy thủy điện Dray H’Linh nhằm làm thay đổi bộ mặt cuộc sống Tây Nguyên. Nhưng khi các đơn vị chuyên ngành điện lực khảo sát ngắm dòng chảy trơ trọi đá tảng giữa hun hút rừng già liền lắc đầu rút êm. Lúc ấy ông Y Ngông Niek Dam làm Bí thư tỉnh ủy đã mời vị tư lệnh của Sư đoàn 470 lên gặp: “Sư đoàn có truyền thống mở đường Trường Sơn, lại cũng từng có mặt ở những nơi gian khổ của vùng đất Tây Nguyên, chỉ có những người lính như các anh mới chiến thắng trước khó khăn này!”. Vậy là Sư đoàn 470 xắn tay áo vào cuộc. Chiến tranh đã làm nên sư đoàn anh hùng, chẳng nhẽ trước gian khó trong xây dựng kiến tạo đất nước lại chùn chân. Bạt núi mở đường không ngán nhưng xây dựng thủy điện thì lạ lẫm quá! Là nghĩ vậy nhưng với tinh thần của người lính, người Tư lệnh vẫn hứa quyết tâm với đồng chí Bí thư Tỉnh ủy.


Để xây được móng đập đúng yêu cầu kỹ thuật phải đục xuyên qua lớp đá tảng sâu tới 23,5m, một công việc không dễ dàng gì; trong khi đó mặt nước còn sôi sục lũ lồng lũ quét. Một lãnh đạo của Bộ Tổng tham mưu nói vui: “Ông đang húc đầu vào đá rồi!”. Ông Tư lệnh Sư đoàn cũng đối lại đầy hình ảnh: “Húc đầu vỡ đá mà làm ra được năng lượng cho đất nước thì cũng không sợ!”.


Đúng là ý chí đã tạo nên sức mạnh cho người lính xây dựng trong suốt sáu năm ròng vật lộn với đá, với thác lũ, với nắng gió khắc nghiệt, sốt rét rừng, cả Fulrô rình rập phá hoại, mười ba chiến sĩ đã ngã xuống. Không nản lòng, người lính Sư đoàn 470 vẫn xoay trần đục đá, nổ mìn, đào móng. Cái khó ló cái khôn, từ trong công việc đã nảy sinh nhiều sáng tạo như thiết kế ra cần cầu tháp xuống hố sâu tới hai chục mét để hoàn thành móng. Kỹ thuật nổ mìn làm sao cho đá tự vun thành đống lại không ảnh hưởng tới việc xây dựng. Công việc nặng nhọc thế mà bữa ăn gạo ít hơn mì, bo bo. Tuy vậy được lãnh đạo địa phương, các tổ chức nhân dân thường xuyên lui tới thăm hỏi cả về tinh thần lẫn vật chất, tình dân như đã tiếp thêm sức mạnh cho người lính trên công trường xây dựng. Năm 1990 nhà máy thủy điện Dray H’Linh hoàn thành. Ánh sáng dòng điện rút ra từ dòng nước Sê Rê Pok chuyển đi khắp nơi trong tỉnh. Cả khu vực Tây Nguyên khi ấy chưa có điện cao thế, từ sinh hoạt, sản xuất... tất thảy đều do nguồn điện máy nổ, giờ có nguồn điện lưới là cả một sự kiện đem lại cuộc sống mới cho người dân Dak Lak. Việc làm thành công của Sư đoàn 470 được nhà nước công nhận và Chủ tịch nước ký sắc lệnh phong tặng đơn vị danh hiệu anh hùng lần thứ hai. Đại tá Tư lệnh Sư đoàn- Lê Xuân Bá được phong tặng danh hiệu anh hùng lao động.


                                  *


Từ sau ngày đất nước thống nhất, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm chăm lo đến cuộc sống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên kiên cường trong đấu tranh giải phóng dân tộc, giờ đây đang vừa xây dựng cuộc sống ấm no vừa làm nhiệm vụ phên giậu bảo vệ vùng biên giới Tây Nam của tổ quốc. Đường trải nhựa vào đến các xã vùng sâu, trường học cao tầng mọc lên, điện lưới đem đến từng mái nhà... Bên cạnh đồng bào Ê đê, M’nông còn có hơn bốn mươi dân tộc anh em khắp mọi vùng miền về quy tụ cùng nhau xây dựng cuộc sống mới. Dọc triền sông Sê Rê Pok thay vào những đồi le rậm rịt xác xơ là những vườn điều vườn nhãn, cây ăn quả, là bạt ngàn mía, là mông mênh bông nguồn nguyên liệu cho khu công nghiệp Tâm Thắng... Chỉ những người già từng chứng kiến những ngày gian khổ hy sinh của dân tộc thời đánh Mỹ mơí cảm nhận được hết tầm nhìn mát mắt hôm nay; cả vùng đất Cao nguyên giống như cái cơ thể ốm yếu được bổ dưỡng, dung nhan đã hồng da thắm thịt, mái tóc nàng H’ Linh huyền thoại như bồng bềnh mượt mà hơn.


Sự kiện có thêm một công trình thủy điện mới trên dòng Sê Rê Pok giống như suối tóc H’Linh được cài thêm chiếc trâm ngọc. Từng đoàn từng tốp các cô gái Êđê tay nâng cao váy, chân nhích từng bước qua đập tràn ngập nước từ bờ sông bên kia lần sang qua bờ bên này, thiếu nữ Thái xòe ô, chàng trai Tày háo hức, cụ ông cụ bà lộ rõ niềm vui trên từng khuôn mặt. Cả đoạn dài bề mặt của bờ sông ngăn dòng thuỷ điện là hàng ngàn hàng vạn con người đủ sắc tộc rực rỡ như một ngày hội. Chị H’Măn tươi cười khoe:


- Chúng tôi ở Hòa Phú bên kia sông đã có nhà máy thuỷ điện, nay xây dựng nhà máy mới bên này, chúng tôi nghỉ việc rẫy để sang thăm, phấn khởi lắm. Thanh niên họ lội qua mặt đập, còn chúng tôi đi thuyền...


Chị nói cứ như là thủy điện Dray H’Linh 1 thuộc về địa phương chị để tự hào, còn Dray H’Linh 2 này là của xã Ea Pô. Tôi bỗng nhớ tới hôm nào tại phòng Chủ tịch huyện Cư Zút Đinh Văn Khiết, anh phác ra trước mắt chúng tôi một kế hoạch quy hoạch về phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch thủy điện... Con đường bộ sẽ mở dọc theo triền sông Sê Rê Pôk lên đến thác H’Linh Da cho khách tham quan có dịp dừng lại buôn văn hóa thưởng thức văn hóa cồng chiêng, rượu cần, thổ cẩm Êđê... Thì ra cả chiều dài lưu vực con sông dữ dằn nhưng cũng thật hiền dịu không những chứa đựng cả tiềm năng thủy lợi, thủy điện khá lớn đã được các cơ quan chuyên ngành nghiên cứu quy hoạch 4 dự án thủy điện nhằm khai thác tối đa lượng nước dư thừa về mùa lũ xả xuống hạ lưu qua đập tràn phục vụ đời sống kinh tế mà nó còn đem lại nhiều lợi ích xã hội khác, trong đó có phát triển du lịch.


Thủy điện Dray H’linh 2 xây dựng sẽ có thêm hai tổ máy phát điện với điện lượng 85 triệu kwh mỗi năm hòa vào mạng lưới quốc gia với khoản đầu tư trên 240 tỉ đồng, đấy là công trình mà cả nước dành cho nhân dân tỉnh Dak Lak.


Dòng chảy Sê Rê Pôk dữ dằn ngày nào đã phải khuất phục trước sự dũng mãnh của Sư đoàn 10 chuyển xe tăng, thiết giáp, pháo binh vượt qua sông tấn công giải phóng Buôn Ma Thuột từ cánh Nam; nay đang oằn mình dưới tay những người lính Sư đoàn 470 và công nhân Công ty 24 để tạo ra dòng điện sáng cho đất nước.


                                  *


Chúng tôi đã ngồi lọt vào trong xe mà cái nóng vẫn còn vương víu theo. Nhà báo Dương Thanh Tùng phàn nàn:


- Nắng rát rạt đến thế mà người già, trẻ nhỏ đứng đợi cả mấy tiếng đồng hồ, tội quá.


Cứ hãy nhìn mà xem, trên mỗi khuôn mặt kia, trong những ánh mắt đã lóe lên tia sáng của dòng điện gắn kết cuộc đời họ với tương lai rộng mở đang chờ đón phía trước.


Chiếc xe rời xã Ea Pô hướng về thành phố Buôn Ma Thuột, tôi bỗng nhận ra dưới gầm cầu 14 lấp lóa trong nắng dòng chảy Sê Rê Pôk đang dồn sóng về phía con thác thủy điện và mạn bờ bên kia đã hiện lên nơi khởi đầu của một cung đường du lịch.


Nguồn: Rút từ Cửa Hà, dòng sông gấm. Ký của Nguyễn Liên. NXB Văn học, 2008.


www.trieuxuan.info

trieuxuan.info