08.03.2010
Thanh Giang
Chuyện cổ tích thời mình

Vào những đêm trăng tỏ thành phố, cha con tôi thường trải chiếu ra sân thượng, ngắm nhìn trời, kể chuyện đời xưa. Thi thoảng, do vốn cổ tích cạn chưa nạp kịp, tôi kể cho con nghe chuyện của thời mình.


Ngày xưa…


       Sơn, từ giã mẹ già đi kháng chiến, vô tới miệt Cần Thơ, Cà Mau, Rạch Giá. Một miền đất có địa danh nổi tiếng là rừng tràm U Minh, rừng đước Năm Căn; sông ngòi, kinh rạch chằng chịt, nên giao lưu chủ yếu bằng đường thủy. Anh Sơn thường đi công tác, phương tiện hành trình được cấp một chiếc xuồng ba lá, hai chèo; như tráng sĩ "nhứt nhơn nhứt mã"… Lại phải tản mạn dông dài với thằng con về xuồng và ghe; sao là xuồng ba lá hai chèo; sao là một người chèo tới hai cây? Thôi đại khái nói gọn thế nầy! Xuồng ba lá là ghép bằng ba lá be, đáy một lá, hai be hai lá… Điều lý thú là cái điệu chèo. Một người mà chèo hai cây; chèo không đúng điệu nó quay mòng mòng. (Nói đại vậy mà bỗng thành ca dao!) Phải nói chèo xuồng kiểu Cần Thơ nầy là một quá trình "cách mạng tốc độ" của dân gian chớ bộ! Bởi vừa chèo, vừa lái, lái cũng phát dương tốc độ. Mà tư thế của người chèo, cái dáng điệu chèo nó mạnh mẽ mà uyển chuyển, nó nhún nhẩy tạo lực mà khoan thai; nhứt là con gái chèo thì càng bắt ưa nhìn. Này nhé: hai chân đứng trên sạp lái, tay phải chèo bên trái, tay trái chèo bên phải, hai tay vung tới thật đều trông như  chớp cánh bay, ấy là xuồng phóng tới cũng như bay. Khi hai tay thu về, người hơi ngã lui, ngực ưỡn, chân nhún lấy lực để rồi lại vung tay "chớp cánh "… Và cứ thế, cứ thế!  Thảo nào ca dao có câu:


            Chẳng giậm thì thuyền không đi


                         Giậm ra ván nát, thuyền thì long đanh


                         Đôi ta lên thác xuống gành


                         Em ra đứng mũi, để anh chịu sào "


         Trở lại nói về chiếc xuồng ba lá của anh Sơn nhé. Trên xuồng có sạp nằm, có cái "cà rèm" khi dựng lên thành hai mái che mưa che nắng; có cái "cà ràng " dùng để nhóm lửa nấu cơm, có cái cần câu để khi nghỉ tay đậu xuồng dưới bóng bần, chỉ cần xẻo miếng da gót chân  là câu được cá, thế là có bữa cơm dã chiến…


Kể đến đây thằng con tôi bỗng reo lên thích thú. Tôi nói: "Thích chẳng qua nó có chút gì thi vị của lữ khách thời chiến chinh; chớ sao bằng thời hòa bình đi công vụ bằng xe du lịch, máy bay, muốn ăn uống lúc nào cũng sẵn tiệm quán bên đường, hoặc có người phục vụ tận nơi". Tôi vuốt ve nó nằm trở xuống rồi kể tiếp:


    - Mà nói chớ ít khi cha phải nấu cơm ăn một mình trên xuồng. Bởi vì đi đến đâu thì có nhà dân đã sẵn. Không sẵn những món ăn sang trọng như quán tiệm, nhà hàng, nhưng sẵn nghĩa tình quân dân mặn nồng ấm cúng thì không có gì sang cả mà sánh bằng…


       Đấy, nguồn cơn của câu chuyện đời xưa với "bữa cơm gạo mới"…


       Ngày xưa…"lỡ đường ghé dân". Bao giờ cũng là ý niệm đầy lòng tin của hầu hết dân kháng chiến. Người dân ngày xưa coi những người kháng chiến như con cháu, như anh em ruột thịt không bằng. Nhiều tấm gương hy sinh mình, hy sinh con em mình để bảo vệ cán bộ cách mạng, sử sách hãy còn ghi. Nên cái chuyện lỡ đường ghé dân, đóng quân nhà dân, ở dân nhớ, đi dân thương… thành chuyện đời thường không bút mực nào ghi cho hết.


      Có lần anh Sơn ghé nhà dân mà cái địa danh ở đó cũng rất là dân dã: Rạch Tràm Tróc, thuộc vùng Long Mỹ (Rạch Giá cũ). Nhà không quen, nhưng trước lạ sau quen "cấp kỳ". Đó là nhà má Ba, một bà má như muôn ngàn bà má Miền Nam: trọng tuổi, ăn trầu xỉa thuốc đến trắng bóng mấy cái răng cửa như cẩn xà cừ, đôi mắt vừa đôn hậu vừa lành lạnh, chẳng vồn vã một chút nào, dù rằng thằng Năm mầy mới tới, cũng như hằng trăm thằng Tư, thằng Tám… từng tới lui hoài vậy thôi. Ban đầu tôi nói "dèm" xin mượn cái nồi nấu cơm ăn. Bà má bấy giờ đang ngồi sàng gạo, hơi khẽ nhếch môi đáp: nhà đâu sắm nồi cho mượn. Còn con gái má đang giã gạo ở dưới nhà, vừa nhịp chày mổ cum cum, nói vói lên: "Nhà chỉ có nồi nấu mười người ăn, có mượn thì mượn, không có nồi con". Chỉ cần một câu bóng gió như vậy, chỉ cần đôi mắt liếc xéo chọc quê của cô Út, thế là anh Sơn men xuống, cầm chày giã gạo chày đôi với cô Út, giã đến tháo mồ hôi hột, mà cô Út chẳng chịu thua. Nhà chỉ có hai mẹ con. Có hai anh trai lớn đều đi bộ đội, cô Út mặt còn non chọet, tóc kẹp nhỏng đuôi gà, đoán chưa tới mười bảy. Nhưng giã gạo thì anh Sơn phải chịu thua, mặc dù hồi này ảnh cũng là trai tơ hăm ngoài. Gạo còn xầy xầy, nghĩa là chưa trắng, cô Út đã đổ ra nia, lấy sàng ra sàng; nói do dảnh "Trắng lắm chan mắm cũng đen mà ăn không bổ!". Mùi cám bay thơm ngào ngạt. Hỏi ra mới biết đó là gạo lúa gié vàng: hột nhỏ mà dài, nhà vừa mới gặt mùa xong, ăn bữa cơm gạo mới; chớ gạo cũ, hãy còn đầy khạp, đầy bồ kia.                                                  


          Ngay trong một bữa cơm, tôi nói với thằng con tôi, cũng phải phối hợp đồng bộ, hài hòa với thức ăn. Mà thức ăn cũng phải chế biến hài hòa… Rồi má Ba đi bắt tôm. Tôm rộng trong cái rông cột dây thả ngầm dưới mương vườn đó. Nhà vừa mới dở chà hôm qua. Đống chà chất dưới rạch Tràm Tróc ở trước nhà kia. Đống chà vuông vức bằng chiếc đệm, lâu lâu lựa con nước ròng vào tuần trăng phải kinh nghiệm nông dân mới biết, chỉ cần bao đăng giáp vòng, quăng chà ra, lấy rổ xúc mà xúc tôm cá lên ăn. Ăn không hết thì rộng để dành. "Khách kháng chiến" tới nhà luôn luôn có ăn.


        Khi má Ba trở vào thì cô Út sàng gạo đã xong, má bảo cô Út đi hái bông so đũa, để phần má nấu cơm. Má cũng không ngần ngại bảo thằng Năm mầy có giỏi leo trèo hãy đi phụ với con Út. Được lời như mở cờ trong bụng, anh Sơn lẻo đẻo bước theo cô Út, đi ra đồng. Vừa ra tới mí vườn, bầu trời mở ra mênh mông bát ngát. Thành ngữ : ruộng đồng cò bay thẳng cánh là xuất xứ từ vùng đất miền Tây nầy đây. Cánh đồng tiếp chân trời, lúa chín vàng tươi trong nắng trưa. Mặt trời chênh chếch, nắng chói chang nhưng rất ấm. Ấm chớ không nóng. Bởi gió chướng non thổi rao rao mát lừng, nở căng lồng ngực. Đó là ngọn gió nồm nam, dân gian gọi là mùa gió chướng. Chướng non vào khoảng tháng mười ta; chướng già biết là Tết đến nơi. Cho hay thiên nhiên họat động rất là đồng bộ! Hễ khi chướng về thì lúa mùa bắt đầu chín; đồ hàng bông như : cải xanh, dưa leo,  đậu bún, đặc biệt là dưa hấu mới ra hoa kết quả. Năm nào chương muộn thì đồ hàng bông thất, dưa hấu không kịp Tết, năm ấy buồn, người ta đâm trách chướng muộn! Mải sa đà chuyện bao đồng mà quên kể một loài hoa cô Út và anh Sơn đi hái về ăn. Đó là hoa… "bông so đũa". Thứ hoa nầy không ai đem chưng, chỉ để ăn. Mà cũng không nhiều người biết ăn nó đâu. Bông so đũa chỉ trổ vào mùa gió chướng, ứng với khi trên đồng lúa chín vàng mơ, dưới sông mùa tôm càng gạch khối. Tức mùa tôm ôm trứng, theo thủy triều lên, tràn vào các mương vườn, hồ ao hiểm yếu để ấu trùng sinh trưởng tôm con. Kể sơ sơ vậy cũng đủ thấy sự hài hòa của thiên nhiên ưu đãi cho con người mà ông bà thường gọi là "Thiên thời". Nhưng còn phải kết hợp đồng bộ: "Địa lợi", "Nhân hòa". Có lẽ nên để những câu hát ru em nói lên:


                           Ơn  trời cho lúa chín vàng


                        Cho anh đi gặt, cho nàng đem cơm…        


                        Bao giờ cho gạo bén sàng


                        Cho trăng bén gió cho nàng… bén anh                                              


         Bằng ngược lại sự hài hòa đồng bộ của đất trời, đương nhiên phải trả giá. Dân gian  cũng có câu hát :             


                          Đất xấu trồng cây ngẳng nghiu


                         Những người thô tục nói điều phàm phu…


         Hoặc:    Hòn đất mà biết nói năng


                        Thì thầy địa lý  hàm răng chẳng còn!


         Ờ thôi, để nói chuyện cô Út hái bông so đũa. Đó là loại bông thân cây cao chừng 6, 7 mét, trồng quanh những chòi ruộng, hoặc theo ven đồng, bờ đi, vừa lấy bóng mát, vừa dùng cây làm cột nhà, làm củi, hoặc nuôi nấm mèo. "Tại sao nó có tên gọi là so đũa?" Lại tản mạn về câu hỏi đâm ngang của thằng con! Lọai bông nầy sinh trái dài từng chùm như những chiếc đũa luôn so nhau lủng la lủng liểng theo gió đùa, làm vui mắt nên mang tên dân gian. Bông kết từng chùm trắng tinh, lao xao trong chòm lá xanh đung đưa, trông vui mắt như bầy chim bạch yến nhảy nhót trên cành. Cô Út thoắt một cái đã ở trên cây, hái bông thả xuống. Bấy giờ cô Út vừa hái bông vừa lăng líu chuyện trò, hỏi: Anh Sơn ở tỉnh nào? Đi kháng chiến bỏ chị Sơn ở nhà không nhớ sao?…


       Anh Sơn vốn dân miệt vườn Bến Tre, trèo me, trèo sắn như khỉ, liền trèo lên cây so đũa bên cạnh, vừa phụ hái bông vừa trả lời cô Út, rằng chị Sơn còn gởi ở nhờ mấy bà má…


      - Bà má nào vậy ? - Cô Út nhí nhảnh hỏi tới. - Sao mà có bà má nào tốt bụng nuôi dùm con người ta vậy ?


- Ờ…- Anh Sơn làm bộ ậm ờ một lúc - Ờ…là bà má Ba ở Tràm Tróc đó mà!


Cô Út hứ cắm cóc rồi tụt xuống, gom bông so đũa lại lặt. Anh Sơn tụt xuống theo, có phần lo cô Út giận. Nhưng cô Út bỗng cười, nói lí nhí:


        -Vậy anh Sơn đi công tác đâu, cũng đừng quên trở về thăm má Ba Tràm Tróc à nghen!…


       Đến đây thì tâm hồn tuổi trẻ đồng điệu kể lại dài dòng…


       Bông so đũa lặt bỏ phần bao xanh ở đầu cuốn, bỏ khúc nhụy vàng ở đầu bông, đem về luộc, (còn nấu canh chua lương hoặc cá, bông lau thì tuyệt diệu), giản tiện là hấp cơm, giữ được nguyên hương vị. Tôm kho nước, gạch khối được đánh nhuyễn, cho vào nồi kho khi tôm đã chín. Chừng múc ra tô, gạch tôm đóng váng lên mặt một lớp màu vàng lốm đốm tựa như bơ; thọat trông cũng đủ hấp dẫn, dịch vị tươm ràn rụa. Mâm cơm dọn lên, bông so đũa hấp cơm, chấm với nước tôm kho, ăn cùng cơm gạo mới, lúa gié vàng vừa dẻo, vừa thơm, hòa hợp thịt tôm màu hồng nhạt, ngọt đậm đà hương vị cùng màu sắc. Bữa cơm chỉ có vậy, giản dị, thanh đạm, đồng quê, thâm trầm.          


       Từ ngày xưa đó… Bữa cơm gạo mới đi vào kỉ niệm chính là đạt đến đỉnh điểm của sự hài hòa. Hài hòa món ăn,  hài hòa "thiên thời - địa lợi - nhân hoà"... Một kỉ niệm nồng nàn hương gạo mới thơm mãi trong tôi. Đặc biệt là hình tượng má Ba Tràm Tróc cho đến bao giờ vẫn không phai mờ trong kí ức. Lẽ đương nhiên còn có cô Út tóc kẹp nhỏng đuôi gà, hiếu khách đến hồn nhiên; không những cũng khó mà quên lại còn vấn vương hồn lãng tử phiêu lưu trên khắp nẽo chiến trường…


          Cơm xong, tôi tạ từ trong niềm quyến luyến, trở lại với chiếc xuồng nhứt nhơn nhứt mã. Bữa cơm hữu tình, trăng nước hữu tình, ngẫu hứng ngâm nga:


                      Dòng sông bạc lùa ánh trăng quẫy sóng  


                     Vung mái chèo song kiếm thả hồn thơ…


                                 


 TG.


www.trieuxuan.info


 


 


 


 


 

trieuxuan.info