23.06.2011
Kim Quyên
Hồng Nhựt

Vạch tóc bắt chí cho con, má  Ngọc Thơ căn dặn:


              - Nhựt à! Ở nhà phụ dì Tư lo cho mấy em nghe con. Má không thể ở nhà được nữa… Má ở nhà giặc sẽ bắt, giết má chết…


            Giọng bà nghèn nghẹn, cố kềm không để tiếng khóc vỡ òa trước mặt con. Bà nhìn đứa con gái còi cọc ốm yếu, nhớ trận đòn ban chiều bà đánh nó vì mải mê chơi, bỏ em ngồi khóc ngoài trời nắng, nhớ hai bên hông nó đã hâm đỏ vì bồng em, bà thương con đứt ruột đứt gan. Mới mấy tuổi đầu mà phải chịu bao cực khổ thiếu thốn, xa cha xa mẹ triền miên, mấy chị em Nhựt thường xuyên nhờ cậy vào lối xóm, họ hàng. Giờ đây vì nhiệm vụ quan trọng, bà phải về trên nhận công tác mới ở Mỹ Tho.


  Nghe má nói, Hồng Nhựt khóc òa. Cô bé nài nỉ:


               - Má! Má cho con theo với, con đi công tác với má…


            Nín lặng hồi lâu, bà mẹ thở dài:


              - Lớn chút nữa má cho đi, bây giờ còn nhỏ quá không được đâu con. Ở nhà phụ với dì Tư lo cho mấy em, không có con làm sao mấy em yên lòng được. Từ từ để má thu xếp rồi tính, con lớn phải ngoan, nghe lời má, làm gương cho các em… Xa tụi con má đâu có muốn, tại giặc… nó ác quá mà… Con đừng khóc lóc má đau lòng lắm…


    Hồng Nhựt chùi nước mắt, nhìn má giây lâu rồi hỏi giọng người lớn:


Má đi công tác về tỉnh phải không? Má đi một mình hay với ai?


  - Tức nhiên là phải đi với nhiều người rồi, làm sao đi một mình được, mà sao con hỏi như vậy?


         - Tại con sợ má đi một mình, giặc bắt má nữa...


Má ôm Nhựt vào lòng, vuốt tóc con, nghẹn ngào:


         - Tội nghiệp con tôi, còn nhỏ mà lo nghĩ như người lớn… Con yên tâm đi, má đi với mấy cô chú, không sao đâu, má chỉ lo cho tụi con…


         -  Không sao đâu má. Con sẽ lo cho mấy em đàng hoàng, má cứ đi rồi vài bữa về thăm tụi con một lần nghe má.


         - Ờ. Má sẽ về thường. Con đừng sợ…


Nhựt cầm tay má đặt lên khuôn ngực nhỏ bé của mình như muốn nhận hơi ấm của người mẹ để thân thể và tinh thần cô thêm cứng cáp.


Đêm đó, mấy mẹ con nằm quấn quýt bên nhau. Lũ trẻ biết sắp xa mẹ nên đứa nào cũng muốn nằm gần mẹ, chốc chốc có đứa thút thít khóc, có đứa chồm dậy chui đầu vào ngực má, ôm lấy cổ má như sợ bóng đêm sẽ làm bà biến mất. Hồng Nhựt nằm dựa vách mùng lặng lẽ khóc, nước mắt chảy tràn hai bên đuôi mắt nhưng cô bé cố nén tiếng khóc không cho má biết, thỉnh thoảng cô ngóc đầu dậy nhìn xem bà còn đó hay đã đi rồi.


        Má ra đi rất sớm nhưng thằng Minh Trí, 6 tuổi, vẫn phát hiện, nó nhảy băng qua các mương vườn, vừa  chạy vừa gào: “Má ơi! Sao má nỡ đi vậy má ơi! Tây bắn ba chết rồi, má đi Tây bắn nữa, con ở với ai?”  


         Má dừng lại an ủi khuyên lơn thằng Trí, má ngồi với nó hồi lâu nó mới chịu quay về, Hồng Nhựt  dẫn đứa em út núp dưới gốc chuối ngóng theo cho tới khi bóng bà khuất sau mấy rặng trâm bầu. Nhựt lau nước mắt rồi  dẫn em vào nhà. Nhựt làm mặt giận, rầy thằng Trí sao chộn rộn không cho má đi công tác, má ở nhà sẽ bị giặc bắt. Thương má thì phải để cho má đi. Mấy đứa em nghe chị nói liền nín khóc, rồi cùng nhau bày trò chơi bán tiệm, chơi đánh đũa, nhảy lò cò… quên bẵng chuyện buồn vừa qua. Thấy em vui vẻ, Hồng Nhựt phụ dì Tư nấu cơm trưa. 


        Nhựt đã quen cảnh má đi công tác một đôi ngày nhưng lần nầy không biết bao giờ má về. Đêm nằm ngủ với các em, Nhựt thấy nhớ má vô cùng, ước gì má cho Nhựt theo để được học hành và đi công tác như má. Lần sau má về, nhất định Nhựt sẽ xin bà đi theo.


        Mới chín mười tuổi mà một mình với bốn đứa em, nếu không có sự trợ giúp của dì Tư không biết Nhựt sẽ xoay trở ra sao. Dì Tư vừa gánh vác việc nhà, vừa công tác ở địa phương nên bận túi bụi. Nhờ dì Tư đảm đang vén khéo lại thương chị em Nhựt hết mực nên mấy chị em cũng lây lất qua ngày, thằng út đã lên 2, nó ăn cơm được nhiều, không cần phải ẵm nó đi bú thép cô  bác hàng xóm như năm trước. Từ ngày ba mất đến nay, mỗi lần má đi công tác xa, Nhựt luôn sợ hãi má sẽ tiếp tục bỏ chị em Nhựt bơ vơ mà đi theo ba. Nhựt sợ lắm nhưng vẫn làm mặt tỉnh để trấn an các em. Cô bé giờ đây đã già dặn trước tuổi quá nhiều.


        Thắm thoắt má đi đã hơn năm, thư bà gởi về báo là sẽ về thăm con trong một ngày gần đây. Nhựt mừng lắm, ngày ngày ra vô ngóng trông, đêm nghe tiếng xuồng ai khua lộp cộp trên bến là cô bé đang ngủ mê cũng giật mình choàng tỉnh, chạy vội ra xem. Nghe tiếng chó sủa ở xóm trên, cô dẫn mấy đứa em chạy tới nghe ngóng, đôi mắt cô buồn hiu thất vọng khi biết má chưa về.


         Rồi ngày đó cũng đến. Má như bà tiên hiện ra trong buổi chiều trời nắng đẹp. Hồng Nhựt ôm chầm lấy má, hít lấy hít để cái mùi mồ hôi nồng nồng ngây ngây thân thuộc từ cơ thể má. Mấy đứa em tranh nhau ríu rít, đứa ôm cổ, đứa ôm chân. Má rờ đầu đứa nầy, hôn hít đứa kia rồi khen đứa nào đứa nấy ngoan ngoãn, mau lớn. Hồng Nhựt nhìn gương mặt sạm nắng nhưng rắn rỏi của má, cô bé thấy thương má quá, lần nầy cô nhất định phải xin theo má mới được.


        Má nhìn đứa con gái đầu lòng đang gối tay lên đầu say ngủ, thân hình nó đã bắt đầu nở nang, gương mặt trẻ thơ hằn vẻ khắc khổ của đứa trẻ lớn trước tuổi, gương mặt xương xương với đôi mày đậm giống hệt ba nó. Tính nết trầm lặng chịu thương chịu khó cũng giống ba. Nhìn con, má nhớ tới người chồng thân yêu đã bị giặc Pháp thủ tiêu ở khám Chí Hòa ngày 14.8.1946. Nhớ tới cái chết tức tưởi của chồng, má muốn cho đàn con theo con đường của má để trả nợ nước, thù nhà. Lần nầy về, má sẽ sắp xếp dẫn Hồng Nhựt theo, con lớn rồi phải được học hành, mở mang kiến thức rồi tham gia công tác lần lần cho quen. Má sẽ lần lượt cho các con theo mấy cô mấy chú, một lòng một dạ với cách mạng, dẫu có hy sinh  tính mạng má cũng không tiếc. Gia đình má, nếu tính tới đời các con thì đã 5 đời theo cách mạng. Đời ông Cố (cụ Trần văn Sách), ông Nội (cụ Trần văn Học) của má theo nghĩa quân Trương Định chống giặc Tây đã chết liệt oanh, ba của má hiện cũng tham gia công tác ở Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo. Từ năm 1913, ông đã từng liên hệ với cụ Phan Bội Châu và cụ Cường Để, cùng với các ông nầy bàn việc xuất dương du học theo phong trào Đông Kinh nghĩa thục, sau đó cụ Phan ra nước ngoài mua vũ khí về giao cho ông cất giữ. Năm 1924, cụ Phan Chu Trinh và cụ Nguyễn Sinh Sắc (ba của Bác Hồ) cũng thường lui tới nhà ba bàn bạc quốc sự. Bà mẹ Nguyễn Thị Sâm là một người phụ nữ hết lòng phục vụ cho ba và cho các anh em đồng chí theo cách mạng, cực khổ tốn kém bao nhiêu bà cũng không một tiếng than vãn. Suốt cuộc đời bà, một lòng tận tụy lo cho con, cho chồng, bà không hề nghĩ gì về công lao, sự khổ cực của mình với chồng con, với cách mạng.   


      Nghĩ tới truyền thống gia đình, má càng quyết tâm cho các con sớm lên đường theo cách mạng. Má bàn bạc với dì Tư chuyện mang Hồng Nhựt theo, dì Tư đồng ý ngay vì Hồng Nhựt đã lớn, không thể ở nhà mãi được. Dì Tư sẽ lo cho mấy đứa nhỏ. Dì Tư cũng đồng ý với má là đứa nào lớn thì theo mẹ để nối tiếp con đường mà gia đình đã chọn.


      Được tin nầy, Hồng Nhựt hết sức vui mừng nhưng cô thương mấy đứa em quá. Hai mẹ con bí mật sắp xếp, không cho đám em hay. Nửa khuya, hai mẹ con rón rén thức dậy, nhìn đám trẻ còn say ngủ, hai mẹ con vừa đi vừa khóc dài theo đường. Dì Tư đứng lặng dưới hàng so đũa nhìn theo họ, nước mắt chảy dài.


     Hồng Nhựt xách chiếc giỏ đệm chỉ duy nhất bộ đồ đen, một chiếc khăn choàng tắm và vài thứ vật dụng cho sinh họat hàng ngày. Hai mẹ con im lặng đi bên nhau, Hồng Nhựt vui vì từ nay đã được theo má; nhưng nhớ tới đám em, cô thấy thương chúng quá chừng. Bước chân cô có lúc lựng khựng,  muốn quay trở lại nhưng để má đi một mình cô cũng không đành. “Đi nhanh lên con, coi chừng trời mưa!”. Giọng má nghẹt nghẹt nơi sống mũi, đôi mắt bà đỏ hoe. Muốn má quên nỗi buồn, Hồng Nhựt lên tiếng hỏi: “Má  tính cho con vô cơ quan nào vậy má?”. “ Để tới đó rồi tính, chắc con phải đi học chữ rồi mới tính tiếp được”. Nghe má nói chuyện đi học, Nhựt  mừng rơn. Cô biết cuộc đời cô đã bước vào giai đoạn mới, cô sẽ không còn cực nhọc với bầy em, từ nay cô sẽ sung sướng hơn thời gian ở nhà, nhưng không hiểu sao đôi lúc cô vẫn muốn quay về cùng đám em, chạy nhảy tung tăng bên chúng nó…


         Cơ quan là những ngôi nhà lá nằm cặp theo con kinh Nguyễn Văn Tiếp, đó là Ty Thông tin Tuyên truyền nằm gần bên Hội Phụ nữ Cứu quốc. Hồng Nhựt được giao nhiệm vụ nhận thư và đưa thư cho các cơ quan, đôi lúc kiêm thêm nhiệm vụ đưa thư riêng của các anh chị của hai cơ quan. Cơ quan thông tin có nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Đoàn Giỏi, Nguyễn Bính… Bên Hội Phụ nữ Cứu quốc có chị Tư Chơn (vợ ông Trần Bạch Đằng), chị Phạm Ánh Tuyết, chị Ngọc Dung… Chị nào chị nấy trắng da dài tóc, tiếng Tây nói như gió, là những nữ sinh của trường Áo tím Gia Long, là con của những nhà tư sản yêu nước. Các chị vui vẻ, tính tình cởi mở pha chút lãng mạn của tuổi nữ sinh. Phòng ở của các chị trang hoàng tươm tất, mấy chị lấy hoa lục bình hoặc các loại hoa dại khác chưng mỗi ngày, họ thả con ngỗng sành vào bình hoa cho thêm vui mắt, có hôm mấy nhà thơ qua thăm, đánh cắp con ngỗng khiến nhà văn Đoàn Giỏi phải viết  bài thơ chuộc tội.


          Hồng Nhựt rất dễ tính, siêng năng cần mẫn, ai sai đâu làm đó không nề hà chuyện gì. Cô nhận giữ trâu cho cơ quan, phụ với nhà in đóng sách, phụ với người lớn trồng rau cải để cải thiện bữa ăn… Chuyện nào cô cũng làm tròn nên mọi người trong cơ quan rất yêu quí cô bé. Má Ngọc Thơ được rút lên làm Bí thư Đảng Đoàn Phụ nữ tỉnh, còn Hồng Nhựt thì má cho lên Đồng Tháp Mười học văn hóa ở trường Phan Lương Trực từ năm 1948 đến năm 1950 thì nghỉ học. 


          Trong thời kỳ nầy, má Ngọc Thơ và ông ngọai Trần Vĩnh Hòa bị bắt. Má bị giặc tra tấn dã man, bà bị chúng đánh mẻ xương sườn bên phải, miếng xương ghim vô phổi hành hạ bà suốt - sau nầy, khi ra tập kết ra Bắc, tổ chức cho qua Trung Quốc chữa bệnh mới phát hiện được bệnh. Năm 1951, Hồng Nhựt trở ra thành nuôi má bệnh ở bệnh viện Chợ Quán, tranh thủ những lúc rảnh rỗi, cô đăng ký vào tư thục tiếp tục học lên cấp hai. Vừa học vừa nuôi má, công việc bù đầu nên cũng bớt nhớ các em, nhưng khi có điều kiện, Nhựt tranh thủ theo mấy cô chú và má về thăm đám em được đôi lần, chúng nó tuy thiếu ăn thiếu mặc nhưng cũng lớn nhanh như trái bầu trái bí. Gặp nhau, chị em mừng mừng tủi tủi, chuyện trò huyên thiên không ngớt. Đám em tuy nhỏ dại nhưng đã ý thức được công việc của má và chị Hai nên chúng mạnh mẽ hơn, không mè nheo như trước. Nhựt thương em đến quặn lòng nhưng phải đành bấm bụng ra đi, lần nào đi, cô với má cũng khóc hết nước mắt, có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau phải cách xa người thân yêu máu mủ của mình.  


        Năm 1952, má Ngọc Thơ về công tác phụ nữ Nam bộ ở Bạc Liêu để có thể vừa công tác vừa dưỡng bệnh, sau đó bà được phân công qua Sở Thương binh làm công tác thương binh. Năm 1954, hiệp định Genève ký kết, má Ngọc Thơ được tập kết ra miền Bắc cùng với bốn đứa em. Hồng Nhựt về Cà Mau công tác hậu cần của tỉnh, dự định công việc xong xuôi sẽ ra Bắc sau. Lúc bấy giờ, ông Nguyễn Văn Linh phụ trách lực lượng cán bộ miền Nam. Ông biết Hồng Nhựt là con em cán bộ, cô năng nổ xốc vác, thông minh, can đảm, nên ông phân công ở lại điều lắng, cho cô làm chứng minh nhân dân thật để tiện việc ra vào hợp pháp. Dù không được ra Bắc đoàn tụ với má và các em nhưng thấy má cùng các em xum họp bên nhau cô rất vui. Từ đây cô yên tâm về gia đình, cô vui lòng nhận bất cứ công việc gì cách mạng cần đến.


       Được một thời gian thì tổ chức phân công Hồng Nhựt về Sài Gòn, tiếp tục họat động bí mật, lúc ấy ta đã thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Thấy cô gái đến tuổi kết hôn, tổ chức giới thiệu cô với anh Châu Quốc Tuấn. Tuấn là một thanh niên trí thức, trình độ Tú tài 2, hoạt động thành. Tuấn từng đại diện cho công nhân tỉnh Rạch Giá, tham gia biểu tình chống Pháp, đã có một thời gian dài hoạt động trong lòng công nhân. Hiện Tuấn là Phó Văn phòng Xứ ủy Nam Bộ, trợ lý cho đồng chí Lê Duẩn. Cơ quan Tuấn  đóng tại đất bạn Campuchia.


        Tình yêu, hạnh phúc của đôi nam nữ diễn ra gọn gàng giản dị như người ta trồng một dây sắn, dây khoai, như tính tình chân chất mộc mạc của cô gái đất Chợ Gạo, Mỹ Tho. Tình yêu bắt nguồn từ tình đồng chí, đồng đội, trong hoàn cảnh khó khăn sinh tử, nên không màu mè vòng vo, không phiền phức nhiêu khê; vậy mà son sắt, đằm thắm lạ kỳ. Đám cưới hai người diễn ra ấm áp, giản dị, thắm nghĩa tình đồng đội, tình bè bạn anh em trên đất Campuchia. Năm 1960, đứa con đầu lòng của họ ra đời tại đây, được hai người đặt tên  Châu Quốc Tú. Tú khôi ngô tuấn tú như cái tên của cậu bé, háu bú dễ ngủ, tròn trặn, chắc khỏe trông thật dễ thương.


         Như định mệnh đã sắp bày, giống như má Ngọc Thơ, Hồng Nhựt không ở với con được lâu, tháng 4 năm 1961 chị gởi con cho gia đình Việt kiều tốt nuôi nấng để trở về chiến khu Mã Đà. Nước mắt lại rơi theo mỗi bước chân đi như ngày nào theo má bỏ các em ở lại với dì Tư, trái tim như có ai bóp nát nhưng công việc của cách mạng đang dầu sôi lửa bỏng, làm sao trọn tình trọn nghĩa với chồng con. Là một phụ nữ mạnh mẽ, cứng rắn, Hồng Nhựt luôn tự đông viên mình vượt lên bản thân, vuợt lên tình cảm riêng tư gia đình. Thỉnh thoảng, cô được gặp mặt chồng con đôi ba ngày rồi lại đi. Những giây phút hạnh phúc ngắn ngủi bên chồng con, cô hiểu thế nào là giá trị của sự tự  do, hòa bình.


          Năm 1965, trên đường về chiến khu Bời Lời (giáp Củ Chi và Tây Ninh) nghe tiếng máy bay, cô chui vào công sự bên đường, không nghe tiếng bom bỏ, chỉ nghe tiếng ì ì của mấy chiếc Dakota bay trên đầu. Cô chui ra khỏi công sự, thấy bầu trời như có sương mù, lá cây đọng một lớp bụi như bột màu ngà, mùi hăng hăng, cô vội bươn về khu căn cứ. Mình mẩy ướt sũng vì chất nước đục, khi về đến nơi, cô vội tắm gội nhưng mùi hăng nồng vẫn bám trên người. Cô bị sốt, tiêu chảy và toàn thân ngứa ngáy rất khó chịu. Biết mình đã bị nhiễm chất độc của Mỹ nhưng cô và các cán bộ quân y không ngờ được đó là loại chất độc giết hại con người và cây cối độc hại nhất thế kỷ, nó tác hại đến ba bốn đời sau vẫn còn.


           Do không ai hiểu được chất độc đó là lọai chất gì nên bà con cứ trồng trọt chăn nuôi, ăn uống bình thường trên thửa ruộng, vuông vườn của mình. Trị bệnh qua loa một thời gian, Hồng Nhựt được phân công trở vô Sài Gòn công tác, cô sống bằng nghề thợ may và buôn bán nhỏ, thỉnh thoảng có nghe tin chồng, con. Tú, con cô đã được đưa ra miền Bắc ở với bà ngọai Ngọc Thơ. Chồng cô cũng ra Bắc cùng với đồng chí Nguyễn Văn Linh. Hai cha con được gặp mặt nhau ngoài ấy, vậy là cô yên tâm được phần nào chuyện nhà. Tội nghiệp thằng Tú, mới ba tuổi đầu mà phải xa mẹ xa cha, lênh đênh cùng trời cuối đất. Nhiều đêm, nằm nhớ con ngủ không được, ước gì cô có đôi cánh, những lúc nhớ con bay về bên nó, ôm nó vào lòng thơm lấy thơm để trên đôi má phúng phính cho vơi bớt nhớ thương. Đi làm cách mạng, gian khó hiểm nguy không sờn mà chỉ sợ phải luôn đấu tranh với bản thân mình vượt lên nỗi thương nhớ người thân.


          Vừa mới yên yên thì tai họa lại ập lên số phận người phụ nữ trẻ. Tháng 2-1966, cô sa vào tay giặc. Đó là những ngày khốn khó nhất của cuộc đời người phụ nữ. Ngoài chuyện bị đánh đập khảo tra dã man ở những trại tù tàn ác nổi tiếng trong nước và cả thế giới: Nhà lao Thủ Đức, khám Chí Hòa, trại giam Tân Hiệp, nhà tù Côn Đảo… Mỗi nơi, chúng đánh đập hành hạ mỗi kiểu, nhưng Hồng Nhựt không hề nao núng, chị vẫn tìm cách tiếp cận với sự chỉ đạo của Thành ủy, những chỉ đạo của cấp trên được phổ biến rộng rãi trong anh em tù. Một lần, có người làm lộ bí mật tin tức và khai báo Hồng Nhựt là người chỉ huy, khiến chúng càng đánh đập cô nhiều hơn. Nhiều lấn chết đi sống lại nhưng cô vẫn một mực khai là không biết gì, thẩm tra đi thẩm tra lại, không có chứng cớ, chúng đành đưa cô về trại biệt giam.


        Cơ thể quá suy nhược, lại bị nhiễm chất độc da cam, cơ thể gầy yếu đi không vững, khắp người ngứa ngáy lở loét, chị em trại biệt giam và cả tù thường phạm đấu tranh đòi ban quản đốc đưa cô đi trạm xá trị bệnh. Nhiều hôm, Hồng Nhựt tuyệt thực, quá mỏi mệt đớn đau với những đòn thù, cô muốn chết đi cho xong một kiếp đời. Những lúc tuyệt vọng, cô lại nhớ đến chiếc miệng cười toe toét của thằng Tú, nhớ ánh mắt dịu dàng, gương mặt hiền lành thân thương của chồng, những lời dặn dò thương yêu của anh… Hình ảnh những người thân trong lúc nầy càng động viên cô nhiều hơn. Không! Không thể chết. Cô phải sống để trở về với chồng con, với má Ngọc Thơ, với đồng chí đồng đi. Chị em bạn tù hết lòng chăm sóc, họ nhờ người thân bên ngoài mua thuốc gởi vào, da dẻ bớt lở loét phần nào nhưng chứng tiêu chảy, cảm ho vẫn tái phát thường xuyên.


        Sau hiệp định Paris, một ngày cuối năm 72, quản đốc nhà lao Tân Hiệp kêu tên 6 người trả tự do, trong đó có 4 chị đã cao tuổi, già yếu, cùng Hồng Nhựt và Dung (trước đây làm nghề cô giáo). Cả trại lo lắng bàn luận về việc nầy, nửa tin nửa ngờ không biết chúng đem Hồng Nhựt và mọi người đi thủ tiêu hay thả thật. Hồng Nhựt xác định với mọi người chỉ có hai con đường bắt buộc phải đi, một là lần đi nầy có thể hy sinh, hai là chúng muốn thả thật để đánh đổi một yêu cầu nào đó.


        Sáng sớm, chúng kêu 6 người lên văn phòng lấy tiền về xe nhưng không ai chịu nhận, Hồng Nhựt bảo sẽ xin đồng bào giúp đỡ, chúng đưa mọi người ra bến xe Biên Hòa rồi tuyên bố trả tự do. Mọi người lên chiếc xe đò Biên Hòa - Sài Gòn ngồi, Hồng Nhựt kín đáo theo dõi hai bên đường, lòng cô nửa mừng nửa lo, không biết bây giờ cô và 5 người kia đi về nơi đâu? Các cơ sở cũ đã bị bể, hơn nữa cũng không thể đến thẳng đó, vì chắc chắn mật thám đã giăng bẫy theo dõi. Đang lúc suy tính thì chị phụ nữ ngồi kế bên thì thào: “Mấy chị theo tôi, tôi có người bà con ở Cầu Bông, về đó nghỉ đêm nay rồi sáng mai đi sớm, tin tôi đi, đừng ngại gì cả”. Mừng như bắt được của nhưng Hồng Nhựt vẫn nghi ngại, cô hỏi dò: “Sao chị biết tụi tôi cần chỗ nghỉ?”. Người phụ nữ nhìn chị cười chân chất: “Cô đừng lo! Tôi người miền Tây, gia đình cũng theo kháng chiến hết, nhìn mấy bà là biết trong tù vừa mới ra”. “Cám ơn chị nhiều, đúng là tụi tôi vừa ở tù ra nhưng vẫn còn lo chúng nó…”. “Không sao đâu! Chỗ nầy là xóm lao động, kín đáo và có nhiều ngõ ngách lắm”. “Dạ, vậy chị giúp chúng tôi qua đêm nay, khuya là chúng tôi đi rồi”.


          Mọi người theo chân chị Chín Thiện (tên người phụ nữ) về nhà người bà con ở Cầu Bông. Sau khi hỏi han nhau về gia cảnh, cô gái câm của gia đình không nói không rằng, ra dấu cho mọi người biết là cô đã nấu một nồi nước lá cây cho mọi người tắm. Ai nấy xúc động trước chân tình của gia đình. Hồng Nhựt cảm thấy thật ấm áp, tình đồng chí, nghĩa đồng bào là đây, một niềm vui dâng trào lên nghẹn cổ, cô đã về với bà con cô bác, với tình thương yêu máu mủ của đồng bào.


           Một đêm an giấc bình yên sau bảy năm trời tù tội, mấy người bạn tù không ai bảo ai, tất cả đều trở dậy sớm. Hồng Nhựt bàn với mọi người là mạnh ai nấy đi để tránh sự theo dõi, nếu chúng có bắt lại hay trở chứng gì đó. Ai nấy nhất trí với phương án đó, mọi người từ giã gia đình, chờ cho trên đường khá đông người qua lại mới lần lượt ra đi. Hồng Nhựt quay về Tiền Giang, tìm cơ sở cũ là nhà bảo sanh của cô mụ Sâm. Gặp lại cô Sâm  như gặp lại người thân yêu ruột thịt, Hồng Nhựt hỏi han gia đình, họ hàng mình và nhờ cô liên lạc với đơn vị cũ. Hơn một tháng sau, Hồng Nhựt bắt được liên lạc, cô theo giao liên về Hồng Ngự. Giao liên là một phụ nữ có đứa con gái 3 tuổi, chị dẫn cô tới giao cho anh Trưởng trạm giao liên để anh nầy đưa đến đơn vị. Đêm, ba người ở theo leo trong căn chòi giữa cánh đồng đang mùa nước nổi, chờ sáng hôm sau đi tiếp.


             Tờ mờ sáng, một bầy trực thăng từ phía Đông Nam bay tới, những chiếc đèn xanh đỏ nhấp nháy dưới thân máy bay, chúng đang quần đảo trên cánh đồng nước nổi, đạn pháo từ trực thăng bắn xuống như mưa. Anh Trưởng trạm bươn vội xuống chiếc xuồng ba lá, bảo là đi liên hệ với trạm trên để đưa hai người đi lánh. Hồng Nhựt đoán sự không lành nên cùng với chị giao liên lấy chiếc tam bản rời khỏi căn chòi, quần áo, soong nồi, đồ đạc lỉnh kỉnh và cả hai bao giấy tờ của anh Trưởng trạm, cũng mang theo luôn. Hai người phụ nữ mặc áo trắng, đội nón lá, đứa trẻ và đồ dùng được ngụy trang để cho máy bay thấy đừng bắn. Họ bơi vội vã dưới mưa bom bão đạn, họ tất tả bơi về hướng những chiếc thuyền buôn ngoài sông Cái để nhờ dân chở che. Dân thương hồ trên mấy chiếc ghe lớn nhìn thấy hai người phụ nữ trong cơn hiểm nghèo, họ kêu gọi hãy đến ghe họ ẩn nấp. Lên được chiếc ghe lớn, hai người phụ nữ mới hòan hồn, đứa trẻ khóc ngằn ngặt, mặt mày tím tái vì sợ.


              Qua giờ phút sinh tử, Hồng Nhựt thấy thương người phụ nữ vô cùng, phụ nữ thời chiến gian nan khổ cực không sao nói hết. Vừa công tác, vừa phải nuôi con nhỏ, vượt qua biết bao trận tử sinh dưới bom đạn giặc, không thể nào chị đủ sức công tác lâu dài, nhất là khi có con nhỏ. Hồng Nhựt khuyên chị nên về công tác ở địa phương sẽ dễ dàng hơn. Hai người bịn rịn chia tay, Hồng Nhựt đi về đơn vị.


               Gặp lại đồng đội cũ, ai nấy mừng mừng tủi tủi không nói nên lời. Mọi người lo Hồng Nhựt sẽ chết trong tù vì những đòn tra hiểm ác của giặc. Giờ đây cô đã trở về, sức khỏe yếu kém, thân xác tiều tụy nhưng đôi mắt vẫn tinh anh, chứa chan niềm hy vọng,  cái miệng không còn tươi tắn như xưa nhưng vẫn luôn nở nụ cười hiền lành đôn hậu. Sau khi kiểm điểm với tổ chức về thời gian đi tù, đơn vị lo bồi dưỡng sức khỏe và bố trí cho chị gặp lại anh Tuấn.


                Như Chức Nữ với Ngưu Lang, tưởng đâu không có ngày gặp lại. Giờ đây, sau 7 năm xa cách, họ được ngồi bên nhau bằng xương bằng thịt, bằng trái tim dạt dào tình yêu thương nồng mặn nhất, qua bao đau thương khoắc khoải đợi chờ. Những ngày hạnh phúc ngắn ngủi của họ cũng đã kết tụ được giọt máu thương yêu của hai người. Niềm vui chưa kịp lớn thì  nỗi buồn lại đến, Hồng Nhựt bị sẩy thai, sau đó tiếp tục sẩy thai thêm mấy lần nữa. Anh Tuấn thương vợ  xót xa, có đêm, nằm bên vợ, anh thì thầm: “ Đừng buồn em à! Dù sao mình cũng có thằng Tú rồi, nếu không sanh được nữa cũng không sao. Em bị chúng đánh đập quá nhiếu, không có con cũng là chuyện bình thường, có gì đâu phải buồn”. Hồng Nhựt nói trong nước mắt: “Em muốn sinh thêm vài đứa con nữa nhưng cơ thể có vấn đề rồi, không còn hy vọng gì nữa anh à…”. “Không sao đâu, em lo bồi dưỡng cho khỏe rồi sẽ sinh được thôi”. Hồng Nhựt nhìn gương mặt hiền lành của chồng, thấy thương anh quá đỗi, cô muốn sanh cho anh vài đứa trẻ nữa, tính anh rất yêu trẻ con và cô cũng vậy, nhưng giờ đây mơ ước ấy quá mong manh. Thời gian dần trôi, nỗi buồn về chuyện sinh con vơi đi khi năm 1974, Quốc Tú, con trai của anh chị đã được 15 tuổi, từ miền Bắc trở về với cha mẹ. 


             Sau chiến thắng 1975, đất nước yên bình, gia đình xum họp. Má Ngọc Thơ khỏe hơn trước, các em học hành thành đạt. Ngọc Ánh nay là giảng viên trường Đại học Y Dược, một thằng em tốt nghiệp kỹ sư Hàng không không quân, Minh Trí là kỹ sư vô tuyến điện, còn cậu em út, sinh viên năm cuối của trường Đại học Hàng hải, tình nguyện đi bộ đội đã hy sinh ở Quảng Trị. Trong ngày vui của gia đình, ai cũng ngậm ngùi thương tiếc khôn nguôi thằng em út và những người thân đã mất.


               Công việc tạm ổn, gia đình bình yên, niềm vui to lớn của đất nước hòa trong niềm hạnh phúc của gia đình, Hồng Nhựt vẫn nuôi ý định sinh thêm đứa con nữa. Năm 1977, cô tiếp tục mang thai. Niềm hy vọng chứa chan lại bị dập tắt khi thai nhi là một quái thai bị chết trong bụng. Bác sỹ Nguyễn Thị Phượng còn lưu giữ bào thai này ở “Làng Hòa Bình”. Nhìn bào thai dị dạng, anh Tuấn và Hồng Nhựt đau xót quặn lòng. Giờ đây hai người mới biết rõ, họ đã bị chất độc da cam ngấm vào máu, không còn đường sinh nở nữa. Hồng Nhựt khóc vùi, vẫn biết chiến tranh là đau thương chết chóc, là hủy họai sanh linh nhưng chị không ngờ có những kẻ quá tàn ác, chế tạo ra những loại hóa chất tàn hại con người kinh hoàng như vậy. Niềm đau và nỗi uất hận chất chồng trong trái tim yếu đuối, nhân ái của chị.


               Vượt lên nỗi buồn riêng, theo sự sắp xếp của tổ chức, chị ra Hà Nội học chính trị ở trường Nguyễn Ái Quốc, đồng thời tiếp tục học văn hóa. Sau mấy năm, chị tốt nghiệp trường  chính trị Nguyễn Ái Quốc và tốt nghiệp cấp 3 trường Bổ túc. Trở về thành phố Hồ Chí Minh, chị nhận nhiệm vụ Trưởng ban Dân vận Quận ủy kiêm Ủy ban Mặt trận Tổ quốc quận 5. Năm 1983, chị về phụ trách Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh, sau đó làm Hiệu trưởng trường Cán bộ Phụ nữ Trung Ương chi nhánh phía Nam. Từ khi về hưu, chị phụ trách quản lý các mái ấm tình thương của Hội Phụ nữ từ thiện và sau đó làm Giám đốc trung tâm dạy nghề người khuyết tật.


                 Năm 2002, sau chuyến đi cứu trợ lũ lụt, chị bị đau bụng dữ dội phải cấp cứu ở bệnh viện Nguyễn Trãi. Nội soi cho thấy bao tử bị loét nặng và có khối u ở ruột. Bệnh viện chữa trị vừa tạm ổn thì năm 2003 lại bị khối u tuyến giáp, chị lại tiếp tục lên bàn mổ. Giờ đây, phải đối đầu với những căn bệnh càng ngày càng diễn biến phức tạp nhưng chị vẫn không lùi bước trước khó khăn mới nầy.


                 Tháng 3 năm 2005, Hội nạn nhân chất độc da cam của thành phố Hồ Chí Minh được thành lập, chị là Chủ tịch  Hội. Tháng 11 năm 2005, Hội nạn nhân chất độc da cam của Mỹ mời Hội  thành phố HCM qua, chị cùng với anh Hồ Sĩ Hải- tài xế lái xe trên đường Trường Sơn đã sinh ra 4 người con đều bị phơi nhiễm chất độc da cam- qua Mỹ để giao lưu với người Mỹ bị bệnh và khiếu kiện về việc chánh quyền Mỹ đã lờ đi việc bồi thường thiệt hại cho người Việt Nam.


                 Trong đêm giao lưu trong nhà thờ Mahattan ở New York, chị nói về việc rải chất độc dioxin của không quân Mỹ ở Việt Nam và sự nhiễm độc trên đất đai ruộng đồng cùng người dân Việt Nam mà chị là minh chứng. Đứng giữa giáo đường, chị cất cao giọng hát bài “Vì sao em chết”: Đường phố đã vắng em… Bạn bè đã vào hè… Mà sao em còn trong mê mải… Con ve đã kêu hè… Mà sao em còn trong đớn  đau.. Ôi đứa em tôi!... Đứa em thân thương… Từ nay không còn tìm đâu thấy nữa… Từ nay không còn được ca hát nữa… Chúng nó giết em rồi… Chúng giết bằng chất độc da cam… Chất độc da cam năm xưa đã giết chết mẹ tôi… Để lại cho tôi đứa em cút côi… Mẹ ơi! Mẹ ơi! Không thể nào gặp lại em… Không thể nào gặp lại em yêu…


Giọng hát của chị da diết, ngân vang khiến cho nhiều tín đồ không cầm được nước mắt, họ nói lần đầu tiên, họ nghe nói cụ thể về vấn nạn nầy và họ hỏi Việt Nam cần họ giúp đỡ những gì. Chị Nhựt và mọi người trong đoàn trình bày những khó khăn cùng tật bệnh của người bị nhiễm, họ cần sự an ủi động viên và được đền bù thiệt hại từ chính quyền Mỹ.


Một người Tù trưởng da đỏ đến gặp đoàn, lạy tạ đoàn vì trước đây ông đã tham gia đội quân viễn chinh Mỹ, đã xả súng bắn vào dân thường Việt Nam, ông bị ám ảnh từ bấy đến nay, tâm trí không lúc nào nguôi quên. Khi đoàn đến Washington DC, đang lúc mọi người xem băng video về  nạn nhân Việt Nam thì có một cựu sĩ quan Mỹ (từng tham chiến ở Việt Nam) ngồi trên chiếc xe lăn khóc nức nở. Ông xin nhân dân Việt Nam tha thứ cho ông vì ông đã trực tiếp tham gia vào chiến dịch rải chất khai quang, thực chất là chất độc dioxin khắp miền Nam Việt Nam. Khi đoàn đến California, lúc đầu có  một số Việt kiều phản ứng nhưng sau đó họ xin địa chỉ của Hội nạn nhân chất độc da cam Việt Nam để khi về nước thì họ đến thăm.


                Năm 2008, chị lại cùng em Trần Thị Hoan- trẻ bị nhiễm chất độc da cam được làng Hòa Bình dưỡng nuôi- sang Mỹ. Em Hoan nói tiếng Anh khá sõi, đã sát cánh với cô Hồng Nhựt trong công việc tuyên truyền, vận động và khiếu kiện chính quyền Mỹ phải bồi thường thiệt hại cho nạn nhân da cam của Việt Nam.


                 Má Ngọc Thơ mất năm 1983 vì bệnh phổi. Năm 1999, anh Quốc Tuấn, người chồng thân yêu của chị mất. Anh cũng bị nhiễm chất độc dioxin. Đó là những mất mát lớn lao về tinh thần không gì bù đắp được. Chị cố nén nỗi buồn riêng, lấy niềm vui bên con cháu và công việc để sống, để làm việc. Nỗi đau của người khuyết tật và nạn nhân chất độc da cam vẫn canh cánh bên lòng. Dù tuổi đã cao, sức yếu, bệnh tật hoành hành nhưng chị vẫn vượt qua tất cả để thực hiện những dự định đề ra. Kế hoạch là sẽ thành lập một “Làng Cam” để nuôi dưỡng, điều trị và dạy nghề cho nạn nhân da cam thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam.


                Hiện nhà nước đã cấp cho dự án Làng Cam 50 ha đất ở xã  Xuân Thới Thượng, Hóc Môn. Vốnb đầu tư xây dựng Làng Cam quá lớn nên chị và ban lãnh đạo Trung tâm phải đi vận động tài trợ ở trong và ngoài nước. Không biết Làng Cam đến khi nào hình thành, nhưng chị vẫn ước mơ mình sẽ còn khỏe cho đến ngày ấy. Ngày ngày người phụ nữ mái đầu đã bạc trắng vẫn năng nổ với công việc, nụ cười vẫn dịu dàng nở trên môi.


                 Hồng Nhựt, người con gái của xứ Chợ Gạo mãi mãi là ánh sáng rực rỡ hồng tươi, ánh sáng ấm áp của mùa Xuân trên quê hương Tiền Giang.


                                                                                            


  Kim  Quyên


Rút từ tác phẩm truyện, ký viết về các Anh hùng Dũng sỹ trong Lực lượng Vũ trang Thành đoàn TP. Hồ Chí Minh, sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info

trieuxuan.info