09.03.2012
Nguyễn Tuấn Khanh
Cha tôi, nhà văn Ngọc Giao (1)

Sau khi cha tôi qua đời, đọc lại những di bút của cha tôi, nhà văn Ngọc Giao, một nỗi ân hận dâng trào trong tôi. Từng dòng chữ cho tôi thấy những mong ước thiết tha cháy bỏng của ông là được in lại các tác phẩm của mình, vừa mãnh liệt lại vừa tuyệt vọng. Trong một bức thư dự định gửi gắm việc in tác phẩm cho một người bạn, ông dăn dò: “Thưa bác, trang bìa sau, dưới ảnh in mấy dòng này thì trang bìa đẹp hơn, có ý nghĩa hơn. Tôi rất tiếc. Đêm khó ngủ, mơ thấy sách bán được, và được tái bản, ta sẽ in thêm bài về ông Vũ Đình Long và một số gương mặt nhà văn khác, cuốn sách sẽ đỡ mỏng manh. Nhưng đó chỉ là một điều mơ ước.”


Tôi đọc và đã khóc. Mải lo sinh kế cho gia đình, tôi đã để cha tôi cô đơn đến thế. Giữa cái guồng máy xã hội mà ai nấy đều quay cuồng đến chóng mặt cho cuộc mưu sinh và mưu cầu danh - lợi, một ông già ngoài tám mươi bút run, sức yếu làm sao lo nổi cái chuyện in sách và ra sách.


 Một cây bút đã nổi danh từ trước 1939 trong một sự nghiệp viết lực lưỡng, thế mà rồi cha tôi trở thành người bị lãng quên, ngay từ sau 1954 cho đến cuối thập niên 80 của thế kỷ trước. Đối với người cầm bút, người có một sự nghiệp văn học, người hướng vào sự sống tinh thần của văn chương đến mức đam mê say đắm như cha tôi thì việc bị xã hội lãng quên như vậy có thể xem là một nỗi đau, hơn thế, một hình phạt.


 


Mẹ hiền


Cha tôi có một tuổi thơ nhiều buồn tủi. Bà nội tôi tên là Nguyễn Thị Dư, sinh ra trong một gia đình hoàng tộc Huế đã sa sút, lấy ông nội tôi là cụ Nguyễn Huy Bình lúc bấy giờ do Nhà nước bảo hộ của chính quyền thực dân Pháp điều từ ngoài Bắc vào làm xếp ga ở Huế. Ông nội tôi quê cha đất tổ ở thôn Đào Viên, xã Nguyệt Đức, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Cha tôi ra đời ngày 5 tháng 5 năm 1911 (Tân Hợi), ngay tại kinh đô Huế. Bà nội tôi theo chồng con ra Bắc, rồi mất ở tỉnh lỵ Quảng Yên (Quảng Ninh), khi ấy cha tôi mới bẩy tuổi đầu. Có lẽ sự thiếu thốn tình mẹ đã là cái nguyên cớ ám ảnh khiến rất nhiều truyện, ký của ông hay có hình ảnh Người Mẹ hiền ra đi quá sớm, trong bối cảnh những miền quê mà tuổi thơ ông đã trải như Những hình bóng cũ, Điêu tàn, Những ngày thơ ấu, Một chuyện của lòng…và cả trong tiểu thuyết Quán Gió.


 Ông nội tôi thuở 30 tuổi tốt nghiệp trường École des Interprète (Trường Thông ngôn / thông dịch), sau Pe’trus Trương Vĩnh Ký hai năm. Cụ đã làm xếp ga Đồng Giao (Ninh Bình), miền rừng núi âm u. Cụ nghe đồn ga Đồng Giao có nhiều ma quỷ, hổ báo cũng lắm. Bà Nguyễn Thị Xuân, chị ruột cha tôi có kể một câu chuyện kinh dị về ông nội tôi, đồng thời cha tôi cũng kể câu chuyện này trong một bức thư tôi đang giữ. Câu chuyện phảng phất một không khí liêu trai. Xin kể tóm tắt ra đây, thiết nghĩ cuộc sống cũng không thiếu gì chuyện kinh dị khó mà giải thích cho hết: Tính cụ bướng bỉnh, ngang ngạnh, lại thích phiêu lưu mạo hiểm. Thời ấy, dân cheminot (chemineau: viên chức sở hoả xa) có khuyết điểm, bị kỷ luật thì Tây tống cổ đến Đồng Giao. Ông nội tôi tình nguyện xin đi Đồng Giao, thử xem thú dữ, quỷ ma thế nào. Ông nội tôi đến đó được ba tháng thì quả nhiên có hổ, báo ngày đêm mò đến nhà ga. Còn ma thì có ứng hiệu. Vào một buổi hoàng hôn, cụ bắc chõng tre ra sân ga. Vừa thiêm thiếp ngủ thì chợt nghe tầu hoả đến, cái chõng tre cụ đang nằm ma quỷ đã khiêng ra đặt giữa đường ray, suýt chết. Tầu chuyến ấy bị đâm vào đoàn tầu ở Sài Gòn ra. Cụ bị đi tù ba tháng. Thế là khi mãn hạn tù, cụ xin tạm nghỉ việc.


 Tôi chỉ biết được đến thế qua những trang ghi chép cha tôi để lại. Không rõ ông bà nội tôi khi lấy nhau tại Kinh thành Huế, hai người bao nhiêu tuổi. Nhưng điều đáng nói ở đây là cha tôi đã chịu ảnh hưởng rất lớn từ người mẹ hiền ở nhân cách, tấm lòng bao dung, thương người như thể thương thân, và có thể cả ở dung mạo, phong thái, như cha tôi viết trong bức thư gửi một người bạn, năm 1980:


Tôi chịu giáo dục, mang dòng máu vương giả của mẹ tôi. Cả cuộc đời, tôi cố gắng xử thế như lời mẹ dạy: “Không được nghĩ đến điều ác, làm việc ác, nói lời ác”. Đời tôi có nhiều giông tố bão bùng, có lúc tưởng không toàn mạng do những điều oan nghiệt xui nên. Nhưng rồi tất cả đều qua, không hề van xin, cầu ơn ai hết. Tôi tin ở tấm lòng hướng thiện của mình, may ra tôi nhắm mắt được an lành”.


 Tôi còn nhớ như in trong tâm trí những câu chuyện mà bà Nguyễn Thị Xuân, bác ruột tôi kể về bà nội, mỗi khi bác từ nhà chồng ở Hải Phòng lên Hà Nội thăm gia đình chúng tôi. Bác bảo bà nội nhà mình đẹp lắm, một vẻ đẹp dịu dàng, bước đi dáng đứng thì ung dung thư thái vậy mà sao cái số lại khổ thế. Bà hay ăn trầu, đôi môi cắn chỉ mỗi khi nhai trầu lại như phảng phất một nụ cười. Bà có vóc dáng thanh mảnh, làn tóc dài óng chuốt lúc nào cũng được vấn gọn ghẽ, mà bà có cách vấn tóc thế nào không để vương một sợi trên trán. Mỗi lần bà gội đầu thì thật công phu, tốn kém. Lúc chải tóc,bà phải đứng trên phản, thả mớ tóc dài xuống rồi mới chải nổi. Bà có lối ăn vận rất đẹp, nhưng khi theo chồng ra Bắc, cảnh nhà sa sút, sống giữa những người bần hàn, bà phải tùng tiệm, gắng làm cho dung nhan mình tầm thường đi. Câu chuyện ấy cứ ám ảnh hoài tâm trí tôi hồi thơ ấu, đến nỗi khi lớn lên, hễ thấy người đàn bà nào có mái tóc dài là tôi nghĩ thầm bà này, số phận ắt là khổ lắm đây.


 Với cha tôi, hình ảnh người mẹ thân yêu vẫn đi suốt cuộc đời ông, không một lúc nào nguôi ngoai. Để rồi sau này, ngoài những truyện , ký đầu tay , như Điêu tàn (1938) Bến đò Rừng (1939) có bối cảnh thị trấn Quảng Yên (tỉnh Quảng Ninh) nơi bà nội tôi mất trong một cơn đau đẻ, thì ngay sau đó, cha tôi cho ra đời liên tiếp một loạt truyện, ký kể lại tuổi thơ đầy buồn tủi, trong đó hiện lên hình ảnh một người mẹ ra đi quá sớm, trong bối cảnh những miền quê mà ông đã trải: Một chuyện của lòng (1939), Những hình bóng cũ (1940) và Những ngày thơ ấu (1940). Vào quãng năm 1961 hay 1962, trong một buổi chuyện trò giữa cha tôi và bà chị ruột – bà Xuân - về thời thơ ấu của hai chị em, cha tôi có nói: “Hình ảnh của mẹ, những kỷ niệm về mẹ lúc nào cũng đi theo em trong những lúc em cầm bút, em đã ghi được khá nhiều câu chuyện về mẹ trong một số truyện, ký. Cả trong tiểu thuyết nữa. Nhân vật bà Hường trong Quán gió chính là lấy từ hình ảnh mẹ mình đấy, chị ạ ”. 


 Năm1976, trong ngày tái ngộ với người anh cùng cha khác mẹ là ông Nguyễn Văn Lai tại phố Trần Quốc Toản, Thành phố Hồ Chí Minh sau mấy chục năm xa cách, cha tôi cũng nói điều này với ông Lai. Mạn phép bạn đọc, xin trích ra đây vài đoạn từ những bút ký kể trên. Qua cá tính sáng tạo văn học của tác giả, hình ảnh bà nội tôi đã được hoá thân vào nhiều nhân vật trong các tác phẩm đó. Hy vọng qua nhân vật người mẹ lấy từ nguyên mẫu là bà mẹ đẻ của chính tác giả, bạn đọc có thể thấy được quá trình hình thành nên nhân cách con người và chủ nghĩa nhân đạo trong các tác phẩm của cha tôi.


 


 “Bà ngoại tôi tạ thế từ hồi mẹ tôi ngoài hai mươi tuổi theo chồng ra Bắc.


 Ở Bắc Hà, tôi vừa lên bảy thì mẹ tôi từ giã cõi trần. Tôi nhớ hình như mẹ tôi chết trong khi lâm sản, chết một cách rất nhanh chóng, thảm thương. Tôi nói là “hình như” vì tôi không muốn hỏi cha tôi về những câu chuyện cũ. Thuở còn thơ ấu, cha tôi quanh năm mắc sang Lào, sang Miên theo đuổi về doanh nghiệp, phải gửi tôi ở các quán trọ, hàng cơm. Thuở lớn lên, tôi ham việc học hành, không mấy khi ngồi đối diện cha tôi. Và tuy cha tôi đã tổ chức một gia đình, song than ôi, trong gia đình ấy, tôi thấy tôi là người sống gửi, vì dì ghẻ tôi đối với tôi quá thờ ơ, lãnh đạm, mà cha tôi cũng chẳng quan tâm săn sóc gì tôi.


 Tuy mẹ tôi chết rồi mà ở trong Kinh ông ngoại tôi vẫn thường gửi thư ra Bắc, và cha tôi cũng năng gửi thư vào vấn an người. Nhưng về sau, cha tôi thưa gửi, vì vậy sự liên lạc của cha tôi cùng người cũng nhạt dần.


 Tới khi khôn lớn, thỉnh thoảng tôi có viết thư hỏi thăm ông tôi, nhưng tôi chỉ lén viết không cho cha tôi biết. Tôi dời đất Huế từ ngày thơ nhỏ đến ngày nay đã ngót hai mươi năm. Hai mươi năm để hình ảnh nơi quê hương yêu quý, nơi chôn rau cắt rốn của mình chết trong ký ức, bây giờ tôi mới có dịp, lần thứ nhất, trở lại kinh đô Huế, trở lại tìm người đã sinh ra người mẹ hiền bạc mệnh của tôi…


 …Hỡi người mẹ hiền bạc mệnh của tôi, người đã bỏ lầu hoa chốn Đô thành để đi chôn cả nhan sắc trong gian truân đau khổ với chồng, với con, người đã chôn cả tấm hình hài ngàn vàng trong kiếp giang hồ, chết âm thầm ở nơi đất lạ quê người!


… Bà ngoại tôi thụ bệnh và chết cũng vì tin thê thảm đó…”.


Ký “Một chuyện của lòng”,1939


 


 “…Tôi không bao giờ quên được những buổi tinh sương, mẹ tôi dậy thổi cơm cho tôi để đến trường. Nhất là những buổi sáng mùa đông, nằm trùm chăn, tôi lắng nghe tiếng guốc của bà sẽ động trên nền sân đất rắn, tôi lắng nghe tiếng gạo xát vào lòng rá bên vại nước cạnh gốc cau.


 Dậy ăn cơm, tôi thấy sách vở bút mực của tôi đã xếp sẵn cả rồi. Bà đưa tôi đến tận cửa trường, và đón tôi về ngày bốn lượt, không ngày nào thiếu. Những buổi tối đèn hết cả dầu,mẹ sợ tôi không học được phải xách chai sang tận làng bên mua, đi qua mấy cánh đồng, qua một cái miếu cây cỏ mọc um tùm gọi là miếu “Hai Cô”, người ta bảo thiêng lắm. Lần nào mẹ tôi cũng đứng lại khấn vái một lúc lâu, tôi chắc bà kêu cầu cho tôi học mau tấn tới…để sau này làm quan.


 Ngày nay, giá mẹ tôi còn sống thì thật là đau đớn biết bao nhiêu. Cái đứa con bà hằng mong ước sẽ làm quan ấy vẫn chưa làm gì cả, nếu bà không muốn nhận rằng chính thật ra nó cũng có một nghề, cái nghề viết văn nhọc mệt và bạc bẽo, cái nghề hỡi ơi, không biết sống bây giờ rồi chết bao giờ.


…Khi ngọn đèn đã sáng, đôi mắt hiền dịu của mẹ tôi cũng sáng lên nhìn vào bàn tay tôi vụng dại tô những nét chì trên trang sách.


 Muốn tôi không buồn ngủ để học nhiều, bà thường hay kiếm cho tôi những thức gì ăn. Thức tôi hay ăn nhất là khoai lang nướng. Những củ khoai lang vàng ngọt nóng bỏng tay, mẹ tôi bóc sẵn bày trên đĩa. Những hạt ngô rang khéo quá, nở trắng như những đoá hao nhài đổ đầy chiếc rổ mây. Mẹ tôi ngồi hàng giờ dưới bếp rang từng mẻ một, mang lên bảo tôi ăn cho giòn, nóng. Tôi quên sao được tiếng đôi đũa tre quẹt quẹt vào mảnh nồi đất vỡ lót một lần cát mỏng…, cái tiếng đều đặn khô khan lẫn với tiếng củi nổ lách tách, tựa hồ xé vỡ cả cái im lặng đang đông đặc lại trong trời khuya vắng.


 …Người đàn bà đó đã chết từ lâu. Đứa trẻ ấy giờ đây “đã mang lấy nghiệp vào thân”, ấy là cái nghiệp viết hết truyện này sang truyện khác, viết không còn có thì giờ mà tính sổ để xem hôm nay, năm sắp tàn, mình đã viết được bao nhiêu truyện rồi…


…Nắng đầy cả sân, vườn. Ấy là lúc mẹ tôi yêu nắng và tiếc nắng, nếu bỏ phí không phơi dưa, củ cải, phơi quần áo hay gội tóc. Nhất là gội tóc. Cách ba ngày bà lại phải gội một lần, sự sạch sẽ ấy đã bị đàn bà hàng xóm cho là rởm. Bởi người ta thấy mẹ tôi gội được mớ tóc thật là vất vả. Làn tóc dày và dài chấm gót, thả đầy một chậu thau đồng lớn; lúc chải bà phải đứng trên giường, thả tóc xuống mới không bị vướng. Ít ra cũng dùng năm sáu quả chanh, và bao giờ mẹ tôi cũng gội bằng thứ nước trầm. Thì ra cái thói vương giả, đài các của mẹ tôi, đến ngày sa cơ mà cũng vẫn còn.


 …Nhưng trước hay sau sự tiêu diệt cũng đến đối với con người, dù là một nàng công chúa, một nàng tiên nữ. Mớ tóc đẹp của mẹ tôi, dẫu tôi chẳng xén bớt đi, nó cũng tan thấm vào lòng đất. Những mẩu xương của mẹ tôi đã được moi lên để đặt vào cái tiểu sành. Tôi nâng niu cái đầu lâu nhẵn nhụi trên tay, kính cẩn nhúng vào chiếc chậu thau đựng nước trầm thơm ngát, thứ nước ngày xưa mẹ tôi vẫn dùng gội mớ tóc dài. Vậy mà tôi vẫn ngờ là một giấc chiêm bao.”


Ký “Những hình bóng cũ”, 1940


 


 Và nếu căn cứ vào những điều mà bác Xuân và cha tôi kể lại về cái chết của bà nội, thì bài ký Những ngày thơ ấu dưới đây, với lời đề từ: “Kính tặng hương hồn Mẹ hiền”, 1940, tả đúng đến từng chi tiết ngày bà qua đời, và cả việc đưa hài cốt bà từ thị trấn Quảng Yên (Quảng Ninh) về quê nội ở Thuận Thành để an táng mười năm sau đó. Đây có thể coi là một tư liệu quý giá nhằm phục dựng lại một giai đoạn trong thời thơ ấu của nhà văn.


 


“… Một đêm, trời đen như mực, mẹ tôi thấy đau quặn bụng, bà đánh thức thầy tôi dậy đưa bà đến Nhà thương đẻ. Lúc qua nhà ngang, chỗ buồng tằm, mẹ tôi còn soi đèn xem các nia tằm còn lá dâu không rồi mới đi. Đêm khuya xe không có, thầy tôi xóc cánh tay mẹ tôi qua mấy con đường mới đến Nhà thương.


 Than ôi, lần ra đi này là lần mẹ tôi vĩnh biệt cuộc đời, cuộc đời chỉ có một người chồng, một đứa con và mấy nia tằm.


 Mẹ tôi đã kiệt sức chết trên bàn đẻ, đứa con còn nằm trong bụng chưa ra. Mẹ tôi không được gặp con khi tắt thở, cũng không được thấy chồng, vì lúc ấy thầy tôi chạy lên núi, vào Nhà thương Tây gọi viên đốc tờ người Pháp. Ông ta không xuống, còn mắc ngủ và ngại rét. Tôi nhớ tôi đang trùm kín chăn bởi sợ ma – cái đất này, ông Bồng bảo có nhiều cốt lắm, đó là bãi chiến trường ngày xưa – thì thầy tôi về khẽ kéo chăn ra và run giọng bảo: “mẹ con đi rồi!”. Giá lúc khác thì tôi không hiểu chữ “đi” là gì, nhưng ở lúc này tôi hiểu rõ ràng ngay cái nghĩa gớm ghê của nó. Tôi chui vào chăn mà khóc. Thầy tôi lại mở cửa bước ra…


…Rồi thì một nấm đất cao! Mấy nén hương toả vài tia khói trắng…


…Ông Bồng, thằng Bống theo tiễn thầy tôi và tôi ra bến tàu một buổi chiều. Tôi bỏ học, thầy tôi thôi việc, trở về Hà Nội để xa lánh cái nơi đồng chua nước mặn đã cướp đi mất của chúng tôi một người thân yêu. Dị cũng theo ra, chúng tôi đã thành thực khóc hết cả nước mắt của một đôi bạn nhỏ…


… Thầy tôi, chừng mười năm sau, lại xuống Quảng Yên xin giấy phép ông Sứ để mang xương mẹ tôi về quê hương. Đêm nằm nhà trọ, thầy tôi đã chiêm bao thấy mẹ tôi đứng đầu giường, tóc xoã ra, mình mặc cái áo mà thầy tôi đã mặc cho lúc chết. Mẹ tôi khóc nấc lên mấy tiếng ròi biến đi ngay. Ấy là lần đầu thầy tôi thấy mộng. Vốn không mê tín mà lúc kể chuyện tôi nghe, thầy tôi cũng phải nhận rằng khi đó lòng rất tỉnh, mới nằm chưa ngủ, rõ ràng thấy cái bóng đứng trên đầu, rõ ràng nghe tiếng khóc.


 Chiều hôm sau, thầy tôi xách chiếc va li, tôi nhớ là một chiếc va li bằng mây đan, xuống một chiếc tầu thuỷ ở bến phà Rừng để sang Hải Phòng. Hôm ấy sông sóng nhỏ, tàu chạy được nhanh. Nhưng bỗng nhiên một mạn tàu cứ dần nghiêng lệch, có mấy người kêu lên. Tức thì mại bản đi xem máy móc, rồi đi lục lọi khám xét các đồ hành lý.


 Thày tôi lo lắm. Nếu họ mở đến chiếc va li, lẽ tất nhiên họ vứt xuống nước liền, và họ còn làm lôi thôi nữa. Ấy là do cái dị đoan của các tàu bè trên sông, họ cho rằng hễ tàu nào mang cốt người thì bị đắm. Thầy tôi lo quá, họ vẫn lục soát kỹ càng, sau không biết làm sao thầy tôi phải khấn đến vong hồn mẹ tôi. Chẳng rõ vong hồn mẹ tôi có xui khiến gì chăng mà bọn mại bản sắp đến chỗ thầy tôi bỗng không khám nữa, vì tàu đã thôi nghiêng và đã gần đến cảng. Thế là được thoát. Gặp xe lửa, thầy tôi đáp về quê ngay…


 …Chị họ tôi vừa gánh ra một nồi nước trầm hương. Tôi trải tấm vóc hồng vào trong lòng chiếc tiểu sành. Trong khi ông thầy ngắm lại huyệt xem đào có đúng theo những đường dây ông căng không thì các anh họ tôi mở va li ra, nhặt từng mẩu xương nhúng vào chậu nước trầm cọ rửa. Trước tôi còn sợ, sau nhìn mãi thấy dạn đi. Tôi tranh phần rửa cái đầu lâu. Cái đầu lâu bây giờ ở trên tay tôi, tôi nhè nhẹ tay kẻo vỡ. Cái đầu lâu ngày xưa kia, có mớ tóc dài óng chuốt như tơ, có đôi mày liễu, cặp mắt bồ câu, hai lúm đồng tiền, hai hàm răng hạt na đen nhánh – hàm răng đen của người đàn bà Huế. Tôi gỡ những sợi rễ thông bám vào trong đôi hố mắt, trên cái xương hàm, rồi hai tay bưng đặt vào trong tiểu sành. Đã đến giờ, ông thầy bảo mọi người hạ tiểu.


 Rồi thì lại một nắm đất cao! Lại mấy nén hương toả lên vài tia khói trắng.


 Sự xê dịch của mẹ tôi trong cõi chết thế là xong. Cả kiếp tài hoa của người thiếu nữ sông Hương chỉ còn gửi lại một nắm xương khô ở quê chồng nơi xứ Bắc.”


 


Sự nghiệp viết


Sinh ra và lớn lên trong một hoàn cảnh gia đình sa sút và sớm tan tác như vậy, như chính cha tôi hồi tưởng:


 “Tuổi thơ nào biết vui mái ấm


Gác trọ cơm người cháo lẫn rau”


 Lúc này cha tôi đã hơn mười tuổi, thường xuyên trọ học trên trường huyện. Ông nội tôi lại bị nhà nước bảo hộ của Pháp điều sang làm xếp ga bên Lào. Ông nội tôi vẫn đều đặn gửi tiền về nuôi con ăn học. Sau này, khi cha tôi đỗ tú tài trường Bưởi thì ông đã có thể bước vào đời khá vững vàng. Cũng như nhiều thanh niên Việt Nam có ý chí lúc bấy giờ, cha tôi đã nỗ lực tự học, tự hoàn thiện để trở thành một con người, một trí thức có nhân cách, và hơn thế, một nhà văn.


Theo lời cha tôi kể cho các con, ông cầm bút viết văn từ năm 1929, sau một số bài báo thì ra mắt truyện ngắn đầu tay Bến đò Rừng và một tuỳ bút có cái tên nghe rất “ngông” Dưới mắt tôi, cái xã hội người đăng trên Ngọ Báo. Truyện Bến đò Rừng sau này được tuyển chọn trong tập truyện ngắn Cô gái làng Sơn Hạ - tập truyện ngắn thứ ba, 1942. Tập truyện đầu tay có tên Một đêm vui, gồm những truyện đăng trên Phổ thông Bán nguyệt san, 1937. Tập truyện thứ hai là Phấn hương, 1939. Cả ba tập truyện này đều do Nxb Tân Dân tuyển và in.


 Đến đây, tôi muốn trích nguyên văn một đoạn trong bức thư dài của cha tôi, phúc đáp thư của ông bạn già người Pháp tên là Gustave Meillon đã từng sống ở Đông Dương và Việt Nam hồi trước 1950. Ông G. Meillon có tình thuỷ chung đối với Việt Nam, trong thư ông có hỏi thăm cha tôi về những nhân vật nổi tiếng ở Việt Nam lúc bấy giờ mà ông quen biết như cụ Huỳnh Thúc Kháng, ông Dương Đức Hiền, ông Khuất Duy Tiến…Và một điều đặc biệt là ông Meillon khá thạo tiếng Việt. Giáo sư Hoàng Thiếu Sơn, người chuyển bức thư của ông Meillon, khuyên cha tôi nên viết phúc đáp bằng tiếng Việt. Lúc ấy cha tôi đã 79 tuổi.


 


  …Đời viết văn của tôi bắt đầu từ 1930, tuần nào cũng bắt buộc đẻ ra hai truyện, như con gà đẻ trứng. Sau đó, 1939, tôi ngồi suốt hai ngày sáng tác truyện vừa (nouvelle) “Cô gái làng Sơn Hạ”. Truyện này đăng lên Tiểu thuyết thứ Bảy, được thư của độc giả cả ba miền gởi về nhà báo ngợi khen. Nhờ vậy, Nxb Vũ Đình Long mời tôi làm Thư ký toà soạn Tiểu thuyết thứ Bẩy, đồng thời phụ trách tất cả các loại ấn phẩm của ông Long, kể có đến ba, bốn tuần báo, bán nguyết san (½ tháng ra một số, và cả nguyệt san (tháng ra một số). Không kể loại sách “chưởng”, xưa kêu là kiếm hiệp (roman de cape et d’e’pe’e) và sách trẻ em. Tôi làm đến suýt ho lao, đọc hầu hết bản thảo và sửa chữa bản thảo của tất cả nhà văn chuyên nghiệp và cộng tác viên không được trả tiền (collaborateur be’ne’vole: cộng tác viên tình nguyện). Lương tôi bao nhiêu? Chỉ có 15 đồng. Luôn mười năm trời, không hề có một đồng advancement. Mình đói rách, vẫn giữ sỹ khí (grandeur d’âme des lettre’s) không thèm yêu sách…”.


   Bức thư viết tay này, có một điều đáng chú ý: Ngay từ năm 1939, ông Vũ Đình Long đã mời cha tôi làm Thư ký Toà soạn tờ TTTB. Trong cuốn “Thương nhớ mười hai”, nhà văn Vũ Bằng cũng nói có một dạo ông làm Thư ký Toà soạn cho tờ tuần báo TTTB. Chẳng rõ thế nào. Có thể ông Vũ Bằng làm trước hoặc sau cha tôi chăng?


    Vào năm 1942, 1943 cha tôi cùng nhà văn, nhà báo Tam Lang mà ông hết sức quý mến, kính trọng còn đảm trách cho nhà Tân Dân hai tờ Truyền BáCậu ấm cô chiêu nữa. Trên các số báo Cậu ấm cô chiêu, số nào cũng in đậm dòng chữ Chủ nhiệm: Tam Lang, Chủ bút: Ngọc Giao.


   Tôi vừa tuyển chọn, chỉ riêng trên Truyền Bá (từ 1942 đến 1945) và TTTB đã được 30 truyện viết cho thiếu nhi của Ngọc Giao, sau khi biên tập và đánh máy nó dày hơn 300 trang khổ A4, tương đương hơn 500 trang sách in khổ sách thông thường và dự định sẽ ký hợp đồng xuất bản Tập truyện thiếu nhi chọn lọc này với một nhà xuất bản có uy tín, sau Cuộc gặp mặt kỷ niêm 100 năm sinh của Ngọc Giao do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, ngày 5 – 5 - 2011. Ở đây, tôi nhận thấy, trong đời viết văn của cha tôi, giai đoạn từ 1942 đến 1950 là giai đoạn ông dành rất nhiều tâm lực cho sáng tác văn học thiếu nhi. Trong bài “Bất ngờ- một sự nghiếp viết cho thiếu nhi của Ngọc Giao”, viết rất công phu, nhà nghiên cứu văn học Vân Thanh (Viện nghiên cứu Văn học) cho rằng: “Mới chỉ qua 30 truyện, mà Ngọc Giao có đủ các cách viết: từ mô phỏng truyện cổ tích và truyện thơ nôm; qua truyện loài vật và đồng thoại; ngược về với dã sử và lịch sử; đến với hiện thực thường ngày (Cậu bé đánh giặc Cờ Đen, Hoàng Trừu, Bầu sũa hươu, Quận Hẻo, quận He, Hang thuồng luồng, Ma Thiên Lãnh, Sấm đêm đông…), với sự đa dạng về đề tài và cách viết. Đó là sự xen cài hư và thực, đưa các chi tiết kỳ ảo, hoang đường vào cốt truyện, ông còn vận dụng vào cả truyện về đề tài lịch sử. Mỗi truyện một vẻ, có sức thu hút người đọc liền một mạch từ đầu đến cuối. Mỗi truyện đều có cách viết mới mẻ, biến hoá, phù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh lý của trẻ thơ, đều hàm chứa ý thức giáo dục các em theo hành trình hướng thiện.”


  Bà Vân Thanh kể lại: Trong một buổi họp tại Hội Nhà văn Việt Nam, khi bà hỏi cha tôi ngày trước có viết cho thiếu nhi không, cha tôi đã ngơ ngác một lúc rồi đáp: “Hình như tôi cũng có viết cái gì đó thì phải”. Câu chuyện này có môt cái gì đó vừa bi vừa hài. Khía cạnh bi kịch của nó nằm ở chỗ: Ông đã thực sự quên không nhớ nổi chính những đứa – con – tinh -thần - của – mình, mặc dầu ông có trí nhớ rất tốt. Bởi những tiểu thuyết như Đất, Xã Bèo- người của đất, Cầu sương, Quán gió,Nhà quê, Xóm Rá, Con người…cùng rất nhiều truyện ngắn đã làm nên tuổi mình mà ông cũng đành phải quên thì những truyện viết cho tuổi thơ nào có đáng gì…


  Bình sinh cha tôi không màng chút danh lợi chức tước, ông chỉ ham thích được viết và viết. Chứ như cha tôi bảo, cái chức thư ký quèn nọ đã khiến ông quanh năm suốt tháng phải lo bài vở, lo biên tập, chưa ra số này đã lo số sau. Một điều đáng chú ý là, ngoài việc phải dành sức viết cho chính Nxb Tân Dân, cha tôi còn viết cho mấy tờ khác như Tao đàn, Ngọ báo, Ích Hữu, Phổ thông bán nguyệt san, Sinh Lực, Tri Tân, Thế kỷ, Lẽ sống, Lên đường, Công tội trong suốt thời gian từ 1930 – 1954.


  Công bằng mà nói, riêng với Nxb Tân Dân là nơi cha tôi gắn bó chặt chẽ nhất thì những tờ báo tôi vừa nêu trên cùng nhiều ấn phẩm khác của ông chủ Vũ Đình Long đã góp phần đáng kể trong việc mở mang học vấn, trí tuệ cho nhân dân, có vai trò không nhỏ trong sự hiện đại hoá tiếng Việt và nền văn học nước nhà.


  Từ công việc mà cha tôi làm với tư cách Thư ký toà soạn, ông có tầm giao du khá rộng rãi với lực lượng viết những năm 30 của thế kỷ trước, gồm hầu hết các tác giả ngoài nhóm Tự lực văn đoàn, như Nguyễn Công Hoan, Lan Khai, Thanh Châu, Tchya, Vũ Bằng, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Triệu Luật, Phan Trần Chúc, Lưu Trọng Lư, J. Leiba, Lê Văn Trương, Nguyên Hồng, Trần Huyền Trân, Thâm Tâm, Nam Cao, Nguyễn Bính, Tô Hoài…, sau này đều là những nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại. Các tên tuổi trên đến nay đều đã qua đời. Chỉ còn Tô Hoài đã xấp xỉ tuổi một trăm. Được sống và làm việc cùng các bạn cầm bút, cha tôi thấu hiểu thế nào là “mực mài nước mắt”.Ông thấm thía nỗi đau xót tủi nhục của những bạn viết, viết khổ viết cực mà chẳng đủ nuôi nổi mình và nuôi vợ con và càng ý thức rõ – như ông vẫn bảo “Lũ chúng tôi viết khôn mà sống dại”.


*


 Năm 1946, kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Hà Nội khói lửa ngút trời. Cả bầu đoàn thê tử nhà Ngọc Giao, bao gồm bà vợ cả Nguyễn Thị Tấn (anh em chúng tôi gọi bằng me) cùng các con trai của bà là các anh Nguyễn Ngọc Du, Nguyễn Mạnh Côn, Nguyễn Bá Trác,và mẹ đẻ tôi là bà Nguyễn Thị Thanh từ ngôi nhà thuê 73, phố Hàng Chiếu, Hà Nội quyết định tản cư về quê nội của cha tôi ở thôn Đào Viên, xã Nguyệt Đức, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Năm ấy tôi chưa ra đời. Cả nhà líu díu nấn ná mãi mới đi nổi, bởi giữa lúc nước sôi lửa bỏng như vậy thì me tôi, bà Tấn, lên cơn đau dữ dội. Cha tôi vội đưa me tôi đến Nhà thương Phủ Doãn, may mắn thay lại gặp ngay bác sỹ Phạm Biểu Tâm đang dắt xe ra về. Ông Tâm là một bác sỹ giỏi, học ngành y ở bên Pháp và là một con người hết sức đức độ. Ông lập tức quay lại phòng mổ và tiến hành phẫu thuật cho me tôi. Sau đó, cha tôi ở lại Hà Nội để chờ me tôi khá lên, những người còn lại vội vã lên đường về quê.


 Trong những ngày này, đôi ba lần cha tôi đạp xe tới thăm hoạ sỹ Tô Ngọc Vân tại nhà riêng của ông ở phố Yiết Kiêu, cách Nhà thương Phủ Doãn chẳng bao xa. Sau thời kỳ đổi mới, người ta đã phá ngôi nhà ấy đi rồi, trên nền của nó hiện giờ là cơ ngơi đồ sộ của Toà soạn báo An ninh Thế giới. Cha tôi và ông Tô Ngọc Vân vốn là chỗ anh em cọc chèo. Bà vợ ông hoạ sỹ Vân là chị ruột bà Nguyễn Thị Tấn, vợ cả của cha tôi. Ông Vân lấy bà chị, còn cha tôi lấy bà em. Tuy là nghĩa anh em cọc chèo, nhưng hai người quý nhau như bạn hữu, coi trọng tài năng đức độ của nhau. Cha tôi đặc biệt nể phục bác Tô Ngọc Vân sau loạt bài của bác trong cuộc tranh luận kéo dài trên báo chí thời bấy giờ về “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay / và nghệ thuật vị nhân sinh” với những nhãn quan nghệ thật hết sức độc đáo và mới mẻ.


 Những ngày ấy, vợ chồng bác Tô Ngọc Vân hết sức ái ngại cho hoàn cảnh của cha tôi và gia đình tôi. Một hôm bác trai chỉ vào các bức tranh của bác vẽ, xếp ở chân tường rồi bảo cha tôi: “Nếu chú thích bức nào thì cứ việc lấy”. Cha tôi mỉm cười, đáp: “Giữa lúc khói lửa mịt mù thế này, gia đình tôi còn chưa định liệu ra sao, xin tranh của anh tôi biết mang đi thế nào”. Hai người đâu có ngờ hôm ấy là lần gặp gỡ cuối cùng của họ. Sau đó ít ngày, cha tôi đưa bà cả về quê Thuận Thành. Gia đình bác Tô tham gia kháng chiến chống Pháp ngay từ những ngày đầu, và như chúng ta đều biết, hoạ sỹ Tô Ngọc Vân đã hy sinh trên đường công tác tại Chiến dịch Biên giới năm 1953.


 Khi hồi cư về Hà Nội, khoảng năm 1950 hoặc năm 1951, cha tôi có mua lại của ai đó tại Hà Nội bức tranh sơn dầu nổi tiếng Thiếu nữ bên hoa huệ của hoạ sỹ Tô Ngọc Vân. Bức tranh này đươc treo trang trọng trong phòng khách của cha tôi tại ngôi nhà 14, Đặng Dung, bên cạnh bức sơn dầu lối trừu tượng Bên chiếu bạc của Tạ Tỵ, vẽ một thiếu nữ khoả thân ở tư thế ngồi, với các con bài tú lơ khơ rơi vãi dưới đùi, mầu chủ đạo là mầu xanh, nom ma quái và hấp dẫn lạ lùng. Ở bức tường đối diện treo bức tranh sơn dầu bốn tấm, khổ 1m6 x 1m2 của Nguyễn Tiến Chung, tả ba người đàn bà, họ đều mặc áo dài, cả bức tranh bàng bạc một không khí rất liêu trai. Hoạ sỹ Nguyễn Tiến Chung vẽ bức tranh này dựa trên cảm hứng sau khi đọc tiểu thuyết Cầu sương (1953) của cha tôi. Tôi đã quá lan man khi tả lại cái salon của cha ngày ấy. Ngoài bộ bàn ghế và chiếc divan bọc vải cùng một mầu xanh cốm, những tấm rèm lụa hai lớp ra, trong phòng khách chỉ treo có ba bức tranh kể trên. Thế nhưng cái không khí nghệ thuật của nó vẫn còn vương vấn trong tâm trí tôi cho tới tận bây giờ. Riêng với bức Thiếu nữ bên hoa huệ của bác Tô Ngọc Vân, tôi nghĩ có lẽ dạo ấy cha mình mua để như luôn được nhớ, được gần một người anh em, một người bạn hơn là vì một lý do nào khác.


 


 Sau khi cha tôi chia tay ông Tô Ngọc Vân, cả gia đình tôi đã được xum họp tại quê nội ở Nguyệt Đức, huyện Thuận Thành. Rời khỏi dòng sông Đuống, đường về quê qua khá nhiều ngả, mà ngả đường nào cũng dầy đặc những chứng tích lịch sử của một thời, mang đậm cái hồn Kinh Bắc: ta có thể qua Như Quỳnh, đi lối Chùa Dâu, rồi theo một con lộ, rẽ phải qua Đền thờ Sỹ Nhiếp là đã đặt chân trên đất Nguyệt Đức; cũng có thể đi lối ga Lạc Đạo, sau khi rời khỏi đường Ỷ Lan Công chúa. Ông nội tôi có một trang viên đơn sơ trong thôn, kề bên một ngôi chùa. Gọi là trang viên vì đất khá rộng, ở giữa xây một ngôi nhà gạch, cách xa đấy là dẫy nhà ngang không lấy gì làm vững lắm, cây cối um tùm xanh mướt, chung quanh đất nhà trồng toàn tre gai, vừa làm hàng rào vừa để chắn bớt gió lộng ngoài đồng thổi về. Các ông anh tôi kể làng mình ngày xưa đẹp lắm, vì các anh ấy sống ở quê gần như cả tuổi ấu thơ, chứ tôi thì chẳng biết gì về chuyện này cả, vì mãi năm 1947 mới ra đời. Con sông đào Nguyệt Đức chảy ở mặt trước làng.Vào làng phải đi qua hai chiếc cổng. Một cổng to, có hai cây gạo cao tướng không biết trồng từ hồi nào, đứng ở tít ngoài ga Lạc Đạo cũng nom thấy. Một cổng nhỏ, có cây cầu đá vắt ngang con sông đào. Đường làng lát gạch vỉa uốn lượn quanh co, hai bên đường làng là đình, chùa, ao chuôm, cây cối, giếng nước. Nhà gạch dăm chiếc, phần lớn là của mấy ông gốc gác trong làng nhưng đã ra buôn bán ở Hà Nội từ cái thời băm sáu phố phường còn thắp đèn dầu hoả, còn phần lớn là nhà gianh vách đất. Cha tôi yêu quê nhà, cũng thương nhớ luôn cả những món ăn quê mùa của nó: châu chấu rang hành mỡ, rắc lá chanh thái chỉ, ăn với nước đậu phụ nóng chan cơm; trạch béo om củ chuối trong nồi đất, rồi vùi đống rạ…Hai vợ chồng nhà Xã Bèo trong cuốn Đất của ông, khi chạy loạn lên Nhã Nam, Yên Thế, những lúc vọng nhớ về quê nhà cũng buột miệng thốt lên: “Giá bây giờ mà có đĩa châu chấu rang, ăn với cơm chan nước đậu nhỉ”. Trước cái sở thích lạ lùng của ông, mẹ tôi cứ cười: “Bao món ngon ông không ước, lại chỉ ước món châu chấu rang với nước đậu phụ”.


 Ngày trước, moóc-chi-ê giặc Pháp rót vào phá làng đã khiếp: Ngôi nhà chính trong trang viên ông nội tôi bị trúng moóc-chi-ê, sụp đổ ngay từ những trận càn đầu tiên. Tiếp theo, những cuộc phá dỡ, tiêu thổ kháng chiến liên miên của du kích quân còn khiếp hơn, khiến diện mạo của quê nội bị thay đổi ghê gớm. Những điều đó còn có thể hiểu được. Nhưng có một điều không sao hiểu nổi hoặc giải thích nổi là tai sao từ sau 1954, nhất là những năm gần đây, đang yên đang lành, nhiều thôn làng ở đồng bằng Bắc Bộ bỗng dưng dỡ hết các cầu đá, lấp hết các sông ngòi, dời sạch các cổng làng để thay vào đó bằng những con đường trải đá dăm bụi mù hoặc những chiếc sân xi măng trần trụi vô cảm. Theo cấu trúc tự nhiên và hợp lý của một ngôi làng Việt, thì nhà cửa thôn xóm bám sát hai bên bờ sông. Con sông cung cấp nước cho dân làng ăn uống, cầy cấy; về mặt phong thuỷ nó còn là hồn cốt của một ngôi làng. Ngày xưa, ông bà cha mẹ ta đi đâu về bao giờ cũng vào làng và về nhà bằng cổng làng phía trước thì nay lại phải vòng qua nghĩa địa phía cuối làng mới về được tới nhà mình. Thật là cả một sự vô lý không đáng có. Giờ đây, muốn tìm hiểu vẻ đẹp dung dị của ngôi làng Nguyệt Đức xứ Kinh Bắc xưa, bạn đọc có thể đọc hai cuốn tiểu thuyết Nhà quê (1944) và Đất (1949) của Ngọc Giao.


 Gia đình tôi thu xếp cuộc sống tạm yên ổn thì cha tôi lại tiếp tục viết. Anh Nguyễn Mạnh Côn, con trai thứ của bà cả kể tôi nghe, thỉnh thoảng cha tôi vẫn đạp xe đạp về Hà Nội để gửi bài vở hoặc lĩnh mấy đồng nhuận bút còm. Mỗi lần tiễn cha tôi ra khỏi chiếc cổng tre, mẹ đẻ tôi vẫn còn đứng đó, nhìn với theo bóng dáng cha tôi trên chiếc xe đạp, loạng choạng mỗi khi qua những mô đất gập gềnh. Kể đến đây, anh tôi vừa lắc đầu vừa cười nụ cười hiền hậu: “Hình ảnh ấy đẹp lắm, đẹp lắm”. Mẹ đẻ tôi sinh năm 1922, vậy là năm ấy bà 24 tuổi. Năm ngoái, khi sưu tầm, tuyển chọn những bài ký của cha tôi viết trước 1954 để đưa vào cuốn Quan báo (Nxb. Hội Nhà văn, 2010), vừa đọc lướt bài Hoa gạo ven sông, linh tính như mách bảo tôi rằng người thiếu phụ trong bài ký nọ chính là hình ảnh hoá thân của mẹ tôi, là hình bóng thương yêu của mẹ tôi ngày ấy, với biết bao nỗi niềm chất chứa mà không dễ gì thổ lộ cùng ai.


 Được ít tháng sau, gia đình nhà văn Nguyên Hồng, nhà thơ Trần Huyền Trân cũng đến tá túc tạm tại nhà tôi. Cái cảnh chạy loạn, khói lửa tơi bời thì ai còn lạ. Ở đâu người hiền, đất mến là người ta dừng chân, hạ gánh thôi. Nhưng niềm vui chẳng được tày gang. Giặc Pháp sau khi chiếm được huyện Mỹ Hào thuộc tỉnh Hưng Yên bèn đánh thốc ngay sang huyện Thuận Thành, bên này đường quốc lộ số 5. Gia đình ông Nguyên Hồng đành từ biệt cha tôi để chạy lên Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Ông Trần Huyền Trân thì chẳng rõ đi về đâu. Không hiểu trời xui đất khiến thế nào, tôi vừa viết đúng đến giai đoạn này trong cuộc đời Ngọc Giao thì nhà thơ Anh Chi tới thăm tôi. Anh Chi cho biết, sau khi nhà thơ Hoàng Cầm qua đời, anh đã cho ra mắt cuốn sách “Hoàng Cầm, nhà thơ độc đáo xứ Kinh Bắc”. Trong tác phẩm này, có một chi tiết khiến tôi hết sức chú ý. Nguyên Hồng vào những năm ấy đã phụ trách tờ báo kháng chiến “Chiến sỹ”. Một hôm, nhà thơ Hoàng Cầm lặn lội qua bao rừng, suối mới đến được chỗ Nguyên Hồng để gửi đăng bài thơ “Bên kia sông Đuống” của ông. Hoàng Cầm bảo với Nguyên Hồng rằng: “Khu nam Bắc Ninh bị Pháp chiếm rồi. Nghe tin, xúc động quá, tôi thức trắng đêm qua để viết bài thơ này.” Nguyên Hồng vừa đọc xong bài thơ đã khóc thút thít, bảo: “Bài thơ này cần phải in ở nhiều tờ báo để mọi người được đọc”. Hoàng Cầm nói tiếp: “Chiều hôm qua anh em chỗ tôi lên báo cáo rằng, cái nơi mà anh đến ở nhờ Ngọc Giao trước đây cũng bị Pháp chiếm nốt”.


 Rồi đó, Ngọc Giao đưa vợ con và cha già chạy lên Nhã Nam, Yên Thế. Ông nội tôi lúc này đã già yếu, vừa trở về sống tại quê nhà đã phải chạy loạn cùng các con cháu. Chi bằng xin trích dẫn ra đây một đoạn trong bài ký Một thời làm báo của cha tôi, in trong cuốn Hà Nội cũ nằm đây (Nxb. Phụ Nữ, 2010):


 


1946 bầu đoàn thê tử tôi kéo nhau chạy giặc Tây lên phủ Yên Thế, tá túc tại Nhã Nam.


 Sống, phải làm, phải kiếm ăn. Gia đình tôi cũng cần kiếm ăn ngày loạn. Dọn quán bán hàng, nhìn địa thế cắm đất, địa lợi có ngay. Cắm đất dựng lều dưới chân đồi, trên có đền thờ cụ Hoàng Hoa Thám, quán đắc địa. Con đường chạy thẳng đến chợ Bùng, rồi đến chợ Nhã Nam, chợ luôn phiên, ngày nào cũng họp. Cán bộ, bộ đội, dân thiểu số, bà con các tỉnh tản cư về cái đất Kinh Bắc này đông vui như hội.


Bà xã tôi nấu nướng khá, mồm mép giao dịch với khách ghé nón, hạ ba lô cũng rôm rả tươi vui. Món ăn đặc biệt thời loạn li là bún riêu, bún chả, chè đỗ đen, thạch đen, bánh rán. Tôi, tạm nghỉ bút, hàng ngày, từ sáng sớm, đạp xe đến làng Gia cách Nhã Nam hai cây số mua bún đèo về, giúp vợ giã cua, quạt bếp, nặn bánh rán. Đủ trò, tất bật suốt ngày. Bộ đội chạy bộ hàng chục cây số đường rừng, nhịn ăn hãm uống, chờ đến quán bún riêu Đình Nẻo mới dừng chân, vào ăn, nghỉ. Quán bún riêu Đình Nẻo tiếng đồn các ngả đường, ngon, rẻ, chào mời tử tế.


Hàng ngày tôi đặt cái chõng tre trước đền thờ cụ Hoàng, nằm đọc sách sau giờ tíu tít giúp hai bà xã sửa soạn hàng họ.”


 


 Thời gian này, cha tôi đảm đương viết cho tờ Bạn Dân, báo của Chiến khu XII, lo từ khâu bài vở cho đến việc một mình xuyên đường rừng núi, mò đến nhà in bí mật trong rừng.


Báo Bạn Dân ra số ba rồi thôi, thời gian ngồi viết sống bằng bún riêu của vợ. Chợ Nhã Nam năm ấy, 1947, triển lãm chiến lợi phẩm ta thu được của địch, bị chúng cho máy bay bắn phá. Như chim vỡ tổ, quán bún riêu cũng dẹp luôn.”


 


 Cuối năm 1947, tôi ra đời tại Nhã Nam, Yên Thế, giữa một khu rừng dẻ, rừng trám. Mẹ tôi khi ấy 25 tuổi. Không rõ bởi bà hay lam hay làm, bận bịu với quán bún riêu, hay bởi trở dạ quá nhanh, người nhà không kịp đưa tới nhà thương, bà sinh tôi ngay trong một chiếc lán dưới chân đền thờ cụ Hoàng Hoa Thám. Bởi thế sau này, họ hàng và gia đình cứ gọi đùa tôi là “chú Mán đình Man”. Ra đời trong một hoàn cảnh gian khó như vậy nên tôi không được khoẻ, cứ ốm đau sài đẹn luôn. Gia đình cũng không còn sinh kế nào khác, vốn liếng cạn dần, cuộc sống thấp thỏm lo từng ngày. Năm 1948, cha tôi quyết định để vợ con trở về quê nội ở Thuận Thành, còn ông ở lại vùng kháng chiến. Nhưng khi con đò vừa rời bến, nghe tiếng tôi khóc ngằn ngặt, cha tôi không cầm lòng nổi nên gọi con đò quay lại, ông nhấc chiếc xe đạp xuống đò, đi theo vợ con và cha già. Cha tôi gọi con đò ấy là “con đò định mệnh”, để rồi từ đấy nó đưa cha tôi sang những khúc ngoặt éo le khác của cuộc đời ông.


Xã Nguyệt Đức, huyện Thuận Thành lúc bấy giờ là một vùng “tề”, rất khó sống. Người dân ban ngày thì sống trong sự đè nén, áp chế của giặc Pháp và chính quyền nguỵ ở địa phương; ban đêm du kích về hoạt động. Dân vùng “tề” thường bị đeo cái tiếng lập trường không vững, làm việc gì cũng trông bên này một tí, nghé bên kia một tẹo, dấm da dấm dớ, ú a ú ớ nên bị thiên hạ gọi là dân “ấm ớ hội tề”. Ngày ấy sảy miệng một cái là chết như bỡn. Người thành phố đổ về đây lánh nạn, khiến lương thưc, thực phẩm trở nên đắt đỏ khan hiếm. Cha tôi lại đành dắt díu gia đình, trẻ già, lớn bé trở về Hà Nội mong tìm kế sinh nhai. Cuộc trở về thành lúc bấy giờ không chỉ có cha tôi mà còn nhiều văn sỹ khác vì các lý do riêng cũng phải trở về thành hoặc ở lại nội thành, như Lê Văn Trương, Vũ Bằng, Hoàng Công Khanh, Hồ Dzếnh, Sao Mai, Mộng Sơn… Như các hoạ sỹ Hoàng Tích Chù, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tiến Chung, Hoàng Lập Ngôn, Tạ Tỵ…Một số truyện cha tôi viết sau năm 1948 (Một tâm hồn trong đêm tối, v.v…) trong Hà Nội bị tạm chiếm mang nặng tâm sự của ông. Tâm sự của một người ở trong đêm nhưng tấm lòng vẫn hướng về phía sáng nơi một cõi trời xa.


 Như vậy, những năm 1946, 1947, 1948 vô cùng dữ dội đã để lại trong tâm hồn nhậy cảm của cha tôi biết bao kỷ niệm và kinh nghiệm sống không thể nào quên, nó mãi mãi in đậm trong tâm trí ông. Để rồi liên tiếp các năm sau, ông cho ra đời một loạt tiểu thuyết: Con ngươì (1947), Đất (1949), Quán gió (1949), Xã Bèo, Người của đất (1951), Mưa thu (1953), và Cầu sương (1953), khiến tên tuổi ông có chỗ đứng vững chắc trong trái tim bạn đọc.


 Những tác phẩm này cho thấy ông đã tiếp thu được cái nhìn phê phán dựa trên sự việc của phương Tây, không phải cái nhìn phê phán đơn thuần dựa trên nguyên lý của phương Đông, và ông đã tổ chức sự việc thành hệ thống để cho sự phê phán thành sâu sắc và triệt để. Ở thể loại truyện ngắn, qua những truyện tiêu biểu của Ngọc Giao sáng tác từ 1935 đến 1954, có thể nhận thấy ông không viết theo lối tác giả đưa ra bài học dạy đời. Nó trình bày sự kiện, cố tình làm ra vẻ thản nhiên, khách quan, nhưng trình bày làm sao để người đọc tự mình rút ra kết luận. Nó ném người đọc vào giữa tình huống chứ không cầm tay dắt người đọc. Về mặt ngôn ngữ, dù cho sự bắt chước của tác giả là có ý thức hay không có ý thức, ngôn ngữ văn học của ông dường như đều dựa vào cách bố cục của ngữ pháp Pháp. Về mặt đề tài, ông biểu lộ một sự am hiểu cặn kẽ không chỉ nông thôn Việt Nam, mà cả các giới trong đời sống thành thị: văn nghệ sỹ, đào kép, các kỹ nữ chốn yên hoa, cuộc đời tẻ nhạt của người công chức cùng sự thoả thuê bằng lòng tự mãn với địa vị của họ, số phận các võ sỹ lúc về già, và cả những tính cách hào hùng bộc trực của các bậc quốc sỹ lúc suy thời…Và các nhân vật của ông đều mang một tính cách riêng, ở họ bộc lộ khá rõ nét ý thức về giá trị cá nhân trong thế đối lập với gia đình, làng xã, địa vị xã hội.


* * *


 Ngay từ khi ra đời, mỗi con người đã có một số phận khác nhau. Các tác phẩm văn chương hình như cũng thế. Trong số 8 cuốn tiểu thuyết của cha tôi sáng tác trước và sau năm 1945, thì ba cuốn Đất; Xã Bèo, Người của đất Mưa thu có những số phận hết sức éo le, ngang trái.


 


 Trước hết, tôi muốn nói về tác phẩm Đất của cha tôi, sáng tác năm 1949. Và tôi muốn dùng chính những tư liệu của cha tôi để làm sáng tỏ những gì cần phải nói về nó. Qua đó, tôi hy vọng, mong muốn nhân dân và nền văn học của chúng ta công tâm nhìn nhận và đánh giá lại một nhà văn suốt đời dám đứng về phía những thân phận khốn khổ trong xã hội, chống lại mọi áp bức bất công, cất lên tiếng nói thống thiết của những người nông dân bị cướp đất và bị mất đất.


 Trong một bản Tự Bạch của cha tôi, chữ viết tay rất nhỏ nhưng rõ ràng, dài kín bốn trang khổ lớn, bên lề ghi: “Bản này gởi cho Hội Nhà văn Việt Nam” viết năm 1992, trước khi ông mất 5 năm, đã giải thích rất rõ ràng việc sáng tác Đất và những oan sai từ tác phẩm này.


 


“Ở đây tôi xin biện bạch rất tóm tắt về tác phẩm “Đất” mà từ nhiều năm nay, không ít người có thành kiến, coi nó đã động chạm đến cách mạng.


 Năm 1948, tôi rời Yên Thế nơi tản cư, vì nhiều lẽ riêng về sinh hoạt gia đình để về phủ Thuận Thành, sống trong một làng nhỏ gọi là Nguyệt Đức. Làng này đã lập tề, khá nhiều cường hào, lính Tây hằng ngày đến cướp phá. Cuộc sống dân chúng thực cực khổ. Tôi cố tình sống trong cái vùng tề này, quyết tâm viết một tiểu thuyết dài về đời sống dân tề, về những hành động cực kỳ dã man của Tây và cường hào, Việt gian. Hồi ở vùng tự do viết “phản đế” dễ vì không có kẻ thù trước mặt. Ở vùng tề viết về mình, về địch không phải dễ. Bởi phải viết trước lưỡi lê, họng súng quân thù. Tôi phải viết quyển “Đất” trong hoàn cảnh ấy. Trong khi đó, địch bắn moóc-chi-ê vào làng tôi tới tấp. Căn nhà tôi bị vỡ nát. Không một nơi nương tựa. Cuối cùng tôi phải tìm cách đưa bố già, vợ con ra Hà Nội. Tôi ra Hà Nội vì nghe tin một số văn nghệ sỹ, đông hơn là số hoạ sỹ đã về Hà Nội, như: Hoàng Tích Chù, Bùi Xuân Phái, Tạ Tỵ, Lưu Văn Sìn, Nguyễn Tiến Chung, Nguyễn Tiến Chinh, Kim Đồng…


 Ở Hà Nội, nhà báo Tam Lang Vũ Đình Chí mời tôi cộng tác, ra tờ nhật báo Lẽ Sống. Tôi viết tiếp tác phẩm “Đất” thành roman feuilleton, đăng hằng ngày ở báo này. Tờ Lẽ Sống bị Nguyễn Xuân Thiện (Chính phủ lâm thời) đóng cửa. Tam Lang xin ra tiếp tờ nhật báo Lên Đường. Tôi lại tiếp tục viết “Đất”. Ít ngày sau tờ Lên Đường lại bị đình bản với lý do tờ báo có xu hướng chống quốc gia. Không lâu sau đó, chúng tôi lại xin ra nhật báo Công Tội. “Đất” vẫn được viết và đăng liên tục hàng ngày. Tờ Công Tội lại bị đình bản, cũng vì lý do không làm hài lòng ông Tổng trấn. Tội danh là bác Xã Bèo yêu thương của tôi, con người nông dân làm ăn chất phác, yêu mảnh đất tổ tiên để lại, yêu đất đến nỗi liều chết quên mình, Tây đến hiếp người, giết cả trâu cày, Xã Bèo vẫn bám đất, không chịu tản cư. Nhưng rồi bị ép buộc, Xã Bèo cũng tản cư. Nơi đất khách quê người, không thể cấy cày trên đất người ta, vợ chồng Xã Bèo lại đưa các con về quê. Tây bắn chết con trâu yêu quý của anh. Vợ chồng Xã phải thay nhau làm trâu kéo, con người nhục nhã hơn con vật…Viết đến đây, tôi nghe dư luận từ trên cao xuống thấp, từ vùng kháng chiến đến hội tề, xì xào bàn tán. Tôi quẳng bút, không viết nữa, bởi không còn tờ báo nào dám đăng. Để kêu lên một tiếng cuối cùng, tôi đành than cho cái lớp người dân đen một nắng hai sương bị chiến tranh vùi dập, ngày ngày Tây hiếp đàn bà, mổ bụng trẻ em. Đấy, một tiếng kêu trời: “Bắt cô trói cột”. Đó là câu kết một cuốn truyện dài, lẽ ra phải dài gấp đôi mới tạm hết lời hết ý về cái kiếp hội tề địa ngục chín năm đánh Tây và Tây đánh.


 Tôi ngồi nhà. Vì cuộc sống quá gian nan, tôi buộc lòng làm công chức hợp đồng (agent contratuel) tại Phòng báo chí Nha thông tin Bắc Việt (Information du Nord) thời Thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí. Thời gian này, tôi viết “Xã Bèo, Người của đất”. “Đất” và “Xã Bèo, Người của đất” chính là một tiểu thuyết luận đề, chia làm hai tập. Tôi chủ trương: người nông dân nào cũng yêu đất, sống chết bám vào đất, nhất là đất quê cha đất tổ. Sống ở vùng tề không thiếu gì cơ cực, họ vẫn sống. Bị Tây khủng bố, họ di cư. Nhưng ở nơi đất khách, họ vẫn thương nhớ đất làng, đất tề. Họ lại cõng nhau về tề, sống khổ và chết thảm dưới họng súng Tây.


 Viết “Đất” và “Xã Bèo, Người của đất”, tôi chĩa ngòi bút vào Quân đội Liên hiệp Pháp và bọn cường hào. Nhưng, đôi khi cũng khẽ va chạm một chút vào một số anh chị em du kích. Tôi coi đó là sách lược, có thế Tây mới để tôi sống ngoài tù. Quyển “Đất” xuất bản ở Hà Nội năm 1949. Một hôm, trong bữa tiệc của báo Tia Sáng do Ngô Vân làm chủ nhiệm, ăn mừng ngày sinh nhật báo. Tôi ngồi cạnh một tên Tây lai, chủ bút tờ báo Liên Hiệp, cơ quan ngôn luận-thông tin của cái gọi là Cao uỷ Pháp (Commissariat de France), cơ quan mật thám tối cao của cả Đông Dương. Tên Tây lai đó tên là Soubrier Văn Tuyên. Hắn ghé tai tôi: “Cao uỷ phủ vừa lệnh cho tôi đọc quyển “Đất” của ông”, Tôi cố trấn tĩnh, từ tốn hỏi: “Ông đã đọc xong chưa? đã báo cáo chưa?”. Soubrier lặng yên một lát, rồi thủng thỉnh trả lời: “Đã đọc xong rồi”. Tôi hỏi: “Ông báo cáo sao? Tôi hỏi để biết. Thực tình không xin ông ân huệ gì đâu”. Hắn nhấp cốc rượu đầy, từ tốn vỗ vai tôi: “Tôi đã báo cáo gọn R.A.S. (rien à sigualer – không có gì báo cáo). Rồi hắn cười: “May cho ông đấy! Nếu không có chữ R.A.S. thì ngay đêm nay, một fourgon (xe tù, xe chở binh lương) sẽ đến, mang ông đi đâu có mà trời biết, để khiêng đạn và khiêng xác, không thể có ngày về”.


 Thời gian cứ trôi đi và tôi vẫn nén lo buồn, cố viết cho xong tập “Xã Bèo, Người của đất”. Tôi đã hoàn thành nó.


 Phòng kiểm duyệt không cho xuất bản “Xã Bèo”. Tôi phải bay vào Sài Gòn, nhờ ông bạn Tchya (bạn thân với Phòng kiểm duyệt Sài Gòn) làm cách nào xin được con dấu của kiểm duyệt Sài Gòn. Nửa đêm hôm sau, ông Tchya chạy đến nơi tôi trọ, bảo nhỏ: “Sớm mai liệu bay ra Bắc ngay, kẻo nó bắt vô khám Sài Gòn đó. Chúng nó bảo đây là tác phẩm tuyên truyền cho Việt Minh”. Thế là, sớm hôm sau, tôi rời khỏi Sài Gòn với tập bản thảo “Xã Bèo”.


 Trong suốt quyển “Đất” gần 400 trang chỉ là những mảng tranh mô tả cái khổ của người nông dân trong gọng kìm áp bức của quân đội Pháp. Những sự kiện trong sách chỉ là những cái nút. Đến “Xã Bèo, Người của đất” mới là những cái nút được tháo gỡ: Con cái vợ chồng Xã Bèo sang tập II này đã lớn khôn, bỏ làng tề, lên chiến khu Việt Bắc, theo bộ đội trả thù cho bố mẹ, cho dân làng. Bởi “Xã Bèo, Người của đất”- tập II chưa xuất hiện, thành thử quyển “Đất”- tập I bị mang cái án treo. Tôi chịu đựng, suốt bốn thập kỷ qua đi, tôi không hề phân trần, biện bạch. Có một sự kiện đã xảy ra: Ông Trần Huy Liệu (tôi không nhớ rõ năm nào) được ông Tố Hữu bảo đọc quyển “Đất” để nêu vấn đề. Một ông bạn già của tôi vốn thân với Trần Huy Liệu có hỏi ý kiến ông Liệu về quyển “Đất”. Vừa đúng lúc ông Liệu đọc xong. Ông Liệu bình thản trả lời ông bạn tôi: “Có gì đâu mà nêu vấn đề. Viết về chiến tranh, mà lại viết trong lòng địch, đăng hàng ngày, tất nhiên tác giả phải viết kiểu này: chạm bên này một tí, động bên kia một chút, miễn là cái động chạm ấy không có gì hại cho ta. Tôi đã báo cáo lên ông Tố Hữu là quyển sách không có vấn đề”.


 Sau đó ông Đặng Thai Mai cũng có nhận định như ông Liệu. Khi ông Nguyễn Bắc, giám đốc Sở Văn hoá Hà Nội, viết một bài về tôi có nhiều điều quá đáng (năm 1963), ông Đặng Thai Mai bảo ông Bắc viết lại rồi mới đăng trên một tập san nghiên cứu văn học. Đến nay tôi vẫn thầm mang ơn ông Mai, ông Liệu, hai sử gia chân chính…


 …Tôi thuật lại mấy câu chuyện cũ đời tôi ra đây, mong các anh xem, biết thêm về tôi, ngược với cái mà các anh thường nghe nói về tôi thế này…thế nọ. Tôi xin thề với mái tóc bạc, với nhân cách con người đã hơn nửa đời đọc sách rằng tôi không bao giờ bán hồn bán xác cho quỷ dữ. Nếu có định mệnh, thì bao nhiêu cái không may, cái nghiệp căn đã đổ xuống đầu tôi rồi. Tôi xin chịu đựng, nhất là chịu đựng, và mong chờ cái ngày vĩnh biệt tất cả nỗi độc ác, bất công của cõi trần này.


Ngọc Giao


 


 T.B. Để kết luận bản Tự bạch này, tôi thầm kêu lên: Quyển “Đất” mang hai cái án treo - một của Cao uỷ phủ Pháp, một của Cách mạng. Tôi, nửa thế kỷ nay là một tội đồ vác cây thánh giá trên vai, hứng chịu bản án không kết luận. Tôi viết những dòng này với lòng chân thật của một ông già đang đợi chết.”


 Như đã nói ở trên, Phòng kiểm duyệt Bắc Kỳ và Phòng kiểm duyệt Nam Kỳ của thực dân Pháp đều cấm, không cho xuất bản quyển Xã Bèo, Người của đất (tập II, tiếp theo Đất) của Ngọc Giao, mặc dù ngay trang cuối của tiểu thuyết Đất, do Nxb Cây thông xuất bản năm 1949 đã đăng quảng cáo: “Đón coi: Xã Bèo, Người của đất, cuốn tiểu thuyết tiếp theo Đất của Ngọc Giao”. Nhiều tờ báo ra hàng ngày, tuần san, bán nguyệt san cũng đăng nội dung quảng cáo như thế cho Xã Bèo, mặc dù tác phẩm này mãi đến năm 1951 cha tôi mới hoàn thành. Như vậy, cha tôi đã thai nghén cuốn tiểu thuyết trên từ năm 1949, ngay sau lúc buông bút viết xong Đất.


 Có thể nói rằng số phận người nông dân Viêt Nam luôn là những suy nghĩ thường trực và day dứt trong tâm trí cha tôi. Ông biết đau cái đau tận cùng của họ. Bởi vậy, ông đã thể hiện vô cùng sống động nhân vật vợ chồng Xã Bèo, với tất cả nỗi mơ ước khát khao, tình yêu thanh sạch giản dị của họ. Tôi cho rằng, đây là lần đầu tiên trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác văn học của cha tôi, ông đã nhìn thấy và đã xây dựng được một cách chân thật thân phận của người nông dân Việt Nam. Trong một bài viết giới thiệu về cuốn Đất, đăng trên báo Công tội của Tam Lang Vũ Đình Chí, năm 1950, cha tôi đã viết những dòng chữ như được rút ra từ xương tuỷ của mình:


 Sợ hãi, phục tòng vốn là cố tật của người dân quê: suốt một đời, họ khom mình xuống, cúi sát đầu xuống như con giun con dế lẩn vào chân cỏ rậm. Bèo mở to mắt, há to mồm, nhìn tất cả cơ nghiệp mồ hôi nước mắt của mình băng băng cuốn theo con sóng phù sa cho đến khi bừng tỉnh giấc.


 Quả vậy, Xã Bèo thoạt kỳ thuỷ đã giãy như con lợn nghẹt cổ và vướng lạt. Nhưng rồi cuộc sống đầy gai lửa và ngút cháy kia cũng khiến anh bừng tỉnh giấc như tất cả mọi người.


 Sự nhận định, hiểu biết của Bèo bàng bạc, mong manh như sương khói phủ đồng hoang. Anh chỉ có thể hiểu rằng “sự ấy” cần phải có. Thế thôi. Người dân cày ấy không cần biết gì hơn nữa…


 Anh dân quê nghiến răng nhai nuốt căm hờn, khổ hận. Người vợ thay trâu, rỏ nước mắt vào lòng đất. Người chồng ngửa mặt nhìn trời để kêu trời một tiếng. Nhưng trời cao xa lắm; đất thì dằng dặc những tội lỗi, những bất công, những oán thù. Anh Bèo của tôi không kêu nữa, bởi vì đã có một loài chim kêu cái tiếng kêu gớm ghiếc kia:


-          - “Bắt cô trói cột!”


 Tiếng loài chim này ám ảnh, vang vọng bên tai tôi khi đặt bút. Tôi có cảm tưởng nó kêu ở gần tôi, ở xa tôi, trên những mảnh đất rơi rắc máu và nước mắt.


 Và tôi cũng nghĩ rằng vợ chồng anh bạn Xã Bèo của tôi vẫn bừa chưa xong mảnh ruộng nước gạch cua ngầu như máu loãng, giữa lúc tôi mới tạm cày sới xong những luống chữ bỏng cháy này”.


*


 Bây giờ xin nói về số phận tác phẩm Xã Bèo, Người của đất. Như đã nói, cha tôi đã hoàn thành tác phẩm trên vào năm 1951, nhưng bị giới kiểm duyệt Bắc Kỳ và Nam Kỳ của chính quyền thực dân Pháp ngăn cản, không cho xuất bản. Vậy nội dung của nó ra sao? Vào đầu năm 1950, cha tôi có một bài viết ngắn trên báo. Bài báo này chỉ nói về ý tưởng sáng tác của ông, chứ không nhằm đề cập tới nội dung tác phẩm. Dưới đây là toàn văn bài viết.


 


 “Hôm nay, tôi lại viết chuyện “Xã Bèo, Người của đất.” Bởi vì có thể nào đã hết được chuyện con người sống như con vật đó. Nói khác đi, có thể nào đã hết được những bất công, độc ác khi mà con người còn uy hiếp con người.


 Xã Bèo tượng trưng cho một lớp dân cầy đã bị lột đến manh khố cuối cùng, đã bị dốc đến giọt máu loãng nhất của một mạng người thoi thóp trong ngày loạn, hiện lúc này đây, vẫn dở sống dở chết trong luỹ tre vùng Nguyệt Đức xác xơ lụi cháy kia.


 Mới có hơn ba năm trời, cuộc đời anh dân cầy ấy đã có biết bao nhiêu biến cố. Quả thực, anh Bèo đã đúng là một cánh bèo khốn nạn trôi cuồn cuộn trên dòng phù sa nổi bão. Con người - vật ấy ngoi ngóp, ngụp lặn, chới với giữa cái không gian hắc ám này, khuất chìm như một hạt bụi trong cơn gió lốc của muôn vàn thế sự.


 Không ai có thì giờ cúi xuống nhìn một con sâu đang sống cuộc đời con sâu dưới cỏ. Cũng vậy, không ai có thì giờ cúi xuống nhìn anh dân cầy tủi nhục đang bấu víu lấy cuộc đời, đất cát, như một con chó cố ôm chân cột trong buồng tối dưới ngọn chầy hạ tới tấp xuống đầu để rồi hầm rựa mận, làm vui cho bữa tiệc quỷ ma.


 Xã Bèo! Xã Bèo! Anh vẫn ngậm miệng nghiến răng không hề than kiếp chó, không hề oán lòng người, anh Xã Bèo của tôi trước nay cam với phận và đành với đất.


 Đất thì cằn cỗi còn phải cầy bừa mãi, cho đến lúc giẫy một cái cuối cùng để rồi “về với mảnh đất nhà ta”, trên đó anh dân cầy đã cả một kiếp làm trâu.


Phận thì…chao ôi, có là cái quái gì, nếu Xã Bèo chẳng thường nghĩ vẩn vơ như anh lính thú nơi ma thiêng nước độc “hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai…”


 Xã Bèo hiện sống thoi thóp với cái phận một kẻ dân Tề, ngày như con cuốc sợ mặt trời, đêm như con di, sẻ run hãi loài cú vọ


 Vậy để tiếp ĐẤT, tôi viết chuyện XÃ BÈO, gửi vào thiên hạ một chút lịch sử dân sinh, ghi bằng máu cái thực trạng xã hội lúc này, mà trong đó lớp người Tề thôn dã đang là những nạn nhân đáng kể nhất của Tội Ác”.


*


 Cuối cùng, cuốn truyện dài Mưa thu, xuất bản năm 1953 cũng khiến cha tôi lao đao, suýt gặp nguy.


 Mưa thu kể về mối tình ngang trái giữa hai nghệ sỹ tên là Linh và Oanh trong một đoàn kịch lưu động trên chiến khu Việt Bắc, vào những năm kháng chiến chống Pháp. Những vở kịch có hai nghệ sỹ này tham gia đã mang sức sống mới cho tác phẩm, và đem lại danh tiếng cho đoàn kịch. Linh đã để cha mẹ già, người vợ trẻ và bầy con thơ lại bến đò Hồ để đi theo đoàn kịch. Anh tự lừa dối lòng mình rằng anh làm thế chẳng qua vì yêu nghệ thuật, nhưng thực ra anh yêu Oanh còn hơn cả gia đình, hơn cả nghệ thuật, hơn tất cả. Trước việc Oanh có mang và sự đàm tiếu của một số người trong đoàn, hai người đã được Thảo- một bạn diễn, mời đến sống với gia đình anh. Ngoài mối tình say đắm giữa đôi nghệ sỹ này, tác giả còn để lại những trang viết không thể nào quên về tình bạn nhường cơm, xẻ áo, gắn bó đến sống chết với nghệ thuật của các nghệ sỹ kịch một thời. Giữa lúc cuộc kháng chiến của dân tộc đang diễn ra quyết liệt, thì “cái nguy” của tác giả là ở chỗ: một số đoạn văn đã bầy tỏ quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật, đề cao cái đẹp thuần tuý, có suy nghĩ khác biệt với nền nghệ thuật cách mạng lúc bấy giờ. Có một đoạn khá dài miêu tả không khí đấu tranh giai cấp, đấu tố khốc liệt ở nông thôn miền Bắc Việt Nam những năm 40 của thế kỷ XX. Dù sao, một mặt nào đó, tác phẩm này cũng giúp người đọc hình dung được một mảng đời của các nghệ sỹ Hà Nội trên chiến khu trong cuộc chiến tranh chống Pháp, với những gì đẹp đẽ và lãng mạn của nó.


 Cuộc tình giữa hai nghệ sỹ ấy, qua bao éo le đã đi đến tan vỡ.


 Trong cuốn “Chiều chiều” cuả nhà văn Tô Hoài xuất bản gần đây, ông có viết một đoạn ngắn, kể lại việc “đánh” Mưa thu của Ngọc Giao, vẫn bằng một giọng văn rất “khôn” và “láu” của ông:


“Trong kháng chiến, trên tạp chí Văn Nghệ in ở Việt Bắc, tôi đã in một bài đánh tiểu thuyết Mưa thu của Ngọc Giao in ở Hà Nội. Đến năm gặp lại, Ngọc Giao bắt tay tôi thủ thỉ: “Một đòn rất tốt, rất tốt”. Biết làm thế nào, những “vạ đá” này. Bây giờ cũng ra những chuyện ngày xưa cả rồi”.


 Nhà văn Tô Hoài viết tiếp, sau đó cha tôi bị buộc phải làm kiểm điểm về khuynh hướng tư tưởng trong tác phẩm này của mình, để rồi bị khai trừ ra khỏi Hội Nhà văn Việt Nam vào năm 1957. (còn tiếp)


NTK.


www.trieuxuan.info


 

trieuxuan.info