Thông thường muốn tồn tại con người phải tìm nguồn động viên bằng vui chơi giải trí tùy theo khả năng sở thích của mình, bằng giao lưu trò chuyện với bạn bè, từ đó tạo ra cho mình những phút yêu đời nhẹ nhõm. Còn một nguồn động viên lớn cho mình coi như thường trực trong tâm can ấy là những thân thương mà ai cũng có. Thân thương thuộc về môi trường địa danh có cảm tình với mình, đã từng gắn bó ở đó những kỷ niệm. Thân thương lớn nhất là đất nước, là quê hương yêu dấu. Thân thương thứ hai là con người cụ thể, khi gặp khó khăn thì họ giúp đỡ, gặp trắc trở thì họ mách cho mình để tránh va vấp, khi ốm đau họ săn sóc động viên. Trong đời sống họ chia sẻ vui buồn, trong công việc họ ghé vai nhận phần trách nhiệm. Thật là quý. Nó đem lại cho ta những phút yêu đời. Tôi không thể điểm danh hết được, buộc lòng tôi phải nói đến ruột thịt của tôi. Ông bà cha mẹ đã để lại cho tôi gương sáng về nhân cách, về lời hay ý đẹp làm người. Thân thương thứ ba coi như ruột thịt ấy là công việc mà mình đã làm đã đóng góp cho đời bằng mồ hôi và tâm huyết, cho dù nhỏ bé nhưng không hổ thẹn với đời.
Năm nay tôi đã 92 tuổi, cái tuổi gần đất xa trời! Nhưng tôi vẫn yêu gia đình, dòng tộc, yêu tất cả mọi người và nhất là yêu quê hương đất nước. Bởi vậy tôi trích in một số bài đã viết trong các tập Hồi ký, Bút ký, Tùy bút… của tôi để lưu giữ lại “Những Thân Thương Trong Cuộc Đời” và gửi gắm đến các con cháu, dòng tộc sau này. Hy vọng mọi người sẽ còn nhớ đến tôi, nhớ đến cội nguồn dòng tộc, nhất là luôn biết yêu quý và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dòng tộc, của quê hương và đất nước chúng ta.
CHƯƠNG I. HÀNH THIỆN QUÊ TÔI
A. NGUỒN GỐC, ĐỊA LÝ
Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương
Ở đâu vẫn nhớ quê hương
Nhớ làng Hành Thiện thân thương của mình
I. NGUỒN GỐC
Tôi thường nhớ đến quê hương bởi lẽ là nơi sinh trưởng ra tôi, là cái nôi giáo dục tôi nên người, cho tôi biết bao kỷ niệm từ thời thơ ấu, “là cái nôi của ngọn nguồn văn hóa dân tộc”. Tôi được nghe kể nhiều mẩu chuyện về sự hình thành mảnh đất nhỏ bé này để có được như ngày nay.
Chừng hơn 400 năm trước, dân làng tôi ở ấp Hộ Xá (nay thuộc huyện Nam Trực, Nam Định). Hộ Xá là một trang trại trù phú, phong cảnh thật đẹp làm cho nhiều đời vua nhà Trần mến mộ, thường lui tới nghỉ ngơi. Từ đó, trang trại được mang tên là trang Hành Cung. Chẳng may đất Hộ Xá bị lở xuống sông, dân làng phải di cư đến đất Nghĩa Xá phía nam xã Lạc Quần, phủ Thiên Trường (nay là huyện Xuân Trường). Sau đó, chuyển đến trụ hẳn ở xã Hành Cung trong huyện cho đến nay.
Sở dĩ làng tôi vẫn giữ tên Hành Cung là cốt để nhớ lại quê cũ ở ấp Hộ Xá có trang Hành Cung. Thực tình, xã Hành Cung mới này (nay là Hành Thiện) chưa hề là nơi dừng chân của một đời vua nào. Hồi đó, một bộ phận của triều đình nhà Trần đã tạm lánh về địa hạt phủ Thiên Trường trong thời gian kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai. Có thể địa hạt tạm lánh đó là xã Xuân Tiên (tức Ngọc Cục, bởi lẽ trong một di bản có nói: Nơi vua tạm lánh có vườn kim quất (cam ngọt) mà trước đây Ngọc Cục nổi tiếng về cam ngọt (tức cam mật), người đời cứ tưởng là cam Hành Thiện vì Hành Thiện và Ngọc Cục là hai làng sát kề nhau.
Trong hoàn cảnh đổi thay như nói trên, dân làng tôi đã phải trải qua hai lần chuyển cư xây dựng cơ ngơi làng xóm, nhà cửa, ruộng vườn, vật lộn với thiên tai để tồn tại.
II. ĐỊA LÝ
Về địa lý, Hành Thiện- làng tôi giống hình con cá chép, có sông con chảy quanh làng làm địa giới. Sông con nối liền với sông Ninh Cơ qua cống Bùi Chu. Viền theo sông con có đường đi quanh xã. Năm 1909, đường này được trải đá phiến. Năm 1941, được lát gạch xếp nghiêng rộng thêm. Năm 1976 ở cuối làng (phía Nam) gần chợ xây thêm một cầu bê tông cốt thép nối liền từ phố Xuân Tiên sang làng để có thể cho xe vận tải cỡ nhỏ qua được. Tất cả có 9 cầu đổ bê tông hoặc xây gạch nối liền làng tôi với các xã lân cận. Ngoài ra còn có 4 bến đò ngang qua sông Ninh Cơ. Năm 2002, đã có cầu thay cho bến phà Lạc Quần. Từ đó, hàng ngày có xe chở khách chạy suốt một mạch từ Hà Nội về. Với đường sá sông ngòi như vậy, giao thông vận tải tới làng tôi rất thuận tiện.
Nhìn lên bản đồ hình cá chép, ta thấy nó như ở tư thế rất sinh động đang vẫy vùng trong dòng nước. Từ đầu làng (phía Bắc) lên đến chùa Trong (chùa Thần Quang) là đuôi cá. Chùa này là một công trình kiến trúc cổ, được xây dựng năm 1588, đã được sửa chữa nhiều lần vào những năm 1612, 1628, 1671, 1685, 1930, 1940, 1998. Trong chùa thờ Phật và thờ nhà tu hành Lý triều quốc sư Dương Khổng Lộ. Chùa này đã được xếp hạng di tích lịch sử và được bảo quản tốt. Gần đó, còn có chùa Ngoài (chùa Đinh Lan) xây vào cuối thế kỷ thứ 18. Cuối làng là đầu cá (phía Bắc), có chợ chính, ngày nào cũng họp chợ từ sáng đến chiều. Chợ được xây dựng thành quán lợp ngói năm 1940, cuối những năm 70 được tu sửa và xây thêm quán, mở rộng chợ chiếm hẳn giong thứ 14. Chợ này là nơi giao lưu thuận tiện cho cả vùng. Giữa làng (gần đình làng) còn có chợ hôm. Chợ này họp hằng ngày vào buổi chiều, gọi là chợ Vải (chợ bán vải), nay không còn nữa, nhờ đó mà đường đi được mở rộng thêm. Bên cạnh chợ chính có miếu Chợ, là ngôi nhà 5 gian bằng gỗ lim, lợp ngói xây từ năm 1869, nhưng đã bị phá đi từ năm 1979 để lấy đất xây nhà bảo tàng cách mạng của xã Xuân Hồng. Tiếc rằng dự kiến đó tới nay vẫn chưa thực hiện được!
Làng tôi chia ra 14 giong (gọi là xóm), nay còn 13 giong chạy từ phía tây (lối trước) ra phía đông (lối sau), có đường thông từ lối trước ra lối sau, giống như con cá chia ra làm 13 khúc vậy. Dân cư tập trung hai bên đường giong. Mỗi thổ cư có 1,5 sào ta tức 540 m2 đều nhau. Trước kia đầu giong lối trước và lối sau có cổng xây gạch. Ở phía tây nam sát liền sông con lối trước, còn có một khu dân nữa, nhỏ hơn khu dân nói trên, gọi là xóm Trong. Khu này có 4 giong. Nghe nói trước kia mua lại của xã Xuân Tiên để nới dân.
Hàng trăm năm qua, dân làng tôi đã dày công xây dựng, tu bổ và cải tạo mảnh đất hình cá chép này để có một sơ đồ mặt bằng hợp lý. Sông con dẫn nước chảy quanh làng, đường sá ven theo, khu dân cư và đồng ruộng riêng biệt, chợ ở cuối làng thuận tiện cho giao lưu với dân cư quanh vùng, trường học cấp I trước đây ở giữa làng thuận tiện cho con em đi học nay vì sĩ số phát triển quá nhanh phải rời trường sang Nội Khu (xóm Trong).
Sau cách mạng tháng 8-1945, làng tôi vẫn mang tên Hành Thiện. Thời thế đổi thay, phong trào tách ra nhập vào ảnh hưởng. Một thời gian sau, sáp nhập với hai làng bên cạnh đổi thành xã Tiên Châu. Đến năm 1956 (sau hòa bình lập lại) được tách riêng ra lấy tên xã Xuân Khu một thời gian. Được biết nhiều lần anh tôi tỏ ý không đồng tình nên lại được sáp nhập với 5 xã lân cận gọi là xã Xuân Hồng cho đến nay. Xã Xuân Hồng là một xã lớn nhất tỉnh Nam Định, diện tích chừng 27 km2, dài chừng 9km, rộng 3km, dân số 18 nghìn người theo thống kê năm 2001, riêng Hành Thiện năm 1979 có 5.000 người nay đã lên tới 6.300 người.
B. NHỮNG TRUYỀN THỐNG
I. TRUYỀN THỐNG CẦN CÙ LAO ĐỘNG
Hành Thiện cũng như Xuân Hồng có truyền thống cần cù lao động từ xa xưa. Trước kia cũng như ngày nay tấc đất tất vàng, luôn luôn đồng ruộng xanh tốt quanh năm, có ngô lạc trong ngoài bãi bồi, cấy lúa Tám thơm trong đồng, mảnh vườn chút xíu cũng cho rau xanh. Xuân Tiên nổi tiếng có cam mật, có bắp cải hình búp dài hương vị đậm đà ăn giòn, gọi là “bắp cải ta”. Tiếc rằng hai thứ đặc sản này không còn nữa.
Từ xa xưa đã có phong trào khẩn hoang tại bãi biển Giao Thủy, Hải Hậu (Nam Định), Tiền Hải (Thái Bình), vào Cẩm Thủy (Thanh Hóa) lập ấp, lập đồn điền ở Chi Lê (Ninh Bình), ở Phú Thọ, Bắc Giang. Trong số những người khẩn hoang đó có những người trở thành đại địa chủ với hàng trăm mẫu ruộng giàu có, nhà cao cửa rộng, ăn trắng mặc trơn, con cái được học hành. Những người đó biết cách tổ chức lao động có kỹ thuật nên mới vỡ hoang thành ấp, thành đồn điền khác gì danh nhân Nguyễn Công Trứ thời xưa.
Trước cách mạng tháng 8- 1945 xuất hiện những nhà kinh doanh thương mại và công nghiệp như bà Thụ (con cụ Tổng Bổn), ông Thị, ông Hội Như… mở hiệu buôn, mở xưởng làm xà phòng. Bà Cả Tề (tức Thiềm) mở hiệu Fabrinat buôn chiếu cói mây tre đan xuất khẩu.
Từ xa xưa, làng tôi có truyền thống dệt vải với tiếng khung cửi kẽo kẹt tới đêm khuya, tiếng chày đập vải rộn ràng từ sáng sớm, tất nhiên ngày nay đã trở về dĩ vãng trước sự phát triển của ngành dệt công nghiệp nhưng nó chứng minh cho sự khéo tay hay làm của phụ nữ làng tôi hồi đó. Họ thi đua với nam giới trong việc học hành qua câu ca dao:
Sáng trăng trải chiếu đôi hàng
Chiếu anh đọc sách, chiếu nàng quay tơ.
Qua bàn tay khéo léo của các cô gái miệt mài trên khung cửi, những sợi tơ, sợi vải trở thành những tấm lụa, tấm vải mịn màng đem bán tại chợ hôm. Tự nhiên nghề dệt tạo nên cho các cô có những nét ngoại hình đặc biệt:
Em là cô gái thanh tân
Cổ tay như ngọc, gót chân như ngà
Da em trắng nõn trắng nà
Thoi đưa thoăn thoắt, ai mà chẳng yêu
Ngoài ra trong làng còn có nghề thêu ren, nhuộm vải, làm song mây, làm mộc nề, đồ mỹ nghệ. Đã có một thời phát triển tổ hợp tác thảm len, thảm cói, dệt chiếu phục vụ xuất khẩu sang Liên Xô và Đông Âu, nay bị giảm sút. Sức lao động dư thừa được phần nào thu hút vào các tổ mộc, nề, tổ cơ khí, xưởng gạch ngói, xưởng vôi, bia ong. Mới khánh thành xí nghiệp may Xuân Trường gần xã tôi thu hút được 600 lao động trong huyện nhưng dù sao vẫn chưa sử dụng hết lao động dư thừa. Đứng trước tình hình đó, dân làng không chịu bó tay, họ tiếp tục di cư đi nhiều nơi, đi tìm công ăn việc làm ở thành thị qua các nghề mộc nề và cơ khí. Một hiện tượng đáng lưu ý, gần như xóm nào cũng có vài ba nam nữ đi làm nghề ve chai ở Hà Nội.
Nhìn lại xã hội Hành Thiện trước cách mạng tháng 8- 1945 thấy rõ nét giàu nghèo rất khác nhau. Có những gia đình nhờ buôn bán tháo vát và khẩn hoang trở nên giàu có, sống đàng hoàng với những ngôi nhà đủ kiểu tây tàu ta, ăn trắng mặc trơn. Nhưng ngay bên cạnh cạnh đó, có những nông dân với ngôi nhà tranh vách nát. Đồng ruộng đã ít, phần lớn lọt vào tay các chức sắc trong làng nên đa số nghèo. Nhiều gia đình phải bỏ quê hương, đi làm ăn sinh sống khắp nơi, đi phu Tân thế giới, vào đồn điền cao su, làm công nhân mỏ, làm đủ mọi nghề, sang cả Campuchia, Lào, Thái Lan. Vì không còn kế sinh nhai, có trường hợp cả một chi họ phải kéo nhau di cư đi nơi khác ở Thái Nguyên, Phú Thọ, Cẩm Thủy (Thanh Hóa)… Nhiều người ở tầng lớp trung lưu bị phá sản cũng rời bỏ quê hương. Tôi gặp rất nhiều người quê gốc Hành Thiện ở rất nhiều nơi trên đất nước. Lúc đó, họ ra đi với tư tưởng ngậm ngùi, gạt nước mắt mà âm thầm lưu luyến.
Sau 1954, có phong trào di cư vào Nam, sang định cư bên Mỹ, Pháp, Nhật, Úc. Họ vẫn không quên làng quê Hành Thiện, thường xuyên về thăm quê nhất là vào ngày hội làng 15 tháng 9 âm lịch. Để tưởng nhớ làng quê, ở Sài Gòn họ xây dựng chùa Thần Quang (chùa Hành Thiện) làm nơi thờ cúng đức Dương Khổng Lộ như ở quê và là nơi gặp nhau nhân ngày hội làng, lễ tết. Họ không quên đóng góp hàng nghìn đô la, hàng triệu đồng vào quỹ tu bổ làng, quỹ khuyến học. Họ luyến tiếc cái miếu chợ 5 gian xây gạch lợp ngói với 6 hàng cột lim bề thế vững chãi của cha ông để lại đã hơn trăm năm nay, họ yêu cầu làm lại cái miếu và sẵn sàng đóng góp. Điều đó minh chứng cho những người sinh sống xa quê hương luôn dành cho quê hương những tình cảm sâu đậm.
Ngày nay, dân làng tôi cũng ra đi theo yêu cầu khẩn hoang, mở vùng kinh tế mới, vào bộ đội, vào làm việc tại các công nông trường, cơ quan xí nghiệp, đi học, đi xuất cảnh lao động. Khi ra đi, họ vẫy chào quê hương và hẹn ngày gặp mặt.
Trong những năm gần đây, nhờ chính sách đổi mới của nhà nước, kinh tế nhiều gia đình khá lên rõ rệt. Trong thôn xóm chỉ có nhà xây, nhà tầng. Đường phố Hành Thiện khang trang, hàng quán đầy đủ. Dòng điện đã về tới làng, nhiều nhà có máy thu thanh, ti vi, xe máy, có trạm máy nước ở đầu làng, nước sạch đã về tới nhà, chấm dứt cảnh uống nước sông. Trong làng đã có tổ thu gom rác tập trung đổ vào một nơi, nhưng việc xử lý rác còn nan giải. Về nông nghiệp, nhờ quy hoạch lại đồng ruộng và cải tiến kỹ thuật canh tác, cải tạo giống, sử dụng máy móc, phân bón và thủy nông mà năng suất cây trồng tăng lên rõ rệt. Chỉ tiêu phấn đấu cho sản lượng 5 tấn/ha xem ra không khó khăn gì. Bộ mặt làng tôi khác xa trước nhiều, không còn cảnh đói ăn, thiếu mặc nữa.
II. TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC
Truyền thống yêu nước bắt nguồn từ xa xưa. Có những sĩ phu yêu nước chống ngoại xâm ngay từ ngày đầu hình thành làng cho đến thời Pháp thuộc qua các phong trào Văn thân, Đông du, Đông kinh nghĩa thục, Hoàng Hoa Thám. Trong họ tôi có 6 người chú bác, một người anh lớn theo các phong trào này, có người ra đi mà không trở về. Tiếp đến phong trào yêu nước của những người theo Đảng Cộng sản đầu tiên (Đặng Xuân Khu tức Trường Chinh, Nguyễn Thế Rục, Đặng Xuân Thiều). Tất cả đều chấp nhận mọi sự hy sinh và thử thách mưu đồ giải phóng dân tộc và cao hơn nữa cho một xã hội tốt đẹp, dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.
Trong dòng văn thơ cách mạng chống ngoại xâm và kháng chiến ta thấy thể hiện nhiều mặt của vấn đề. Có bài thơ châm biếm diễu cợt cho cái độc lập dân tộc giả hiệu trước kia. Nhân thấy tuyển lính, thanh niên cởi trần truồng khám sức khỏe dưới thời Pháp thuộc, tác giả viết bài thơ có mấy câu kết.
Đầu quân giấy mực vừa ghi chép
Ái quốc lòng son dễ tỏ bày
Có lúc dựng lên cờ độc lập
Ai ơi giương mắt thử xem này!
(Đặng Xuân Viện)
Năm 1947 trong làng có cuộc thi thơ với đề tài “Trăng kháng chiến”, các vị làm những bài thơ tâm huyết tin tưởng ở sự lãnh đạo của Đảng. dưới đây là bài thơ của tú tài Đặng Vũ Vi:
Viết thư lên hỏi chị Hằng
Xuống đây đoàn kết diệt xâm lăng
Hãy đem “liềm búa” nơi cung Quảng
Xuống gạt chông gai cõi đất bằng.
Thiên cung bước xuống diệt xâm lăng
Thống lĩnh ba quân một chị Hằng
Vác búa Ngô Cương ngăn thiết giáp
Giương cung Hậu Nghệ diệt xâm lăng
Bốn bề tinh tú truyền vây kín
Muôn lớp phong ba quyết dẹp bằng
Gác bóng non tây về báo tiệp
Từ nay giặc gấu hết ăn trăng.
Còn mảng thơ thể hiện khí phách kiên cường bất khuất chống ngoại xâm thì nhiều. Trong lao tù, bị địch kìm kẹp tra tấn mà vẫn yêu đời:
Đã gan thì phải gan già
Sống thì ra sống chết đà chết vinh
Cất đi cái chuyện tử sinh
Xoay đâu điếu thuốc cho anh là tài.
(Đặng Xuân Thiều)
Tinh thần yêu nước chống ngoại xâm, ý thức chính trị ấy được duy trì và phát triển từ thế hệ này sang thế hệ khác. Từ năm 1949 đến 1954 thực dân Pháp đóng đồn bốt trong làng. Chúng lập hội tề, nhưng chính quyền cách mạng vẫn tồn tại. Người dân truyền miệng nhau: “Ban ngày chính quyền tề, ban đêm chính quyền ta”. Sự hiện diện ấy làm cho chúng ăn không ngon, ngủ không yên. Nhiều lần dân quân dán áp- phích, treo cờ ở miếu Văn Chỉ, hai lần tấn công vào hang ổ của địch.
Nối tiếp cha ông, rất nhiều thanh niên nhập ngũ cầm súng chống Pháp, chống Mỹ, chống quân xâm lược. Họ chiến đấu ở mọi chiến trường, trong tất cả các binh chủng. Trong bất cứ xóm nào của Hành Thiện cũng có người hy sinh cho Tổ quốc. Trong toàn xã Xuân Hồng có hơn 300 liệt sĩ, riêng Hành Thiện có chừng 200. Nhờ tinh thần phấn đấu trong quân đội, có người được phong tặng danh hiệu anh hùng, thiếu tướng, trung tướng.
Tinh thần yêu nước thượng võ đó đã được nuôi dưỡng từ xa xưa. Trong làng có miếu Vũ Chỉ để ghi công những vị đã xả thân vì nước.
III. TRUYỀN THỐNG HIẾU HỌC
1) Trước cách mạng tháng 8 - 1945
Từ lúc thiếu thời tôi đã cảm nhận thấy trong xóm làng có phong trào hiếu học ngay từ ngày đầu cách đây hơn 400 năm khi mới “khai thiên lập địa”. Có anh em chú bác con cháu trong gia đình cùng thi đậu một khóa, nghèo đến mấy cũng cố cho con đi học biết đọc biết viết, biết chữ ký để khỏi phải điểm chỉ vào văn tự giấy tờ. Truyền thống đó được duy trì sang thời Pháp thuộc, có hơn 30 người tốt nghiệp đại học. Nhà nghèo không đủ tiền mua hẳn một quyển vở phải mua dần từng tờ giấy một để viết; không có điều kiện vào học 3 năm sơ học yếu lược tại trường chính thống để được học chữ Pháp và chữ quốc ngữ thì tìm thầy đồ vừa học chữ nho và chữ quốc ngữ để thoát khỏi cảnh mù chữ. Cha tôi bắt tôi học loại thầy đồ này cho đến 9 tuổi, tôi ưng học chữ quốc ngữ còn chữ nho coi như dị ứng. Đến khi vào đời sử dụng tiếng Việt thấy tiếc, giá như hồi đó chịu khó học cho hết quyển Tam tự kinh, với cái vốn sơ đẳng đó giúp mình học thêm chữ nho sẽ rất bổ ích cho sau này khi học tập ngôn ngữ tiếng Việt.
Nhằm động viên tinh thần học tập, trước kia làng có ruộng học điền, có miếu Văn Chỉ, miếu Văn Xương là nơi các nhà nho dạy học, giảng điều hay lẽ phải, đồng thời nhằm tuyên truyền tinh thần yêu nước chống ngoại xâm. Truyền thống hiếu học cha truyền con nối. Nếu nghèo quá cũng cố cho con biết đọc biết viết. Trước đây có những gương sáng về học tập. Từ đầu thế kỷ 16, trong các khoa thi hương, thi hội có trường hợp cả cha con, anh em, chú cháu cùng thi một khoa. Nhiều vị đã trở thành nhà nghiên cứu văn học, sử học, y học nổi danh. Tinh thần hiếu học và dìu dắt nhau học tập được duy trì cho đến ngày nay. Dưới triều Nguyễn có hơn hai trăm vị đậu tú tài, cử nhân. Có ba vị đỗ đại khoa. Nếu như khách lạ vào làng hỏi thăm theo kiểu xưa nhà ông Tú Hành Thiện, ông Cử Hành Thiện mà không nói rõ tên thì không thể tìm cho được.
Sang thời Pháp thuộc, có nhiều vị thành đạt trở thành bác sĩ, kỹ sư, kiến trúc sư, luật sư, chiến sĩ hoạt động cách mạng. Tiêu biểu nhất là Nguyễn Thế Rục. Đến tuổi trưởng thành ông ý thức được rằng, để có thể làm được việc gì có ích cho dân cho nước thì phải học, có học thì mới có kiến thức, mới nắm vững lý luận, rồi mới biết làm được những việc gì có ích. Học hết trung học, ông vào học trường Cao đẳng Pháp lý Đông Dương. Từ đó, ông tiếp cận được vốn tri thức yêu nước, bắt đầu hiểu được cách mạng tháng Mười Nga. Ông quyết định trốn ra nước ngoài tìm đường cứu nước. Ông trốn sang Pháp vào học trường Cao đẳng Thương mại Montpellier. Trong thời gian ở Pháp, đã nhiều lần gặp trao đổi hoạt động cách mạng với các nhà yêu nước Việt Nam trên đất Pháp, nhất là việc gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, người trước đó đã gửi Bản yêu sách tám điều lên Hội nghị Vecxay năm 1919. Sau đó ông vào Đảng Cộng sản Pháp. Thể theo nguyện vọng ông được Đảng giới thiệu sang Liên Xô, vào học Trường Đại học Phương Đông. Danh sách những người sinh viên Cộng sản Việt Nam đầu tiên gồm 5 người trong đó có Nguyễn Thế Rục và Trần Phú được Nguyễn Ái Quốc chuyển tới Bộ Phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Sau 3 năm học tại Trường Đại học Phương Đông với thành tích xuất sắc, ông được chọn sang học Trường Đại học Giáo sư đỏ. Học được 1 năm ông qua Trung Quốc tìm cách trở về nước hoạt động cách mạng. Năm 1930, ông cùng Tổng bí thư Trần Phú khởi thảo bản “Luận cương chính trị” của Đảng. Năm 1931, ông bị mật thám Pháp bỏ tù vì tội trốn ra nước ngoài không có giấy phép. Qua tra tấn chúng không thể dụ dỗ được nên ông được trả tự do. Năm 1936, Chính phủ Mặt trận Bình dân Pháp lên cầm quyền, ông tham gia viết bài cho các tờ báo công khai của Đảng bằng tiếng Việt và tiếng Pháp, cùng với một số các đồng chí và trí thức thành lập Hội truyền bá quốc ngữ. Ông bị bệnh lao phổi, mỗi ngày sức khỏe kiệt dần. Tôi và mấy thanh niên người làng có dịp vào thăm. Ông cầm lấy tay chúng tôi và nói: “Chúc các em học giỏi thành tài để sau này có ích cho nước cho dân”. Ông qua đời ngày 25-5- 1938 tại số nhà 102 Hàng Ngang - Hà Nội, khi ông mới 36 tuổi. Đám tang ông được đoàn thể tổ chức rất trọng thể, có hơn 1.000 người đủ mọi thành phần tới dự. Những ngày cuối đời ông viết “Lời di chúc về chính trị” gửi cho các đồng chí, bạn bè kèm theo lời di chúc có lời nhắn: “Xin tặng cho Đảng toàn bộ tài sản của cha mẹ tôi để lại”.
Người trí thức thứ hai (thời Pháp thuộc) dưới đây là ông Nguyễn Thế Truyền (1896- 1969). Ông đi du học tại Pháp từ năm 1910. Sau khi đậu tú tài, ông vào đại học, đậu cử nhân lý hóa và kỹ sư hóa học. Tiếp đó đậu bằng cao học và cử nhân triết học năm 1922. Từ đó ông bắt đầu hoạt động cách mạng cùng với cụ Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và một số người khác lập ra hội “Liên hiệp thuộc địa”. Tại Pari, ông tham gia hội và viết bài cho báo Le Paria (Người cùng khổ) đòi Pháp phải cải tổ nền cai trị các thuộc địa nhằm nâng cao dân trí và cải thiện đời sống nhân dân. Năm 1926, ông viết bài tựa cho cuốn sách “Lên án chế độ thực dân Pháp” bằng tiếng Pháp của Nguyễn Ái Quốc. Những việc đó thể hiện ông là người yêu nước. Cùng năm đó, ông không tham gia viết bài cho tờ Le Paria nữa mà cho ra đời tờ “Việt Nam hồn” viết bằng tiếng Việt, Pháp, Hán, sau đó ra đời tờ “Phục quốc”. Năm 1927, ông thành lập “Đảng Việt Nam độc lập”. Năm 1928, ông xuống tàu về nước sống ở quê cho đến năm 1934, bị mật thám theo dõi. Trong thời gian này khi qua đò Tân Đệ, xảy ra chuyện xích mích giữa ông và Tổng đốc Thái Bình Vi Văn Định, ông tát lại ông Vi làm nức lòng dân hai tỉnh Thái Bình và Nam Định trước sự hà khắc của ông Vi. Sau đó ông lại sang Pháp hoạt động trong “Liên minh chống chính sách thực dân” và “Ủy ban đòi ân xá các chính trị phạm ở Đông Dương”. Năm 1938, từ Pháp về nước, sống ở làng đến năm 1941 ông bị bắt và đưa đi an trí tại Sơn La. Sở dĩ bị thực dân Pháp bỏ tù vì họ coi ông là người chống đối, hơn nữa năm 1940 ở cổng nhà ông lại treo cờ Nhật. Một thời gian sau ông bị đày đi Mađagasca, đến năm 1946 ông được thả về Sài Gòn sống trong vùng chiếm đóng của Pháp. Ông xuất bản tờ báo “Thân dân”, viết bài cho báo “Thời luận”.
Ông có vợ người Pháp được 4 con đều sinh sống ở Pháp. Người làng tôi cứ đồn vợ ông là con vua nước Bỉ nhưng là tin vịt. Dưới thời Pháp thuộc còn rất nhiều trí thức khác nổi danh trong nhiều lĩnh vực, không thể kể hết được, xin kể ra đây một số vị mà người làng thường nhắc đến: Bác sĩ Phạm Gia Triệu được tu nghiệp ở Liên Xô cũ chuyên trị về chấn thương sọ não, Bác sĩ Đặng Vũ Hỉ chuyên trị về da liễu, Bác sĩ Đặng Vũ Lạc mở bệnh viện tư nay là Bệnh viện Việt Ba (gần ga Hàng Cỏ) đã từ lâu nhìn ra hướng phát triển y học nước nhà kết hợp Đông y với Tây y, Nhạc sĩ Nguyễn Văn Năng (tức Hàn Năng) đi sâu nghiên cứu nhạc dân tộc, ông cải tiến cây đàn nguyệt thành cây đàn Phụng Minh có 3 dây tơ kéo bằng mã vĩ như dây violon. Ông di cư vào Sài Gòn và trở thành giáo sư cổ nhạc Bắc. Kiến trúc sư Đỗ Đức Trung tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Hà Nội (ban kiến trúc) di cư vào Nam, tham gia thiết kế nhiều công trình ở Sài Gòn, thiết kế Trường Võ bị Đà Lạt, cho đến sau giải phóng miền Nam vẫn tiếp tục làm việc.
2) Sau cách mạng tháng 8- 1945
Những trí thức được đào tạo sau cách mạng tháng 8- 1945 hoạt động trong mọi lĩnh vực kinh tế, thương mại, chính trị, văn hóa, khoa học, quân sự, giáo dục đã góp phần đáng kể vào công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thống nhất đất nước và kiến thiết xây dựng ngày nay. Họ nhạy cảm nắm bắt được nhu cầu của thời đại mà lao vào những lĩnh vực cần thiết.
Từ cách mạng tháng 8- 1945 cho dù kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ gian khổ, phong trào hiếu học trong xóm làng vẫn được duy trì. Hành Thiện quê tôi với dân số trên 7.000 người có tất cả gần 600 người tốt nghiệp đại học và trên đại học (chưa kể những người tốt nghiệp ở miền Nam trước năm 1975). Mỗi năm có đến gần 20 em thi trúng vào đại học, cao đẳng. Có những ông bố tình nguyện lên thành phố đạp xích lô, chạy xe ôm, những bà mẹ làm nghề ve chai đồng nát lấy tiền nuôi con ăn học. Có gia đình giao cho hai con một xe máy với yêu cầu nuôi nhau ăn học. Trong những năm 1960 – 1970 được du học ở nước ngoài, có sinh viên dành dụm làm thêm kiếm tiền gửi về nuôi em ăn học. Nói tóm lại, người làng tôi dù nghèo đến mấy cũng cố cho con đi học. Học hết trung học phổ thông trường huyện, kinh tế có hạn cũng cố cho con thi vào đại học hoặc cao đẳng; nếu không trúng tuyển thì mới chịu cho con học nghề hay kiếm việc làm. Sau khi tốt nghiệp đại học, một số em còn muốn tiếp tục học thì ban ngày đi học, tối đi làm, phục vụ bàn ăn, rửa bát chén, làm gia sư kiếm tiền tự nuôi mình đi học. Có nhiều người thành đạt. Trong kháng chiến chống Pháp chống Mỹ trong họ tôi có 10 người đạt trình độ tiến sĩ. Từ 1975 đến nay có chừng 12 người đạt trình độ thạc sĩ, tiến sĩ trong số đó có người thi tuyển được cử đi học tại Singapo, Anh, Vương quốc Bỉ được học bổng toàn phần. Có người học tốt được nhà trường giữ lại làm nghiên cứu khoa học, làm phụ giảng. Để góp phần mở mang kiến thức, trong khi học ở Tây Âu họ dành dụm tiền nhân nghỉ hè đi thăm các nước Đức, Pháp, Bỉ, Hà Lan… Những mũi nhọn mà họ quan tâm đi sâu phù hợp với thời đại như tin học, tự động hóa, điều khiển học, sinh học, kinh tế học, thương mại, ngân hàng.
Trong số tốt nghiệp thạc sĩ, tiến sĩ có 4 người được phong danh hiệu giáo sư, phó giáo sư. Xem chừng họ không bon chen những chức danh địa vị này khác. Họ thanh thản sống đơn giản cho đến ngày nghỉ hưu. Kể về địa vị chức trọng quyền cao từ bằng cấp đi lên thì họ tôi kém thua các dòng họ khác, cũng có thể do năng khiếu. Âu cũng là cái nếp từ bậc tiền bối truyền lại cho con cháu trong họ sau này.
Truyền thống hiếu học tiếp tục được động viên, duy trì bằng nhiều hình thức. Tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn… có Hội đồng hương Hành Thiện. Ngoài mục đích là nơi tập hợp người cùng làng thăm hỏi, giúp đỡ nhau, thông tin cho nhau nghe về quê hương, còn có nhiệm vụ khen thưởng con em có thành tích trong học tập rèn luyện, quyên góp cho quỹ khuyến học tại quê nhà.
Qua phong trào học tập, phấn đấu và công tác, nhiều người đã trở thành nhà khoa học tự nhiên và xã hội. Có hơn chục vị được chỉ định vào cương vị lãnh đạo cấp cao với chức bộ trưởng, thứ trưởng và tương đương.
(còn tiếp)
Nguồn: Thân thương cuộc đời. Tập Ký chọn lọc của Đặng Xuân Đĩnh. NXB Văn học, 2012.
www.trieuxuan.info
Làng giống hình con cá chép, có chùa làng thờ Phật và thờ thánh tổ Dương Nghiêm Minh, xuất thân làm nghề chài lưới. Ông quê ấp Hộ Xá, sinh năm 1016, là nhà tu hành, nhà thơ, có công chữa bệnh tâm thần cho vua Lý Nhân Tông (1072).
|