IV. TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA
1/ Tục lệ Tế lễ
Làng tôi xưa kia có tục lệ tế lễ rất rườm rà. Tế lễ ở đình làng một năm vài lần, chỉ có chức sắc, một số vị đỗ cao, làm quan lớn đã nghỉ hưu được dự. Buổi lễ diễn ra rất nghiêm chỉnh, có trống kèn đàng hoàng. Các cụ vào tế mặc áo thụng xanh, đội mũ cánh chuồn, chân đi hia, tiến lui theo tiếng trống đều răm rắp. Chầu tế xong chuyển sang chầu cỗ bàn do dân đinh phục vụ. Các mâm cỗ được chuẩn bị từ nơi khác đem đến. Các món ăn đơn giản, không có xào nấu. Thường là thịt luộc, lòng lợn, tiết canh, miếng thủ lợn thì ở các mâm trên không thể thiếu được, cái đuôi lợn phải dành cho tiên chỉ làng. Tiệc tan, các vị ra về đều có chút phần gói vào khăn điều đem về cho cháu.
Kế đến là tế lễ ở các phe giáp, các dòng họ. Nơi nào có người đỗ đạt làm quan to, giàu có thì cỗ bàn linh đình. Đầu năm có tế Xuân, tế Đoan ngọ, tế Trung thu, tế Vong linh xá tội. Tế lễ ở miếu Văn Chỉ, Vũ Chỉ, miếu Văn Xương, miếu Chợ mỗi năm một lần. Quan trọng nhất là ngày hội làng 15 tháng 9 âm lịch dưới sự chủ trì của ông chủ hội. Trước kia, chủ hội phải là vị đỗ đạt làm quan to đã nghỉ hưu. Ngày nay, chủ hội chỉ là người cao tuổi nhất trong làng. Ngày hội có tế lễ, rước kiệu đức thánh Dương Khổng Lộ. Coi như cả làng vào hội, trẻ em có quần áo mới, các cụ già có dịp mặc bộ quần áo đẹp nhất bấy lâu cất trong rương, đi lễ chùa và đi xem hội. Nhân ngày hội làng có bơi chải. Bơi từ sông con trong làng ra sông cái, từ 10 giờ sáng đến 2 giờ chiều mới về bắt giải, coi như ngày hội thể thao để kỷ niệm ngài Dương Khổng Lộ (nhà sư, nhà thơ) có một thời làm nghề đánh cá, sống dưới thuyền bơi trên sông nước. Mỗi giong có một chải bơi thi. Cho dù được giải hay không, giong nào cũng tổ chức cỗ bàn thết các chân chèo vận động viên tham gia. Trong làng còn có tục lệ yến lão ba năm một lần vào ngày 14- 15 tháng 2 âm lịch, có ý nghĩa tôn trọng người già. Tổ chức rước các cụ từ đình làng lên chùa vào lễ Thánh, lễ Phật, sau mời các cụ dự tiệc chay ngồi tại hai bên hành lang chùa.
Trong tất cả các tế lễ hội hè nay chỉ còn giữ nguyên ngày hội làng và yến lão. Tổng số có hơn 20 kỳ tế lễ nay giảm nhiều, nếu có thì tổ chức đơn giản, tệ ăn uống xôi thịt gần như không còn.
2/ Kiêng tên húy
Hồi còn thiếu thời, tôi thấy mấy cụ có chức danh đỗ đạt cao được gọi tên khác với tên húy như cụ Giáo Kiến, cụ Phủ Nam, cụ Phủ Nho, cụ Cử Kép, vv… Tưởng như các cụ có tên là Kiến, Nam, Nho, Kép, thực ra cụ làm giáo thụ phủ Kiến Xương, làm tri phủ Nam Sách, tri phủ Nho Quan, cụ Cử Tái đỗ hai lần tú tài nên gọi là Cử Kép. Không những gọi lệch đi đối với người đương thời mà còn phải gọi lệch đi đối với người đã khuất. Tên ông tôi là Bảng, cái bảng gọi chệch đi là cái biển. Lại gặp nhiều phiền phức khác, cái bể đựng nước trùng với tên húy là “bể” thì làm thế nào? Các cụ thông cảm cho, nếu tên húy cụ là “bể”, chỉ còn mỗi cách gọi cái bể đựng nước là cái biển đựng nước, không thể gọi nó là chum đựng nước được. Hồi còn nhỏ tôi ngồi cạnh bà tôi sắp đặt mâm cỗ cúng tổ. Bà mắt kém hỏi tôi:
- Món gì đây?
- Thưa bà, bát ninh ạ (ninh là thịt hầm).
Tôi bị bà bạt tai, vừa khóc vừa đi tìm mẹ để hỏi, được mẹ giảng giải:
- Ninh là tên húy bốn đời họ ngoại, con không kiêng rồi, phải gọi chệch đi là món hầm.
Ngày nay giảm kiêng tên húy rất nhiều. Thế nhưng có vị kỹ tính vẫn kiêng. Bia mộ cụ “Cử Kép Nguyễn Tất Tái” được khắc là bia mộ “cụ Cử Kép” (không khắc tên húy).
Chừng vài chục năm sau chắc chắn hậu duệ không biết cụ Cử Kép là ai, có thể họ gắn cho cụ cái tên húy là “Kép”. Riêng ngành họ tôi, chỉ khắc bia với tên húy đích thực “Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng”, “Á nguyên Đặng Ngọc Toản”… không khắc thêm chữ cụ bởi lẽ đối với con cháu sau này đích thực là cụ rồi.
3/ Phương ngôn, Ca dao làng tôi
Bên cạnh dòng văn học viết còn một dòng văn học nữa rất đáng lưu truyền, nó nói lên đặc điểm của quê tôi, tính tự tin ở sức mình và tính giáo dục truyền thống hiếu học, cần cù lao động, nổi nhất là nghề dệt vải. Sau đây là một số câu phương ngôn và ca dao của làng mà tôi còn nhớ được:
- “Đông Cổ Am, Nam Hành Thiện”.
Cổ Am thuộc huyện Vĩnh Bảo (Hải Phòng). Nam tức là Sơn Nam Hạ, trong đó có Hành Thiện. Hai địa danh này trước kia nổi tiếng là đất văn hiến, có nhiều người học thành đạt. Thời nhà Nguyễn, trong vòng 113 năm có 41 khoa thi thì Hành Thiện có 88 vị cử nhân 7 vị đậu đại khoa.
- “Đậu phụ Thủy Nhai, tú tài Hành Thiện”.
Thủy Nhai là xã gần làng tôi chuyên nghề làm đậu phụ có tiếng.
- “Chị cửi canh, anh bơi chải”.
Nghề dệt vải dệt lụa là nghề truyền thống của làng. Vải tấm khổ hẹp vừa mịn vừa đẹp nổi tiếng cả vùng. Bơi chải diễn ra ngày hội làng (15 tháng 9 âm lịch). Bơi ở thế đứng, đường dài đua chải 2- 3 vòng chừng hai ba chục km, đòi hỏi người lái và người chèo phải có sức dẻo dai và có kỹ thuật bơi đồng đội tốt.
- “Bán vải chợ Hôm, bán lợn con chợ Cát”.
Chợ Hôm ở giữa làng, nay không còn nữa. Chợ Cát thuộc xã Xuân Thành cùng huyện họp vào các ngày 1, 6, 11, 16, 21, 26 âm lịch.
- Mông hẹp, lưng cong
Vừa khéo nuôi chồng, lại khéo nuôi con.
Phụ nữ Hành Thiện thuở xưa đêm ngày cặm cụi trên khung cửi. Có lẽ vì ngồi nhiều, khom lưng đưa thoi suốt tháng mà mông hẹp lưng cong chăng!
- Dù cho buôn đâu bán đâu
Hội rằm tháng chín rủ nhau về làng
Lên chùa lễ thánh dâng nhang
Thăm họ, thăm làng, mồ mả tổ tiên
Cây kia có gốc mới bền
Có hoa có lá mới nên rườm rà.
- Mượn đây có bóng cây đa
Bứt nắm cỏ gà làm nắm chỉ thêu
Đã yêu áo rách cũng yêu
Cỏ gà khéo lựa cũng thêu nên rồng.
Con xin quỳ lạy Đức Ông
Cho con nên vợ nên chồng từ đây.
- Dần, Thân, Tỵ, Hợi định kỳ
Lệ làng hương yến chẳng nề bần sang
Áo khăn đỏ rực đường làng
Tiếng đàn, tiếng pháo râm ran suốt ngày
Làng biếu áo đỏ, bánh dầy
Con cháu sum vầy chúc thọ mẹ cha
Trời cho nhà ngói ba tòa
Chẳng bằng cho được yến ca một lần.
- Mẹ nay đầu nặng chân trơn
Quản chi mưa nắng, chợ gần chợ xa
Ghi lòng tạc dạ lời cha
Dặn con đèn sách nghiệp nhà thi thư.
- Anh nay đi học đường xa
Phòng hương bỏ vắng, mẹ già ai nuôi
Em xin kết tóc se đôi
Phòng hương em giữ, em nuôi mẹ già.
- Em về dệt vải trên khung
Để anh đọc sách cùng chung một đèn
Đôi ta như bút với nghiên
Nên thơ, nên phủ, nên duyên vợ chồng.
- Yêu cây vì nỗi lắm hoa
Yêu chàng vì nỗi cả nhà bút nghiên.
- Chim kia bay bổng vì lông
Em nay sang trọng vì chồng khoa danh.
- Trời mưa cho ướt lá dâu
Lấy chồng Hành Thiện chẳng giàu cũng sang.
- Thiếp nay đã bén duyên chàng
Đói no chẳng quản mong chàng nên danh
Đôi bên bác, mẹ hiển vinh
Bõ công đèn sách học hành hôm mai.
- Chàng ơi chăm việc bút nghiên
Đừng ham nhan sắc, những quên học hành
Học cho nên tiếng nên danh
Bõ công cha mẹ sắm sanh nuôi thầy.
- Em là con gái thanh tân
Cổ tay như ngọc, đôi chân như ngà
Da em trắng nõn trắng nà
Thoi đưa thoăn thoắt ai mà chẳng yêu.
- Mưa lâu thấm ướt dầm lá cải
Ta yêu làng dệt vải quay xa
Ước gì anh được lại qua
Được ở cùng nhà, được dệt cùng khung.
- Gặp nhau chưa kịp hỏi chào
Nước mắt đã trào rơi xuống bỏng tay
Xa quay sợi đứt liền tay
Xa ơi, có thấu nỗi này cho chăng!
- Đất mình là đất vải con
Tay ống, tay suốt mà bòn đồng rau.
- Đất mình là đất cửi canh
Con suốt mẹ dệt mới nên đồng tiền
Tối tối đèn lửa thắp lên
Vợ chồng con cái tay liền xa quay
Dệt cho trăng lặn về tây
Chồng nay lạy vợ, vợ nay lạy chồng
Con lớn thì lạy thổ công
Con bé đói lòng khóc đã như di.
4/ Hội Chùa Làng Tôi
a)– Vùng tôi có ba làng gần nhau bám vào sông Hồng và sông Ninh Cơ (một nhánh sông Hồng) gồm làng Hành Thiện quê tôi, làng Cổ Lễ (Trực Ninh, Nam Định) và làng Dũng Nghĩa (Vũ Thư, Thái Bình). Ba làng đều mở hội vào ngày 12 và 15 tháng 9 âm lịch để kỷ niệm ngày sinh Thánh tổ Dương Khổng Lộ tức Dương Nghiêm Minh. Trong khuôn viên chùa làng tôi có chùa thờ Phật bên ngoài và chùa thờ Thánh tổ họ Dương bên trong. Hai bên chùa có hai dãy hành lang, mỗi dãy 38 gian. Tất cả đều xây gạch lợp ngói, cột kèo bằng gỗ lim. Riêng cột kèo của hai ngôi chùa được chạm trổ rất tinh vi theo kiểu kiến trúc nghệ thuật đời Lê. Lịch sử ghi chép chùa làng tôi được xây dựng năm 1588, có nghĩa là chỉ sau ít năm hình thành quần thể dân làng thì bắt đầu xây dựng chùa. Chùa được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa (theo Quy định của Bộ Văn hóa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 28-4-1962). Toàn bộ khuôn viên chùa được trùng tu nhiều lần vào những năm 1612, 1628, 1671. Năm 1895, gác chuông chùa được tu sửa lần thứ nhất, lần thứ hai được tu sửa vào năm 1940; và từ đó đến nay khuôn viên chùa được bảo dưỡng thường xuyên.
Hàng năm cứ đến thu sang là dân làng chuẩn bị hội chùa. Chức sắc trong làng lo chuẩn bị bộ máy tổ chức, bầu chủ hội, cử người phụ trách các phần việc như: tu bổ quét dọn khuôn viên chùa, chỉ đạo tế lễ rước kiệu, chỉ đạo cuộc thi bơi chải… Đường sá khang trang, cờ đỏ sao vàng, cờ lễ hội treo khắp nơi. Toàn dân thiết tha với ngày hội nhất là các ông bà già và trẻ em qua câu ca dao:
Dù ai ngang dọc tây đông
Nhớ rằm tháng chín hội Ông nhớ về
Dù ai bận rộn trăm nghề
Nhớ rằm tháng chín nhớ về hội Ông.
Gần đến ngày đó rất nhiều người làm ăn khắp nơi trở về thăm quê dự hội trong đó có cả Việt kiều. Nhiều người trong vùng lân cận cũng đến dự hội, có lẽ họ có cảm tình với làng tôi, có chùa cổ kính, có thờ đức Ông Thánh tổ Dương Khổng Lộ người quê trong vùng, có thi bơi chải truyền thống.
b) – Tài năng và đức độ DƯƠNG KHỔNG LỘ
Ông sinh ngày 14-9 âm lịch (1016) đời thứ 7 vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn). Mẹ ông người làng Hán Lý, phủ Ninh Giang, Hải Dương. Cha ông người Giao Thủy sau đổi là làng Hộ Xá phủ Hải Thanh tức phủ Thiên Trường, Nam Định. Gia đình chuyên nghề chài lưới ven sông Hồng nên ông rất thông thạo sông nước. Ông ham học, ham đọc sách, hiểu biết rộng. Với con thuyền nay đây mai đó ông đến nhiều nơi, vừa làm nghề chài lưới nuôi thân vừa du ngoạn danh lam thắng cảnh, tùy hứng ông ngâm vịnh và trở thành nhà thơ. Hồi đó đất nước mới giành được độc lập thoát khỏi ách cai trị của nhà Tống (Trung Quốc), nền văn hóa tập trung ở chùa chiền, những trí thức có tên tuổi thường là các thiền sư. Để bồi dưỡng trình độ văn hóa, năm 28 tuổi (1044) ông bỏ nghề đánh cá lên bờ xin vào chùa đi tu học đạo thiền và trở thành Khổng Lộ thiền sư. Có thời gian ông tu ở chùa Hà Trạch, sau chuyển sang chùa Viên Quang ở làng Hộ Xá, Nam Định. Theo truyền thuyết đời tu hành của ông rất phong phú. Có sách ghi ông và bạn ông là Giác Hải vượt biên sang Tây Trúc (Ấn Độ) học đạo và pháp thuật.
Khổng Lộ thiền sư không những là nhà tu hành, nhà thơ mà còn là thầy thuốc. Năm 1072, vua Lý Nhân Tông bị bệnh tâm thần ông và ông Giác Hải vào kinh chữa bệnh cho vua. Sau khi khỏi bệnh nhà vua ban thưởng cho ông 1.000 lạng vàng và 500 mẫu ruộng. Ông cúng vào chùa số ruộng, còn số tiền ông dùng để đúc chuông chùa Nghiêm Quang tức chùa Thần Quang làng Dũng Nhuệ nay là Dũng Nghĩa, Vũ Thư Thái Bình. Nhân dân trong vùng thường gọi chùa làng Dũng Nghĩa là chùa Keo trên, chùa làng tôi cũng thờ thánh tổ họ Dương gọi là chùa Keo dưới.
Hội chùa làng tôi gắn liền với tài năng, đức độ và sự nghiệp của ông. Từ xa xưa ai cũng thành kính đối với ông, tin tưởng ông có phép mầu nhiệm phù hộ cho dân những điều tốt lành kể cả tình yêu trai gái:
Mượn đây có bóng cây đa
Bứt nắm cỏ gà làm nắm chỉ thêu
Đã yêu áo rách cũng yêu
Cỏ gà khéo lựa cũng thêu nên rồng
Con xin quỳ lạy đức Ông
Cho con nên vợ nên chồng từ đây
c)- Bơi chải
Nói đến ngày hội làng thờ đức ông Dương Khổng Lộ, mặc nhiên phải nói đến cuộc thi bơi chải tổ chức vào ngày 12-9 và 15-9 âm lịch có ý nghĩa ghi lại cuộc đời sông nước của đức ông, nhân đó động viên tinh thần rèn luyện thể thao bơi chải độc đáo này. Thông thường người ta tổ chức bơi chải ở tư thế bơi ngồi, riêng làng tôi bơi đứng theo tư thế dân chài (người cầm chèo ở thế đứng). Trước kia hạ thủy từ 7- 9 nay vì công ăn việc làm nên hạ thủy từ mồng 10-9 để có thời gian luyện tập trước khi vào cuộc đua. Thể lệ vào cuộc được quy định chặt chẽ:
Không vượt nhau trong sông con,
Không được cài mái chèo của nhau khi muốn vượt
Không thay người trong cuộc đua
Chải bỏ cuộc phải vào sông con sau các chải khác.
Ba làng nói trên cùng thờ Dương Khổng Lộ đều tổ chức đua bơi chải, nay chỉ có làng tôi duy trì. Đã vài lần các vị chức sắc đem ra bàn và thăm dò ý dân, cuối cùng toàn dân nhất trí giữ lại bởi lẽ bơi chải có ý nghĩa sâu sắc đối với Thánh tổ đồng thời nó đem lại một niềm vui động viên bà con hàng năm mong đợi đến ngày hội làng. Trước kia, cả làng có 21 chải nay chỉ còn 15 chải, 6 chải bị hư hỏng không còn khả năng sửa chữa. Nhìn lướt qua các chải ta thấy rất giống nhau, đóng cùng một mẫu thống nhất hình thoi sơn đen viền đỏ, dài 12m, chia làm 5 khoang, khoang giữa sâu rộng nhất, cao 40cm, mặt rộng 120cm, đáy rộng 90cm. Chải vuốt nhỏ hai đầu và nâng dần về mũi lái, làm bằng gỗ dổi hay vàng tâm vừa chịu được nắng mưa vừa bền và nhẹ. Hai ván thành và ván đáy chải dày chừng 5cm. Khi chải bơi di động về phía trước ta có cảm tưởng như cái thoi lướt trên mặt nước. Mỗi chải có một người lái và 9 người chèo. Với thông số kỹ thuật nói trên, chải có dáng đẹp thon dễ lướt, quay trở linh hoạt, hoạt động an toàn trên sông cái có sóng (trừ giông bão ).
Đã 20 năm qua, năm nay tôi có dịp về dự hội làng ngày 12-9 âm lịch, được tận mắt xem bơi chải, được tiếp cận mấy bô lão, họ chỉ vẽ cho, càng hiểu thêm bao nhiêu càng thấy cuộc đua bơi chải quý giá bấy nhiêu. Thì ra từ xa xưa bơi chải đã được tổ chức quy mô và khoa học. Trước khi vào cuộc chủ hội đọc lời truyền về thể lệ cuộc đua và kỷ luật phải phục tùng với lời khích lệ bơi nhanh, về đủ, đảm bảo an toàn và đoàn kết trong thôn xóm. Luật lệ này so với trước có thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh. Để cho công bằng không thiên vị các xóm có chải bốc thăm lấy số nêu xuất phát từ số 1 đến số 15 điểm xuất phát cho chải mình. Ai cũng muốn bốc thăm được đậu trước để đi trước trong sông con có lợi thế hơn các chải đậu sau. Nhưng khi về bắt giải thì chải đậu ở nêu trước phải về bắt giải tại nêu sau và ngược lại. Lệnh xuất phát trước kia là tiếng nổ của ống nhồi thuốc, đến nay Nhà nước cấm đốt pháo nên hủy bỏ, thay vào đó bằng tiếng trống cái và loa phát thanh. Đường bơi từ nêu xuất phát cho đến nêu về bắt giải tức là từ sông con ra sông cái bơi ba vòng rồi trở về sông con dài chừng 40 km diễn ra từ 10h cho đến 13h30. Nếu đội bơi nào không có sức dẻo dai và kỹ thuật bơi đồng đội thì khó lòng đảm bảo được cuộc đua. Nhưng nhờ có ý chí quyết tâm được bà con động viên tất cả 15 chải đều về bắt giải.
Tôi được tận mắt xem bơi chải ngoài sông cái. Quan sát thấy khi bổ mái chèo nửa thân trên các tay đua ngả về phía trước, ngược lại khi nâng mái chèo thì người bơi ngả về phía sau. Động tác chèo phải hết sức đồng đều theo tiếng hô “Dô huầy dô khoan”. Những cái đầu quấn khăn đỏ khăn vàng nhấp nhô đúng nhịp theo tiếng hò đó trông rất ngoạn mục. Đội bơi nào thắng cuộc chưa hẳn là đội khỏe mà còn hơn nhau ở chỗ đồng đều. Ông lái là người giữ vai trò quan trọng quyết định đi luồng ngoài hay luồng trong, ông biết lợi dụng tối đa và hạn chế tối thiểu sức gió và sức nước khi ngược dòng rất có lợi cho tốc độ bơi.
Khi về đích, chải phải đâm vào gốc nêu theo số thứ tự ngược lúc xuất phát. Đứng trên bờ gần gốc nêu là những cổ động viên của xóm chờ đón chải về. Có người gẩy đàn, người phất cờ, người gõ trống, gõ thanh la, nhiều người tay xách các túi quà. Phút vui chung của đội bơi với cổ động viên rộ lên ồn ào khi chải đâm trúng nêu. Bia, rượu, nước ngọt, hoa quả tới tấp đưa xuống chải. Ông lái và anh em chèo đồng thanh hô Ha!Ha! thay cho lời cảm ơn. Một vài dân chèo để nguyên khăn áo nhảy xuống sông. Họ vui mừng quá mà không nghĩ đến cảm lạnh có thể xảy ra khi vừa qua một đợt vận động hết mình. Cuộc vui tại gốc nêu kết thúc, các đội bơi được giải kéo nhau lên chùa vào lễ Thánh trong tiếng trống tiếng hò reo Ha!Ha! Giải thưởng gồm một phong bì tiền khiêm tốn chỉ tính hàng trăm nghìn đồng từ giải nhất cho đến giải cuối kèm theo là những tấm bánh dầy một đặc sản hội chùa làng tôi. Sau đó đội bơi chải về dự tiệc mặn của xóm tùy theo túi tiền của bà con thết đãi trong tiếng hò reo Ha!Ha! một lần nữa.
Được xuống chải tham gia đội bơi lại được giải làng là niềm tự hào của trai làng tôi .
Trở về Hà Nội, những kỷ niệm về Hội làng và bơi chải gợi lên cho tôi những tình cảm sâu sắc đối với quê hương qua những nét đẹp về phong tục tập quán vui chơi dân dã từ xa xưa còn lưu giữ coi như bất diệt.
Tháng 10-2007
C. Tóm tắt
Từ xa xưa, làng tôi đã nổi danh là một làng văn hiến với câu ca dao truyền miệng “Đông Cổ Am, Nam Hành Thiện” có nhiều vị thành đạt đóng góp cho đất nước, có truyền thống yêu nước, có những tập quán tốt đẹp, xét cho cùng không phải chỉ phù hợp với xã hội trước đây, mà còn mãi mãi là “thuần phong mỹ tục”. Chừng như đã có tiếng vang đến tận cố đô Huế, nên năm 1868 vua Tự Đức đã ban cho làng 10 điều Ban huấn ghi ở đình làng dưới đây:
1- Đôn nhân hậu (ăn ở có luân thường đạo lý),
2- Chính tâm thuật (lòng ngay thẳng),
3- Thương tiết kiệm (chuộng đường tiết kiệm)
4- Hậu phong tục (duy trì tục lệ tốt),
5- Huấn tử đệ (dạy con em cho có phép),
6- Vụ bản nghiệp (duy trì nghề nghiệp tốt),
7- Sùng chính học(chuộng học tập điểm ngay),
8- Giới dâm thác (răn dâm tục),
9- Thân pháp thư (giữ gìn lễ phép),
10- Quảng hành thiện (mở rộng điều lành),
Xã hội có cảm tình với Hành Thiện quê tôi vì nơi đây đã sản sinh ra nhiều văn nhân, chiến sĩ yêu nước, có những tài năng lao động chân tay trí óc, có những phong tục tập quán tốt đẹp không phải chỉ phù hợp với xã hội trước đây mà vẫn còn những điều gìn giữ “thuần phong mỹ tục”
Hành Thiện- làng tôi ngày nay đã khác xưa. Bộ mặt Hành Thiện không phải chỉ đổi mới ở ngói hóa nhà cửa, điện nước, đường đi lối lại, mà còn đổi mới cả về xã hội. Trong làng có nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trường tiểu học. Trong xã Xuân Hồng có trường phổ thông cơ sở, có hai trường phổ thông trung học quốc lập và dân lập dành cho mấy xã gần nhau, có trạm y tế, nhà hộ sinh, có phòng đọc sách, bãi chiếu bóng, có trụ sở ủy ban nhân dân, Đảng ủy xã.
Những tục lệ và thói quen lạc hậu xưa như tế lễ hàng năm có đến 20 lần, nay bỏ hẳn. Kiêng tên húy các bậc cha ông nghe kỳ quặc giảm nhiều. Tật nói ngọng cũng giảm nhờ phát triển văn hóa, giao lưu. Đặc biệt, thường xuyên hàng năm vẫn duy trì ngày hội làng (15-9 âm lịch), tổ chức bơi thuyền, rước kiệu Thánh quanh hồ, thu hút rất nhiều khách thập phương. Tới ngày đó, những người quê gốc Hành Thiện ở các tỉnh, một số Việt kiều từ Âu, Mỹ, Nhật về thăm quê và dự hội làng. Có trường hợp họ đưa cả vợ con lai về cùng. Nhân đó, họ quyên góp hàng nghìn đôla vào quỹ công ích của làng, đề đạt những nguyện vọng tôn tạo những công trình công cộng nhất là những di tích lịch sử văn hóa.
Trong những năm gần đây, nhờ chính sách đổi mới mở cửa, bộ mặt thôn xóm khá lên rõ rệt. Gần như không còn nhà tranh vách đất, có nhiều nhà tầng, đường sá mở rộng, buôn bán sầm uất gần như một thị trấn nhỏ. Đang có dự kiến xây lại cổng trước cổng sau các giong, phục hồi diện mạo làng cổ Việt Nam. Nhờ dòng điện tới làng, gần như nhà nào cũng có tivi, máy thu thanh. Nhiều nhà có xe máy, điện thoại. Đầu làng có nhà máy nước đưa nước ngọt vào tận các gia đình. Để bảo vệ môi trường cho dân số hơn 7.000 người, có tổ chuyên trách quét dọn đường làng, thu gom rác thải tập trung vào một nơi, nhưng việc xử lý chưa giải quyết được tốt.
Đối với những người không sinh sống ở quê, mỗi khi về làng họ cảm thấy thôn xóm thân yêu hấp dẫn với những phong tục tập quán tốt đẹp còn lưu giữ, gặp nhau chào hỏi, thưa gửi nhẹ nhàng. Mỗi câu trả lời thường chấm dứt bằng tiếng “ạ” tỏ ý kính trọng. Ra đường ăn mặc chỉnh tề hơn khi ở nhà. Thói quen kính trọng người già, thầy cô giáo, phong cách vồn vã mến khách vẫn như xưa. Trong dân gian thường xuyên truyền miệng nhau rất nhiều câu ca, bài vè có ý giáo dục nhân cách con người, khuyên làm điều thiện, tránh ăn chơi, cờ bạc, rượu chè, chế diễu những thói hư tật xấu, nhắc nhở nhau làm điều tốt đẹp. Những câu chuyện dưới trăng thường xen ý khôi hài châm biếm. Nhiều gia đình trước kia bị coi là hèn kém, thì nay nhờ làm ăn khá giả, học hành tấn tới, cũng kỹ sư, bác sĩ, giáo sư, tiến sĩ, cũng tướng tá… tự nhiên có sự chan hòa trong cộng đồng thôn xóm.
Những tục lệ cổ xưa như tế lễ hàng năm có đến 20 lần ở làng, chưa kể các lần ở phe giáp, dòng họ, thói quen kiêng tên húy các bậc tiền bối nghe rất kỳ quặc bị giảm hẳn. Những tục lệ tốt được duy trì. Hàng năm ngày hội làng (15-9 âm lịch) vẫn tổ chức bơi chải. Trước kia chủ hội là vị nhiều tuổi đã kinh qua quyền cao chức trọng, nay là vị nhiều tuổi nhất không kể giàu nghèo chức vụ. Nhân ngày hội, Việt kiều làng tôi về thăm quê, thấy quê hương đổi mới, họ vui lòng đóng góp vào quỹ làng làm việc thiện và khuyến học. Ba năm một lần tổ chức yến lão. Các cụ được đón rước từ đình lên chùa, trống kèn rôm rả. Gọi là dự yến, thực tế dự tiệc trà bánh kẹo, có quà tặng.
Trên các tờ báo Văn nghệ, Văn hóa, Xưa và Nay đã có bài viết về làng tôi. Các tác giả tặng cho những mệnh danh, nào là làng “văn hiến”, một làng “địa linh nhân kiệt”, “khoa danh có tên tuổi”. Thời nho học có 419 người đỗ đạt, trong đó có 7 đại khoa (3 tiến sĩ, 4 phó bảng), 97 cử nhân, 315 tú tài. Người khai khoa cho làng là cụ Nguyễn Thiện Sĩ (1522). Có 4 thượng thư, 4 tuần phủ, 4 tổng đốc, 23 người làm quan giúp việc triều đình, 9 người làm tri phủ, tri huyện, còn lại số người đỗ đạt trên làm thầy thuốc, thầy đồ dạy học ở nhiều nơi. Phong trào hiếu học ăn sâu vào mọi tầng lớp từ xa xưa. Có khoa thi cả cha con anh em chú bác cùng trúng một khoa; dù nghèo mấy cũng cố cho con đi học, biết đọc, biết viết.
Chuyển sang Tây học, có 6 người du học đỗ bác sĩ, cử nhân, kỹ sư. Tổng số có 51 người đỗ tú tài, cử nhân. Sau cách mạng tháng 8-1945, phong trào dìu dắt nhau học tập xuất hiện rộng khắp. Cho đến nay có hơn 600 người đỗ cử nhân, kỹ sư, bác sĩ, 88 người được phong giáo sư, phó giáo sư, có bằng tiến sĩ hoạt động trên mọi lĩnh vực khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học kinh doanh, văn học, nghệ thuật, giáo dục đào tạo. Trong số đó có nhiều nữ. Trung bình hàng năm có hơn hai chục sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng.
Trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, hàng trăm thanh niên nam nữ nhập ngũ xung vào các đội quân chuyên ngành kể cả những ngành đòi hỏi đặc biệt như phản gián biệt động, không quân, đặc công. Theo thống kê chưa đầy đủ toàn làng có gần 200 liệt sĩ.
Viết tới đây có người hỏi: “Thế còn mặt dở từ xa xưa trong làng có gì không nào?”. Xin thưa: “Cũng không nhiều, cũng không ít”. Điều nổi bật nhất là phân biệt giàu nghèo sang hèn. Trước kia anh em con chú, bác ruột giàu nghèo khác nhau, có thể không chào nhau. Tôi con một nhà nho không đỗ đạt, không chức danh gì. Hồi còn trẻ tôi ưng hỏi một cô gái nhưng không dám ngỏ lời, vì cô là con một nhà nho đỗ cử nhân có chức danh làm quan nên tôi với cô không “môn đăng hộ đối”. Sau này, người cháu cô ta (cũng là cháu họ ngoại tôi) thắc mắc:
- Sao chú không hỏi cô N. Cô ấy ưng chú đấy.
- Mình làm sao dám hỏi cô ấy. Chắc anh rõ vì sao.
Một số gia đình nghèo không có vai vế trong làng thường sống tụ lại với nhau ở xóm chùa, xóm chợ. Trước kia nhà tranh vách đất, chức sắc trong làng không bao giờ hỏi đến, nếu có hỏi thì là chuyện đi phu, đi lính.
Những hiện tượng nói trên hiện nay không còn nữa. Xóm chùa, xóm chợ cũng có nhà xây như ai, con cháu họ cũng có tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư, giáo sư, tướng tá. Thế thì làm sao mà khinh được! Những người nghèo trước kia bán xới âm thầm lặng lẽ ra đi, ngày nay ra đi có bà con tiễn đưa vui vẻ, hẹn ngày gặp mặt.
Sau đây là hai bài thơ của tôi viết về quê hương yêu dấu:
QUÊ TÔI
Tôi nhớ quê tôi với xóm làng
Những ngày vào hội lúc thu sang
Trai tơ bơi chải khăn vàng đỏ
Theo làn sóng nước tiếng hò vang.
Gái nghỉ đưa thoi đi lễ Phật
Hoa đào hé nụ đón xuân sang
Nhà giàu thịt mỡ ăn nhờn mép
Rượu uống mềm môi pháo nổ ran
Kẻ nghèo chạy chợ no vài bữa
Nêu cao, cơm đủ cũng là sang
Giàu nghèo phân biệt không kiêng Tết.
Xuân sang. Này hỡi xuân sang!
TÔI YÊU
Tôi yêu ngày hội quê làng
Yêu em đứng né bên đàng người qua
Yêu người chào hỏi tiếng “a”
Xóm giềng đon đả đi xa về gần
Tôi yêu đường gạch quanh quanh
Dẫn vào giong xóm hai hàng trúc xinh
Tôi yêu bến nước, sân đình
Thuở xưa đi học gió lành diều bay.
Đặng Xuân Đĩnh
Sau 14 năm xa cách
Tài liệu tham khảo:
- Lịch sử làng Hành Thiện- Đồng hương Hành Thiện tại Hà Nội tập I, 1995.
- Phả ký họ Đặng Xuân- chủ biên Đặng Xuân Đĩnh, Hà Nội, 1994.
- Hành Thiện xã chí- Đặng Xuân Viện - 1933 - Hành Thiện tương tế hội ấn hành- Sài Gòn - 1974.
(còn tiếp)
Nguồn: Thân thương cuộc đời. Tập Ký chọn lọc của Đặng Xuân Đĩnh. NXB Văn học, 2012.
www.trieuxuan.info
|