D. Lĩnh vực chuyên sâu và những tác phẩm của Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng
Sở dĩ cụ để lại cho đời được nhiều tác phẩm có giá trị là do phương pháp suy luận nghiên cứu của cụ rất linh hoạt, không để cho vốn tri thức của mình bị xơ cứng. Từ đó có thể đưa ra những kết luận và nhận xét xác đáng.
Khi đi làm quan, cọ xát với đời ở nhiều chức vụ và địa danh khác nhau, thâm nhập vào môi trường thiên nhiên và xã hội, với vốn tri thức luôn được bổ sung và tầm uyên bác, đúng như thời nay thường nói: “kết hợp học với hành, với thực tiễn”, làm cho tác phẩm của cụ có giá trị ở thời đó, mà đối với thời nay cũng cần tìm hiểu.
Để đáp ứng với yêu cầu nghiên cứu của bạn đọc, Viện Sử học và Viện nghiên cứu Hán Nôm đã cho xuất bản tác phẩm “Sử học bị khảo” và “Việt sử cương mục tiết yếu” dịch ra từ bản gốc Hán Nôm. Bộ Việt sử này gồm 8 quyển với 1.200 trang viết tay là bộ thông sử có kèm theo các phần chú, bình, khảo… Nội dung rất phong phú và đa dạng, bổ sung nhiều khiếm khuyết của các bộ sử cũ. Cụ đã tham khảo nhiều nguồn tư liệu trong và ngoài nước để viết bộ sách này.
Theo thống kê của các tác gia trước đây và thời nay như của các ông:
Nguyễn Xuân Chức
Đặng Nguyên Khu
Trần Văn Giáp
Hoàng Văn Lâu
Đặng Hữu Thụ, cụ có những tác phẩm sau đây:
1. Nam phương di vật bị khảo
2. Sử học bị khảo
3. Việt sử cương mục tiết yếu
4. Cổ kim thiện ác chí
5. Cổ nhân ngôn hành lục
6. Cư gia khuyến giới tắc
7. Diễn huấn tục quốc âm
8. Thiện Đình Thi
9. Thiện Đình Văn
10. Kinh truyện tiết yếu
11. San bổ thông giám tập lãm tiện độc sử
12. Tuyên Quang Phú
13. Như Tuyên thi tập
14. Bắc sử thông giám tập lãm
15. Nam sử tập lãm
16. Thiện ác kinh
17. Thánh tổ Hành Thiện diễn ca
18. Nhị độ mai truyện
Bộ Khâm định nhân sự kim giám (gồm 13 tập) mà cụ có nhiệm vụ duyệt, có nhiều mục đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau, như đạo đế vương, quan hệ vua tôi, đạo hiếu, đạo làm người, quan hệ trong gia đình, ngoài xã hội, vấn đề giáo huấn, thưởng phạt, cần lao, thanh liêm, công bình, chính đạo…
Tất cả những tác phẩm nói trên chứng tỏ sự hiểu biết của cụ rất rộng, (có tác giả liệt cụ vào nhà thông thái cuối thế kỷ thứ 19) gắn với cuộc sống và con người. Sâu hơn nữa, còn gắn với xã hội, đất nước, với thời đại đó.
Căn cứ vào những hoạt động trong hơn 60 năm và một khối lượng tác phẩm để lại, ta thấy cụ đã đi sâu vào những lĩnh vực sau đây: sử học đông tây, văn học, triết học, thiên văn học, địa lý, tướng số, y dược học, quân sự, chính trị, kinh tế, dân tộc học, pháp luật, xã hội học. Ngoài ra cụ còn đề xuất về công, nông, thương nghiệp, dẫn thủy nhập điền, trị thủy –phòng chống lũ lụt.
Cụ Đặng Xuân Bảng là một nhà văn hóa lớn của làng Hành Thiện. Các nhà nghiên cứu viện Hán Nôm xem cụ là một nhà bác học cuối thế kỷ 19.
Để ghi nhận sự đóng góp của cụ vào nền văn hóa dân tộc, trong Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập I- 1995) có mục từ Đặng Xuân Bảng, trên đoạn đường từ Lạc Quần về Hành Thiện có dốc Xuân Bảng, tại thành phố Nam Định có tên phố Đặng Xuân Bảng.
Như vậy là xã hội xưa và nay đã ghi nhận công lao đóng góp của cụ.
E. Phong cách và truyền thống
Từ thuở hàn vi cho đến khi đầu bạc răng long, trải qua nhiều bước gian truân, trải qua “mấy trận cười, mấy trận khóc”, cụ Bảng vẫn giữ được cuộc đời trong sạch, giữ mực thanh liêm, yêu cầu người dưới quyền không được chè chén của dân, trị người tham nhũng đỡ phiền cho dân. Vì vậy nên nghèo. Làm quan mà nghèo là hiếm lắm thay!
Khi làm quan, cụ lưu ý điều gì lợi cho dân thì làm, cho dù không vừa lòng quan trên hay bị nhà vua trách cứ. Bất cứ đến địa hạt nào cũng tìm hiểu dân tình phong tục, tập quán, cách làm ăn của dân.
Đối với cấp trên thì cương trực, thẳng thắn, mạnh dạn đề đạt ý kiến của mình, không xiểm mị quan trên.
Không tham quyền cố vị, từ chối khi nhà vua định phục hồi chức cho cụ, mà chỉ nhận chức đốc học. Thanh thản chấp nhận người đời gọi cụ là Tuần Đốc. Sau khi để thất thủ thành Hải Dương thì tự nhận mình là tướng bại trận.
Trong thời gian làm quan gần 30 năm cụ Bảng đã kinh qua 16 chức vụ khác nhau, tại nhiều địa hạt khác nhau. Đặc biệt, ta thấy có giai đoạn từ năm 39 đến năm 42 tuổi, cụ bị thuyên chuyển chức vụ đến 6 lần, chứng tỏ tính cương trực của cụ có thể làm cho vua và quan trên không hài lòng. Và có lẽ vì thế mà quan văn đã bị phái đi chống giặc ba lần.
Bất cứ ở cương vị nào, cụ làm việc đều tỏ ra nhiệt tình và có trách nhiệm. Những năm làm việc ở nội các, cụ giữ đúng mực trước nhiệm vụ đã được phân công, cho dù có gặp khó khăn.
Tinh thần say mê học tập đã rõ ràng. Hơn thế nữa, khiêm tốn học tập bạn bè và thân quen. Đối với Pháp và các nước Âu Tây, phân biệt rõ ràng, chỗ nào là thù, chỗ nào ta cần phải học tập ở họ. Đối với các bậc tiền bối, những gì mà các vị đã để lại thì tôn trọng, chú ý học tập rút kinh nghiệm, nhưng có nhận xét và phê phán.
Cụ là một trí thức cũ nhưng có tính đổi mới, cải cách, không những trong vấn đề ở nông thôn, ở xã hội, mà ngay cả những vấn đề quốc kế dân sinh.
Trong khi làm quan cũng như nghỉ hưu, từ ăn mặc đến sinh hoạt cụ đều giữ mực giản dị, không ham mê tửu sắc. Tác phong cụ thường là động viên, hòa giải, có khả năng thì giúp đỡ. Đối với anh chị em và con cháu cũng vậy, nhưng không để nảy sinh tư tưởng ỷ lại và dựa dẫm vào cái danh của mình. Đối với cha mẹ thì hết lòng hiếu nghĩa. Đối với vợ con thì thương yêu công bằng.
Trong khoảng 30 năm đi làm quan bị thuyên chuyển nơi này, nơi khác, ở miền xuôi và miền ngược, ở Bắc Kỳ cho đến Trung Kỳ, vào đến Huế, tới đâu cũng quan sát thực trạng thiên nhiên và xã hội, có ghi chép theo từng đề mục để tích lũy vốn thực tiễn cho mình. Vốn đó cộng với vốn tri thức từ nghiên cứu sách vở đã trở thành một kho trí thức sinh động, giúp cụ trong khoảng chừng 30 năm nghỉ hưu và bị lưu đày khai hoang, suy ngẫm thêm để cho ra đời 18 tác phẩm có giá trị về các lĩnh vực khoa học.
Đến đâu cụ cũng lưu ý thưởng ngoạn phong cảnh núi sông ở nơi đó, thể hiện con người yêu thiên nhiên, yêu đất nước. Từ nơi đó, đều có thơ ngâm vịnh.
Năm 80 tuổi, tổ chức lễ thượng thọ, chiểu theo nguyện vọng của vợ con, cụ nhận làm, nhưng làm chiếu lệ. Tất cả con trai, con gái, cháu chắt đông đủ chúc rượu xong, cụ bắt đầu đọc bài ca “Huấn tục” trong đó cụ khuyên răn mọi điều thể hiện tư cách đạo đức làm người mà suốt đời cụ đã noi theo.
Tôi là cháu nội, được sinh ra khi cụ đã qua đời, cho nên biết rất ít về cụ, chỉ tìm hiểu qua việc đọc tài liệu, khả ký và nhớ lại những lời mà cha chú đã kể chuyện cho biết. Nhưng có lẽ hình ảnh cụ về nội tâm (tức về đạo đức, tác phong, phong cách) đã được thể hiện ra qua các con của cụ, hoặc ở người này, hoặc ở người khác.
Cụ Bảng có 5 con trai và 8 con gái. Về con gái cụ, tôi biết rất ít, không biết hết tên các bà, chỉ biết tên chồng các bà. Điểm nổi bật ở các bà là tác phong cởi mở, vui chuyện. Đã về nhà chồng rồi, nhưng vẫn thường xuyên đến xóm 7 thăm các anh em. Các bà đều tự lo toan lấy công việc gia đình. Có bà Hai Than lấy chồng người làng phiêu bạt đi làm công nhân mỏ than, coi như rất ít về quê thăm, chừng như nghèo thì chịu phận nghèo mà tự lực cánh sinh.
Các con trai cụ mỗi người đều có hoàn cảnh khác nhau, nhưng chừng như mỗi ông cũng giữ lại ở nơi mình một điều gì đó từ truyền thống của nhà nho Đặng Xuân Bảng:
- Ông Đặng Xuân Huy (tức Cả Giác) là con trai cả theo nho học, nhưng không đi thi, làm nghề lang thuốc. Ông rất điềm đạm và hiền lành: đi đứng, ăn mặc, nói năng bao giờ cũng đúng mực. Nhờ đó mà ông đoàn kết được anh em. Trong họ ngoài làng ai cũng quý trọng.
- Ông Đặng Xuân Mậu (tức Hai Thêm) là con trai thứ hai theo nho học, nhưng không đi thi, chuyên về thực nghiệp, đọc sách cơ khí, điện bằng chữ Hán, học nghề ông Hàn Bái, trốn sang Trung Quốc học nghề, làm cách mạng. Ông có tinh thần yêu nước, tham gia phong trào Đông kinh nghĩa thục, bị bắt giam một thời gian. Tính tình ông cởi mở, dễ gần.
- Ông Đặng Xuân Tiết (tức Ba Bỉnh) là con trai thứ ba theo nho học, nhưng không đi thi. Ông khẳng định xin cha theo nghề nông, làm một nông dân thực thụ. Tuy là con quan, nhưng thực vậy, quần xắn móng lợn, vác cuốc ra đồng. Tính ông thẳng thắn, bộc trực, có thế nào thì nói ngay, nhưng không vì thế mà mất lòng. Ông ưng thiên nhiên, trồng cây cảnh, trồng hoa, tự làm núi non bộ rất đẹp và bề thế ở đầu nhà.
- Ông Đặng Xuân Viện (tức Bốn Đễ) là con trai thứ tư theo nho học, học rộng, có đi thi một lần nhưng không đỗ, và từ đó không đi thi nữa. Bài văn làm phạm trường quy, chữ xấu vì tay run, có tin nói, đến giờ nộp quyển thì mải mê ngâm vịnh văn bài của mình nên quá giờ, không hợp lệ. Người làng cho là nếu ông tránh được nhược điểm nói trên thì văn bài có thể đậu cử nhân. Ông Viện tham gia viết báo Nam Phong, có 12 tác phẩm về văn sử. Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam 1995 có mục từ Đặng Xuân Viện. Khi có điều kiện ông thường đi thăm danh lam thắng cảnh. Ông tham gia phong trào Đông kinh nghĩa thục, tuy không bị tù nhưng bị thực dân ghi vào sổ đen, suốt đời bị theo dõi. Tính ông cương trực.
- Ông Đặng Xuân Lãm là con trai thứ năm theo học nho, nhưng không đi thi. Làm thừa phái một thời gian ngắn sau về nghỉ, trồng cây, nuôi cá. Cây cam sành của ông rất sai, quả vàng ối, dưới ao ông thả cá mè, cá chép, cho cá ăn lá cây, cá to dài đến 40- 50cm. Sở dĩ ông trồng cây, thả cá có kết quả là do ông làm có kỹ thuật, có chăm bón theo một quy trình mà ông đã rút kinh nghiệm từ học hỏi. Tính ông cương trực.
Cụ Đặng Xuân Bảng đã đi xa chúng ta hơn 100 năm, nhưng hình ảnh cụ vẫn còn mãi mãi trong ta, hậu duệ của cụ. Ngắm nhìn ảnh cụ, ta thấy đúng là một cụ già bình thường, giản dị, có đôi mắt sáng. Đọc tiểu sử cụ, chúng ta tự hào về dòng họ ta có Đặng Xuân Bảng. Cuộc đời cụ rất phong phú. Bước đường danh vọng quả là gian lao, lận đận, gặp giông tố bão bùng, cụ đã vượt qua trên thế đứng, không bon chen luồn cúi để mưu cầu danh lợi (vì làm như vậy thì cụ cho là thiếu nhân cách). Đúng như Nguyễn Gia Thiều đã nói:
Mùi tục lụy lưỡi lê tân khổ
Đường thế đồ gót rỗ kỳ thu
Không làm được như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, nhưng cụ đã thể hiện ra là một nhà yêu nước trong hoàn cảnh cụ thể của mình. Đối với dân thì cụ trân trọng, thương yêu, trên cương vị của mình, gắng tìm mọi cách giảm nhẹ gánh nặng cho dân để dân đỡ khổ.
Cụ để lại cho chúng ta một gương sáng về làm người, về phương pháp làm việc khoa học, bền bỉ dẻo dai học tập nghiên cứu, trau dồi kiến thức của mình không biết mệt mỏi. Có cách xử thế trước những cám dỗ của tiền tài và danh vọng. Về tư cách đạo đức của cụ, thiết nghĩ rằng nó vẫn còn giá trị với thời đại ngày nay.
Nhân ngày giỗ cụ, ngày 1-11 âm lịch, để tỏ lòng nhớ thương cụ tôi có bài thơ dưới đây:
Bài I
TƯỞNG NIỆM
Mỗi lần về quê thăm
Linh cảm bước chân ông
Gian đầu hồi, đọc sách
Trăng tỏ, ngắm sao trời…!
Thắp hương trầm tưởng niệm
Một tư thế trên đời
Cây sồi đại thụ
Qua giông tố bão bùng
Hương đời không mai một
Hồn quê nhớ thương ông.
Đặng Xuân Đĩnh
Bài II
NHỚ ÔNG
Những năm cuối đời
Ông ngồi đọc sách
Ngoài trời mưa rơi
Ông ngồi viết, quên ăn quên ngủ
Mười tám tác phẩm ra đời
Theo tiếng gió mùa xuân tuổi già
Mùa xuân trí tuệ, mùa xuân nhân cách
Ông viết cho đất trời
Cho manh áo bát cơm và cho đời
Tiếc rằng hồi đó chưa có máy ghi âm
Để nghe tiếng ông.
Hôm nay đón xuân Canh Thìn
Bầu trời sáng rồi, nhưng còn mưa rơi.
Chiêm ngưỡng ảnh ông
Quan nghèo không áo mũ.
Âm dương tiếp cận, con kính cẩn
Ba lần gọi: Ông ơi!
Chừng như ông theo dõi bước chân tôi
Tháng 02-2000
Đặng Xuân Đĩnh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đặng Nguyên Khu. Hy Long di thặng (đăng trong 8 số báo Nam Phong, năm 1928- 1929).
2. Đặng Đức An
Nhà văn hóa lớn của làng Hành Thiện, tiến sĩ Đặng Xuân Bảng, Tập I. Hành Thiện - Lịch sử và Văn hóa.
3. Hoàng Văn Lâu.
Nhận xét văn bản “Việt sử cương mục tiết yếu” của Đặng Xuân Bảng- Luận án PTS khoa học Ngữ văn, Hà Nội, 1996.
4. Đặng Xuân Viện.
Tiểu sử các bậc tiền bối làng Hành Thiện, 1932.
5. Đặng Hữu Thụ.
Làng Hành Thiện và các nhà nho Hành Thiện (xuất bản tại Pháp).
6. Đặng Xuân Đĩnh.
Phả ký họ Đặng Xuân, 1994.
7. Một số bài báo địa phương và Hà Nội nói về cụ Đặng Xuân Bảng như bài: “Đời ta làm quan nên nghèo”, tác giả Thanh Hà, báo Công an Nhân dân số 7, năm 1999.
F. Tóm tắt
Trường Đại học Mỏ - Địa chất gửi tặng tôi Bản tin nội bộ số 6, tháng 4- 2002 trong đó có bài nói về ông tôi. Cảm kích đầu tiên đối với tôi là bất ngờ, bởi lẽ trước đó, tôi hoàn toàn không biết gì vì tôi không được hỏi ý. Đọc qua lời Ban biên tập của bản tin, thực tình tôi xúc động. Tôi đã trụ được ở trường 12 năm cũng là nhờ một phần quan trọng các thầy giáo, cô giáo, cán bộ công nhân viên và sinh viên trong trường đồng tâm hiệp lực vượt qua muôn vàn khó khăn. Tôi xin cảm ơn. Mặt khác, cũng là nhờ ở tình cảm gắn bó với nhà trường cho đến tuổi nghỉ hưu.
Tôi phấn khởi qua bài báo của tác giả Nguyễn Hữu Dư nói về ông tôi. Rất mừng là những trí thức cổ xưa đã bắt đầu được nhắc tới, vượt qua cái cửa ải ngăn cách bấy lâu nay giữa xã hội mới và xã hội cũ phong kiến trước đây.
Tôi trân trọng ghi lại bài báo đó:
TIẾN SĨ ĐẶNG XUÂN BẢNG VÀ 1200 TRANG LỊCH SỬ “VIỆT SỬ CƯƠNG MỤC TIẾT YẾU”
Lời Ban biên tập: Trường Đại học Mỏ - Địa chất trưởng thành như ngày nay cũng là nhờ Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến sự nghiệp phát triển Giáo dục - đào tạo; nhờ công lao đóng góp của bao thế hệ cán bộ, sinh viên của trường trong suốt 35 năm qua cùng sự yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ của các cơ quan, nhân dân, chính quyền các địa phương nơi trường ở và làm việc. Các thế hệ cán bộ, sinh viên của trường sẽ mãi ghi nhớ công lao của những cán bộ lãnh đạo đầu tiên, đặc biệt là nhà giáo ưu tú Đặng Xuân Đĩnh- người đã đặt nền móng vững chắc cho chúng ta xây dựng Trường Đại học Mỏ địa chất thân yêu.
Với truyền thống uống nước nhớ nguồn, biết ơn nhà giáo ưu tú Đặng Xuân Đĩnh, Đại học Mỏ địa chất xin giới thiệu với bạn đọc vài nét về Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng (1828- 1910), ông nội Nhà giáo ưu tú Đặng Xuân Đĩnh - vị Hiệu trưởng đầu tiên của trường qua tác phẩm: Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng và 1.200 trang lịch sử “Việt sử cương mục tiết yếu” của Nguyễn Hữu Dư; cựu sinh viên Trắc địa K9.
Mùa xuân năm Mậu Tý (1828) dưới triều Nguyễn Thái Tổ niên hiệu Minh Mạng năm thứ 9 ở xã Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, vợ ông tú tài Đặng Viết Hòe (vì 7 lần đi thi đều chỉ đỗ tú tài nên gọi là Mền Hòe) sinh được người con trai khôi ngô tuấn tú. Ông Mền Hòe nhìn con trai mà lòng dạt dào sung sướng, ông đặt tên con là Xuân Bảng, hy vọng con ông lớn lên sẽ làm sáng danh cho dòng họ Đặng bằng con đường khoa bảng, “nhất định con ta sẽ hơn ta, muốn vậy, ta phải dạy con ta ngay từ khi nó tập nói để nó được làm quen với chữ thánh hiền”. Nghĩ sao làm vậy, khi cậu Bảng tập nói, hàng xóm đã thấy cậu bi bô “nhân chi sơ, tính bản thiện…” nên có người cho là một thần đồng. Năm 12, tuổi cậu Bảng đã biết đối và họa thơ với bố rất đúng luật và sâu sắc. Năm 19 tuổi, cậu Bảng tham gia thi Hương khóa Đinh Mùi (1847) đã đỗ tú tài. Ba năm sau (1850) ở khóa thi Hương năm Canh Tuất, Xuân Bảng cùng với bố đi thi, ông Mền Hòe thất vọng vì lại đỗ tú tài lần thứ 7, thì Xuân Bảng đã đỗ cử nhân nên an ủi mình “con hơn cha là nhà có phúc”. Tân cử Đặng Xuân Bảng được nhậm chức Giáo thụ phủ Ninh Giang (Hải Dương). Vừa làm quan vừa tự học và quan sát ghi chép để có tài liệu về ngôn ngữ, phong tục, tập quán của các địa phương. Năm 1856, ông lặn lội vào Huế thi Đình khóa thi Bính Tuất đỗ nhị giáp tiến sĩ, đáng lẽ đỗ tam giáp nếu bài thi của ông không can gián vua bỏ thú ham săn bắn để tập trung việc nước trước nguy cơ Pháp có thể xâm lược nước ta. Tài học cao hiểu rộng của Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng đã lọt đến tai vua Tự Đức nên năm 1857, vua triệu ông vào kinh đô Huế phong chức Bí thư văn phòng nội các với nhiệm vụ nặng nề là duyệt bộ sách “Khâm định nhân sự kim giám”. Ông làm công việc này ròng rã hai năm mới xong. Vua Tự Đức đọc những ý kiến đóng góp của ông, rất hài lòng nên ban thưởng ngay cho ông chức Tri phủ Thọ Xuân (Thanh Hóa), sau lại điều lên Tuyên Quang làm Tri phủ Yên Bình là nơi rừng núi hiểm trở, bọn thổ phỉ thường xuyên quấy nhiễu. Sau một thời gian cai quản, Yên Bình đã trở về đúng cái tên gọi của nó thì vua gọi vào Huế trao cho chức Giám sát Ngự sử (1862), chức quan có nhiệm vụ ngăn vua, giám sát hạch tội các quan trong triều. Ngoài nhiệm vụ trọng đại trên ông được phép tham gia bàn bạc các vấn đề về hành chính, tài chính, sử dụng quan lại. Ở lĩnh vực nào ông cũng có những đóng góp có chất lượng cao, trong đó không ít ý kiến của ông đã vượt xa thời đại của ông hàng trăm năm mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Đó là: không nên cử Phan Thanh Giản đem vàng bạc, châu báu để chuộc lại 6 tỉnh Nam Kỳ. Việc này Tự Đức bác bỏ. Kết quả vàng bạc thì Pháp vui vẻ nhận nhưng đất đai của 6 tỉnh thì chúng không trả. Thế là ta mất cả chì lẫn chài! Ông lại tâu với vua cho mở mang thương nghiệp, khuyến khích dùng hàng nội, không dùng hàng ngoại để ban thưởng. Việc sử dụng quan lại: mỗi khi cất nhắc hay tuyển chọn quan, dù là dân chính hay binh chính đều dựa vào tiêu chuẩn và công trạng rõ ràng không dựa vào quan đầu tỉnh hay của các bộ mà cứu xét được.
Đặc biệt về quan hệ với thực dân Pháp ông tâu:
- Theo thần nên mở mang thông thương với nhiều nước, Pháp đã chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ thì thế nào nó cũng nhòm ngó Bắc Kỳ. Nếu ta quan hệ với nhiều nước thì Pháp không có khả năng ép ta được. Trái lại, các nước cũng đua nhau đổ của vào làm lợi cho ta.
Tiếc thay, lời tâu chí lý này đã bị Tự Đức bác bỏ với lời phán lạnh lùng:
- Giao thiệp với một nước còn chưa xong, huống chi là nhiều nước.
Năm Đinh Mão (1867) ở tỉnh Quảng Yên bọn hải tặc hoành hành khiến cho dân tình điêu đứng, quan lại thì bất lực, ông Đặng Xuân Bảng lại được điều đến với chức quan án sát để giúp dân dẹp giặc. Sau khi Quảng Yên yên vui, ông lại được điều về Hà Nội rồi đi Sơn Tây. Năm 1872, ở tuổi 44 ông Xuân Bảng được thăng chức Tuần phủ Hưng Yên, sau đó làm Tuần phủ ở Hải Dương. Năm 1874, Pháp mang quân xâm chiếm Hải Dương, quân ta thua trận, ông Xuân Bảng bị bãi chức tuần phủ và triệu về kinh hậu xét. Năm 1876, ông bị giáng chức tuần phủ phái đi khai hoang ở Đồn Vàng, Hưng Hoá (Phú Thọ) và Bất Bạt (Sơn Tây), khi đi khai hoang ông cho gia nhân gánh theo mấy bồ sách và các tài liệu ông đã bỏ công ghi chép để nghiền ngẫm và bổ sung cho việc viết sử sau này. Hai năm sau (1878), công việc vua giao đã hoàn tất, ông xin nghỉ hưu. Năm 1882, Tự Đức thấy việc bãi chức Đặng Xuân Bảng là vô lý nên lại phục chức cho ông. Nếu từ chối chức vụ thì sẽ làm vua phật ý mà nếu nhận chức thì không còn trí lực như xưa, nên ông xin nhà vua cho nhận chức đốc học tỉnh Nam Định để hợp sức tuổi già và có điều kiện chăm sóc mẹ. Năm Mậu Tý (1888) khi vừa tròn 60 tuổi cụ Đặng Xuân Bảng xin nghỉ hưu lần thứ hai.
Mặc dù có thời gian và tài liệu đã ghi chép và tích lũy gần 40 năm nhưng cũng phải mất gần 20 năm Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng mới viết xong bộ “Việt sử cương mục tiết yếu” gồm 8 quyển, 1.200 trang.
“Đây là bộ thông sử duy nhất ở nước ta có ghi chú các sự kiện lịch sử từ thời Hùng Vương đến hết triều Tây Sơn (1802) có kèm theo các phần “án”, chú, bình, khảo… là những công trình khảo chứng lịch sử lớn nhỏ của tác giả và nhiều sử gia khác. Vì thế, nó có nhiều nét đặc sắc so với các bộ sử truyền thống khác. Tác giả đã tham khảo nhiều nguồn tư liệu trong và ngoài nước, phân tích, tổng hợp vấn đề khảo chứng có sức thuyết phục” (Luận án Tiến sĩ của Hoàng Văn Lâu – Viện nghiên cứu Hán Nôm), Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 2 - 1997).
Sinh cùng thời với cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến (1835- 1909), cụ Nguyễn Khuyến từ quan để về câu cá làm ruộng, làm thơ… chỉ có “Năm gian nhà cỏ thấp le te, ngõ tối đêm thâu đóm lập lòe” đời sống đạm bạc “đầu trò tiếp khách trầu không có” thì Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng hai lần về hưu với hai bàn tay trắng. Cụ về xã Văn Lâm lập ấp, đặt tên là Tả Thành Thiện, cụ nói với con cháu: “Bởi cả đời ta đi làm quan nên không có của để lại, may mà còn mảnh đất này của ông cha, các con lo cày cấy lấy cái ăn. Quê ta nhiều thế gia cự lộc quen sống xa hoa, đừng bắt chước họ, hãy lập nghề nông cho quen khó nhọc…” (Thanh Hà, bài: “Bởi ta làm quan nên nghèo” Nguyệt san Công an nhân dân tháng 7- 1999).
Sau khi bộ sử gồm 8 quyển với 1.200 trang viết tay viết xong thì được người bạn chí cốt là Cao Xuân Dục tặng 20 lạng vàng để cụ Xuân Bảng thuê in ấn lưu lại cho muôn đời. Tài lộc ấy đã được đền bù xứng đáng khi người cháu nội của cụ, Đặng Xuân Khu (tức Trường Chinh) đã phấn đấu trưởng thành trong cuộc cách mạng vô sản, hai lần làm Tổng bí thư của Đảng và cũng để lại sách quý như: “Đề cương văn hóa Việt Nam” của Đảng (1943), “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi” và là người đi tiên phong trong công cuộc đổi mới của Đảng.
Để ghi nhận sự đóng góp của cụ vào nền văn hóa dân tộc, trong Từ điển Bách khoa Việt Nam có mục từ Đặng Xuân Bảng, gần trụ sở huyện Xuân Trường có dốc Xuân Bảng, tại thị xã Nam Định có tên đường Đặng Xuân Bảng.
Ba lần vào Huế, lần nào cụ cũng để tâm quan sát phong cảnh kết hợp với vốn sử học mà cụ biết ở những địa danh Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình cho đến Thừa Thiên - Huế. Tuy không phải là nhà thơ như Nguyễn Khuyến, cụ có ngâm vịnh một số bài thể hiện tình cảm thiết tha yêu thiên nhiên yêu đất nước kết hợp với tâm tư của mình. Dưới đây là bài thơ cụ Bảng viết khi đến Hà Tĩnh:
NGHỈ Ở THẠCH HÀ
Khách thứ đâu đây huyện Thạch Hà
Dừng chân tạm nghỉ ngại sương sa
Chuông kình văng vẳng từng mây lọt
Đèn cá tờ mờ cách bến xa
Róc rách sườn non dòng suối chảy
Chênh chênh mái gác bóng trăng tà
Lạ nhà trằn trọc khuya chưa ngủ
Thành huyện canh vừa trống điểm ba.
G. Phụ bản.
Trích: HỘI THẢO KHOA HỌC VỀ ĐẶNG XUÂN BẢNG: CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP
Hà Nội, tháng 12-1010
Cơ quan tổ chức: Hội Sử học Hà Nội,
Trung tâm Bảo tồn Khu di tích Cổ Loa - thành cổ Hà Nội,
Trung tâm Văn hóa khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội
Ban Liên lạc dòng họ Đặng Xuân (Hành Thiện, Xuân Trường, Nam Định)
Cố vấn khoa học:
GS. AHLĐ Vũ Khiêu
GS. NGND Phan Huy Lê
Ban tổ chức:
GS.TS. Nguyễn Quang Ngọc, Chủ tịch Hội Sử học Hà Nội, Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Trưởng ban.
PGS. TSKH Nguyễn Hải Kế, Phó Chủ tịch Hội Sử học Hà Nội, Chủ nhiệm khoa Lịch sử, Trường Đại học KHXHNV, Phó trưởng ban.
TS Đặng Kim Ngọc, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Sử học Hà Nội, Giám đốc Trung tâm VHKH Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội, Phó trưởng ban.
TS. Nguyễn Văn Sơn, Tổng thư ký Hội Sử học Hà Nội, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn khu di tích Cổ Loa - thành cổ Hà Nội, Ủy viên thường trực.
Ông Đặng Xuân Phi, Trưởng Ban Liên lạc dòng họ Đặng Xuân, Ủy viên.
TS. Nguyễn Đức Nhuệ, Ủy viên Ban chấp hành Hội Sử học Hà Nội, Trưởng ban lịch sử địa phương Viện Sử học, Ủy viên.
Ban Thư ký:
ThS. Nguyễn Hồng Chi, Phó Văn phòng Hội Sử học Hà Nội
ThS. Tống Văn Lợi, Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển
CN Đỗ Ngọc Yến, Trung tâm Bảo tồn khu di tích Cổ Loa – thành cổ Hà Nội
CN Nguyễn Quang Hà, Trung tâm Bảo tồn khu di tích Cổ Loa – thành cổ Hà Nội
***
I. KHAI MẠC VÀ ĐỀ DẪN HỘI THẢO KHOA HỌC ĐẶNG XUÂN BẢNG (1828- 1910): CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP
GS.TS Nguyễn Quang Ngọc
Chủ tịch Hội Sử học Hà Nội,
Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển
Kính thưa các vị khách quý.
Kính thua các nhà khoa học,
Kính thưa các cụ, các bác đại diện cho gia đình dòng Đặng Xuân,
Ngày mồng Một tháng Một năm Canh Tuất tức là ngày 2 tháng 12 năm 1910, trái tim nhân hậu của nhà bác học yêu nước, thương dân Đặng Xuân Bảng ngừng đập. Hôm nay sau tròn 100 năm cụ Đặng Xuân Bảng đi xa, chúng ta tập hợp tại đây, cùng thắp nén nhang tưởng nhớ công lao và ân đức của cụ đã để lai cho đất nước, cho nhân dân, cho quê hương và cho con cháu muôn đời…
Thưa toàn thể quý vị,
Cụ Đặng Xuân Bảng tự là Hy Long, hiệu là Thiện Đình, sinh năm Mậu Tý (năm 1828) trong một gia đình có truyền thống nho học hàng đầu ở một làng quê lừng lẫy xứ Nam – làng Hành Thiện. Hành Thiện có tên nôm là làng Keo (hay còn gọi là Giao) tức là hương Giao Thủy, nơi không chỉ là kết tinh của văn hóa xứ Nam, mà còn là biểu trưng của nền văn minh Việt cổ, của tộc người Việt từ thuở các Lạc tướng, Lạc dân mở cõi ở vùng cửa sông ven biển “theo thủy triều lên xuống mà làm ruộng”.
Ngay từ thuở ấu thơ, Đặng Xuân Bảng đã nổi tiếng là người thông minh xuất chúng, chỉ học ở người cha trong cảnh bần hàn, bữa đói bữa no, vừa học vừa phải đỡ mẹ trông nom ruộng vườn và phụ giúp cha dạy cho lớp đàn em, mà thông thiên kinh vạn quyển. Chỉ qua hai vế ứng đối: “Đất không chân đất biết chạy, quả đất xoay vần” và “Con hơn cha, nhà có phúc, chắc hẳn có cầu, có được, có ước, có nên”, cũng có thể nhận thấy không chỉ kiến thức uyên thâm, ý chí và nghị lực phi thường, mà còn là thế đứng và bản lĩnh giữa thời buổi trời đất xoay vần của cậu bé 12 tuổi Đặng Xuân Bảng.
Năm 18 tuổi, Đặng Xuân Bảng đỗ tú tài và năm 22 tuổi đỗ cử nhân, bắt đầu thực hiện được ước nguyện của một gia đình đại phúc. Cụ được bổ chức Giáo thụ Ninh Giang (Hải Dương), bên cạnh việc dạy học, vẫn chăm chỉ học hành và năm 1856, khi tròn 28 tuổi, thi đậu tiến sĩ với bài văn đình đối thẳng thắn can vua về thanh sắc và tuần du và với câu trả lời đầy tự hào về người cha, người thầy duy nhất rèn cặp từ những nét chữ đầu tiên cho đến khi trở thành tiến sĩ. Đây là trường hợp hết sức đặc biệt không chỉ trong khoa thi Bính Thìn (năm 1856), mà trong toàn bộ lịch sử khoa cử nho học Việt Nam, nên vua Tự Đức mặc dù không khỏi khó chịu về lời can gián của cụ, vẫn khen tặng cho cả hai cha con là “Giáo tử đăng khoa”.
Sau khi đỗ tiến sĩ, được tiếp nhận vào guồng máy quan chức cao cấp của triều đình Tự Đức trong bối cảnh vận nước đang vô cùng nguy nan, nhưng cụ Đặng Xuân Bảng dù làm việc trong triều đình Huế, hay được điều đi giữ trọng trách ở các địa phương như: Thanh Hóa, Tuyên Quang, Quảng Yên, Hà Nội, Sơn Tây, Hưng Yên, Nam Định… có nơi đổi đi đổi lại đến vài ba lần, thậm chí có đến 3 lần cầm quân ra trận, ở đâu cụ cũng đều tận tâm, tận lực, nổi tiếng thanh liêm, có nhiều sáng kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho dân. Sự nghiệp chính trị và quân sự của Đặng Xuân Bảng cần phải được đặt trong bối cảnh đất nước nửa cuối thế kỷ XIX và hoàn cảnh cụ thể của triều Tự Đức để nghiên cứu, đánh giá một cách khách quan, công bằng. Tuy chưa làm được như Phan Đình Phùng, cũng không bị rơi vào hoàn cảnh quá éo le như Phan Thanh Giản, Đặng Xuân Bảng đã tìm được cho mình một lối đi riêng “làm quan trong kinh, ngoài trấn 30 năm, đi đến đâu đều có thành tích tốt ở đó”.
Là người mê đọc binh thư, chăm chú tổng kết và vận dụng lý giải trên thực địa những trận đánh nổi tiếng của tổ tiên và trực tiếp điều quân khiển tướng đánh tan giặc cướp giữ yên vùng duyên hải Đông Bắc, Đặng Xuân Bảng được người đời ngợi ca là bậc “văn võ toàn tài”. Sự nghiệp của Đặng Xuân Bảng bao trùm lên rất nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng nói đến Đặng Xuân Bảng trước hết phải nói đến một học giả kiệt xuất mà số lượng công trình dù đã bị thất lạc thì ngày nay vẫn có thể thống kê được không dưới 20 tác phẩm. Trước tác của Đặng Xuân Bảng rất đa dạng gồm nhiều các lĩnh vực chuyên môn như Sử học, Địa lý, Thiên văn học, Văn học, Ngôn ngữ học, Triết học, Giáo dục học, Y dược và thơ ca. Chẳng hạn trong lĩnh vực địa lý học lịch sử, một ngành học của Việt Nam được mở đầu bằng tác phẩm Dư địa chí của anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi thế kỷ XV, được tiếp nối bằng nghiên cứu của các nhà bác học hàng đầu như Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, được các vương triều chú trọng tổ chức và quy vào nhiệm vụ của Quốc sử quán để có thể huy động cao độ trí tuệ của cả nước, thế mà khi làm tác phẩm Đất nước Việt Nam qua các đời, giáo sư Đào Duy Anh vẫn hoàn toàn có lý khi nhận định: “Tác phẩm của Đặng Xuân Bảng có thể xem là một công trình nghiên cứu địa lý học lịch sử quan trọng nhất trong học giới nước ta ở thời phong kiến”. Không chỉ riêng mảng sách địa lý học lịch sử, các mảng văn thơ, ngôn ngữ học, triết học, giáo dục học… ở mảng sách nào Đặng Xuân Bảng cũng đều có những thành công nổi bật. Nhưng dù có được đánh giá cao đến mức nào đi chăng nữa, thì các mảng sách chuyên môn này vẫn không thể sánh ngang với các công trình sử học của cụ. Đặng Xuân Bảng vượt lên trên các nhà sử học cùng thời, bên cạnh thái độ khách quan, tôn trọng sự thật, khảo cứu đến ngọn nguồn các chứng cứ lịch sử, là một cái nhìn khoa học tổng thể và phương pháp tiếp cận hệ thống và liên ngành, đúng như giáo sư Hà Văn Tấn nhận xét: Đặng Xuân Bảng “là một nhà Sử học có phương pháp gần với phương Tây hiện đại”. Sử học Việt Nam thế kỷ XX và thập kỷ đầu thế kỷ XXI càng ngày càng chứng minh tính ưu việt của phương pháp nghiên cứu liên nghành và vì thế hình dung Đặng Xuân Bảng là một nhà sử học đi trước thời đại.
Đặng Xuân Bảng sở dĩ cùng một lúc chiếm lĩnh được nhiều đỉnh cao, vì ông được tôi rèn trong một môi trường giáo dục chuẩn mực của truyền thống gia đình, dòng họ, quê hương và trở thành một người thầy mẫu mực “học vấn uyên bác, đức hạnh thuần khiết”. Theo cụ, cái gốc của giáo dục là sự rèn luyện tư cách phẩm chất cá nhân, là giáo dục gia đình, dòng họ và làng xóm. Cụ dạy người không biết mệt mỏi, nhiều người đỗ đạt cao, trong đó có đến 200 cử nhân, tú tài. Cụ thúc đẩy truyền thống hiếu học của làng Hành Thiện kết quả, khai hoa; đưa truyền thống dòng họ, gia đình sang một trang sử mới, mà cháu nội của cụ, Đặng Xuân Khu (tức Trường Chinh) là người đại diện tiêu biểu nhất. Nói như nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt: ở đồng chí Trường Chinh có một sự hòa quyện giữa tính cách của một người sĩ phu với phẩm chất của cách mạng và trong con người Trường Chinh luôn luôn tỏa sáng những đặc trưng đáng kính của một nhà Nho “tu thân, tề gia, trị quốc”. Dòng họ Đặng và làng Hành Thiện (xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định) có những đóng góp to lớn và nổi bật vào trong dòng chảy của lịch sử cách mạng Việt Nam, hẳn có công lao đắp móng, xây nền của cụ. Đây cũng chính là nét hết sức đặc biệt trong cuộc đời và sự nghiệp Đặng Xuân Bảng.
(còn tiếp)
Nguồn: Thân thương cuộc đời. Tập Ký chọn lọc của Đặng Xuân Đĩnh. NXB Văn học, 2012.
www.trieuxuan.info
|