Nhà văn Triệu Xuân: Bốn chục năm đã trôi qua, kể từ cái đêm khủng khiếp 18-12-1972, khi máy bay B52 của Mỹ trải thảm bom xuống đầu cầu Long Biên, Phú Thụy, Gia Lâm; giết hại hàng chục người trong đó có cả 5 người trong gia đình của chú ruột tôi: Thím tôi và 4 đứa em. Chú tôi – Đại tá Triệu Xuân Lan, lúc ấy là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 280, thuộc Sư đoàn 367, Phòng không Không quân, Đơn vị Anh hùng - đang chiến đấu ở Quảng Trị. Ngay hôm sau, năm người gồm Bác ruột Triệu Thiểm, Bố tôi, Triệu Quang Điện, Chú ruột Triệu Xuân Ngọc, chú rể Phạm Thanh, chú rể Đoàn Đình Thân đã bất chấp bom Mỹ, đào bới tìm kiếm suốt bốn ngày đêm mới thấy thi thể của thím Lê Thị Sự và các em tôi. Mai táng xong, đêm ngày 24-12-1971, B52 Mỹ lại đánh vào nghĩa trang, làm tan nát tất cả, máu xương trộn bùn, không còn phân biệt được thi thể từng người... . Khi chú tôi từ chiến trường Quảng Trị về viếng mộ vợ và bốn con, chú tôi khóc ròng mấy ngày đêm, răng cắn chặt, môi mím chặt mà tịnh không một giọt nước mắt!
Ngày 18-12-1992, kỷ niệm 20 năm ngày Giỗ của thím Sự và bốn em tôi, tôi đã viết bài bút ký in trên báo Sài Gòn Giải phóng, kể lại chi tiết việc này. Bố tôi bảo: Anh nên tránh nói đến nỗi đau to lớn ấy! Bố tôi sợ chú tôi không chịu nổi! Nay, đại tá Triệu Xuân Lan đã gần chín mươi tuổi, vết thương lòng tưởng như đã phần nào nguôi ngoai... Thế nhưng, hàng năm, cứ dịp kỷ niệm 12 ngày đêm B52 hủy diệt Hà Nội, chú tôi lại kiệt sức, phải vô bệnh viện. Tôi vừa được tin chú tôi đang nằm ở phòng cấp cứu Quân y viện 103.
Ngày 22-12-2012, www.trieuxuan.info đã post hai bài của Đoàn Hoài Trung từ vanvn.net. Hôm nay, nhận được tin chú ruột tôi đang phải cấp cứu, www.trieuxuan.info post lại toàn văn tác phẩm Thắng B52 trên bầu trời Hà Nội, mà tác giả Đoàn Hoài Trung, người bạn thân, người em của tôi đã gửi tới.
Trải qua 18 năm chiến đấu vô cùng gian khổ và anh dũng chống đế quốc Mỹ xâm lược, đến tháng 10 năm 1972, quân và dân hai miền Nam - Bắc đã giành được nhiều thắng lợi to lớn trên các mặt trận: quân sự, chính trị, ngoại giao, đẩy Mỹ - ngụy vào khủng hoảng nghiêm trọng không lối thoát. Tại cuộc hòa đàm Pa-ri kéo dài hơn bốn năm, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã đưa ra bản dự thảo “Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”. Hai phía Việt Nam và Mỹ đã thỏa thuận những nội dung cơ bản và dự kiến ngày chính thức ký Hiệp định.
Tuy nhiên, với bản chất phản động và hiếu chiến, đế quốc Mỹ đã tìm mọi phương cách để trì hoãn việc ký kết Hiệp định, đồng thời liều lĩnh mở chiến dịch tập kích đường không, sử dụng “Siêu pháo đài bay B52” đánh phá Hà Nội, Hải Phòng và một số tỉnh, thành phố khác của miền Bắc, nhằm buộc nhân dân ta phải quỳ gối khuất phục, tạo thế mạnh của Mỹ trên bàn đàm phán. Đây là cuộc tập kích đường không chiến lược có quy mô lớn nhất trong lịch sử chiến tranh hiện đại, với sức hủy diệt vô cùng khốc liệt và tàn bạo.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân Hà Nội mà nòng cốt là bộ đội phòng không - không quân cùng với quân dân miền Bắc đã bắn hạ 81 máy bay Mỹ, trong đó có 34 chiếc B52 và 5 chiếc F.111, làm nên một trận “Điện Biên Phủ trên không”. Đây là chiến công tuyệt vời của bản lĩnh, trí tuệ, sức mạnh Việt Nam, buộc đế quốc Mỹ phải ký vào Hiệp định Pa-ri, tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; quân đội Mỹ phải sớm rút khỏi cuộc chiến; đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đến thắng lợi hoàn toàn.
Thắng lợi của chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” là một biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, một chiến công vĩ đại của lực lượng Phòng không - Không quân, sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân Việt Nam chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ xâm lược.
Cuốn sách Thắng B52 trên bầu trời Hà Nội là tập hợp những bài viết của tác giả Đoàn Hoài Trung về các tướng lĩnh, sĩ quan chỉ huy và những người lính trực tiếp tham gia chiến đấu trong chiến dịch 12 ngày đêm tháng Chạp năm 1972.
BÁC HỒ ĐẶT TÊN CHO QUÂN CHỦNG PHÒNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN
Theo lời kể của Thượng tướng Phùng Thế Tài, nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Tư lệnh đầu tiên của Quân chủng Phòng không - Không quân
Trong những năm đầu của thập niên Sáu mươi, nhân dân miền Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã tiến hành cuộc Đồng khởi trên quy mô rộng lớn. Từ đấu tranh chính trị giữ gìn lực lượng, nhân dân miền Nam chuyển lên đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang. Để cứu vãn tình thế, đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược “chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nam, tăng cường các hoạt động do thám, tung biệt kích phá hoại miền Bắc, nhằm ngăn chặn viện trợ của miền Bắc cho chiến trường miền Nam. Quân ủy Trung ương chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng trên miền Bắc.
Lúc này, tôi đang là Tư lệnh Phòng không. Ngày 19 tháng 4 năm 1963, tôi nhận được chỉ thị của đồng chí Văn Tiến Dũng, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, về vấn đề chấn chỉnh tổ chức. Chỉ thị nêu rõ: “Trong kế hoạch xây dựng lực lượng vũ trang, có một số vấn đề nghiên cứu, giải quyết để tăng cường công tác phòng thủ, hợp lý hóa tổ chức và tiết kiệm quân số, Thường trực Quân ủy giao nhiệm vụ cho Đảng ủy Phòng không cùng Đảng ủy Cục Không quân nghiên cứu vấn đề hợp nhất quân chủng...”. Đồng chí Văn Tiến Dũng còn giao nhiệm vụ cho hai Đảng ủy phải nghiên cứu thu thập ý kiến diện hẹp trước ngày 30 tháng 4 năm 1963. Ngày 29 tháng 4 năm 1963, tôi đã triệu tập hội nghị Đảng ủy để bàn bạc, đóng góp ý kiến tập trung vào ba vấn đề: Có nên hợp nhất không? Hợp nhất thì có những thuận lợi, khó khăn gì? Hợp nhất thì tổ chức như thế nào? Rất nhiều ý kiến đóng góp, nhưng mọi người đều nhận thấy việc hợp nhất là hợp lý. Ngày 10 tháng 6 năm 1963, tôi chủ trì cuộc họp giữa lãnh đạo, chỉ huy Bộ Tư lệnh Phòng không và lãnh đạo, chỉ huy Cục Không quân cùng đại diện các cơ quan Chính trị, Tham mưu, Hậu cần của hai bên. Chúng tôi đã đi đến thống nhất chủ trương hợp nhất là hoàn toàn đúng vì những lý do sau:
Trước hết, hợp nhất là để tạo cho việc hiệp đồng, sử dụng lực lượng và chỉ huy đơn vị. Do đặc điểm địa hình nước ta nhỏ, hẹp; lực lượng Phòng không và Không quân của chúng ta còn hạn chế nên không thể phân chia rạch ròi giữa phòng không tiền tuyến, phòng không hậu phương. Hơn nữa, hợp nhất lại có thể sử dụng chung một số trang thiết bị.
Hợp nhất lại sẽ rất thuận lợi cho việc chỉ huy hiệp đồng giữa các lực lượng phòng không và không quân, thuận tiện cho việc quản lý vùng trời.
Điểm cuối cùng, hợp nhất lại sẽ giảm được quân số đáng kể trên khối cơ quan.
Đồng chí Đặng Tính lúc đó là Cục trưởng Cục Không quân, đã đưa phương án tổ chức khi hợp nhất. Phương án bên không quân có nhiều điểm hợp lý, nhưng cũng có những vấn đề còn phải bàn bạc, thảo luận như chỉ có một cơ quan tác chiến, một cơ quan huấn luyện liệu có đảm nhiệm được không? Vấn đề quản lý và xây dựng sân bay nên để cơ quan Hậu cần hay để cơ quan Tham mưu quản lý? Còn phương án của Bộ Tư lệnh Phòng không do tôi trình bày. Hội nghị cũng có nhiều ý kiến về phương án này: Như có nhiều cơ quan tác huấn quá; cơ quan nghiên cứu, bộ phận kỹ thuật nên chăng đưa về Cục Kỹ thuật; bộ phận nghiên cứu khoa học quân sự nên đưa về các phòng tác huấn... Chúng tôi làm việc nguyên một ngày để đi đến thống nhất về tổ chức, biên chế. Riêng về tên gọi, lúc đó rất nhiều ý kiến khác nhau, nhưng kết luận có thể đặt hai tên đó là: Quân chủng Phòng không quân hoặc Quân chủng Không quân.
Tại hội nghị này, chúng tôi cũng thành lập ra Ban nghiên cứu hợp nhất. Tôi là Trưởng ban, đồng chí Đặng Tính - Phó ban, cùng các thành viên là thủ trưởng của các cơ quan hai bên. Chúng tôi đề ra chương trình công tác gồm 3 bước. Trước hết hai bên thống nhất chủ trương, rồi tiến hành công tác tổ chức biên chế, sau đó giải quyết vấn đề chính sách.
Trong quá trình nghiên cứu, có nhiều ý kiến khác nhau về tên của quân chủng, có ý kiến đề nghị lấy tên là quân chủng “Phòng không quân”, có ý kiến đề nghị lấy tên là quân chủng “Không quân - Phòng không”. Chúng tôi đã tổng hợp và gửi các ý kiến lên trên để Quân ủy Trung ương xem xét. Quân ủy Trung ương trình Bác Hồ. Sau khi nghiên cứu, Bác đã quyết định tên quân chủng là “Quân chủng Phòng không - Không quân”, Bác có thêm vào giữa hai lực lượng một dấu gạch ngang. Có một lần, tôi và đồng chí Đặng Tính được gặp Bác Hồ, Bác đã nói vui với chúng tôi, đại ý là: “Bác không bênh chú Tài đâu, mà để tên Quân chủng như vậy đọc nó thuận hơn, Bác đã để gạch ngang ở giữa như vậy là có ý coi hai lực lượng đều quan trọng như nhau”.
Sau này do yêu cầu nhiệm vụ, Quân chủng phòng không - Không quân tách ra thành Quân chủng Phòng không và Quân chủng Không quân, đến khi hợp nhất lại có nhiều ý kiến về tên của Quân chủng. Có ý kiến muốn học tập một số nước lấy tên là Quân chủng Không quân - Phòng không. Tôi đã trực tiếp trao đổi với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phạm Văn Trà và đề nghị để nguyên tên Quân chủng như tên Bác Hồ đã đặt cho, đó là Quân chủng Phòng không - Không quân.
Giờ đây đã nhiều năm trôi qua, tôi vẫn nhớ như in những ngày đầu mới thành lập Quân chủng. Chúng tôi đã đoàn kết bên nhau, bỏ qua những vấn đề còn chưa thật sự hiểu nhau để hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng và Bác Hồ giao cho, đó là bảo vệ bầu trời Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
BÁC HỒ - NGƯỜI CHA KÍNH YÊU CỦA BỘ ĐỘI CAO XẠ
Theo lời kể của Thiếu tướng Trần Văn Giang, nguyên Chính ủy Quân chủng Hải quân,
nguyên Chính ủy Sư đoàn Phòng không Hà Nội
Sự ra đời của Trung đoàn pháo cao xạ đầu tiên
Đầu năm 1953, tôi đang là Phó Chủ nhiệm Chính trị Đại đoàn 316 ở Sơn La thì được lệnh về Bộ Quốc phòng nhận nhiệm vụ. Lúc này, Bộ Quốc phòng đóng ở Quán Vuông, Chợ Chu, Thái Nguyên. Tôi về đến nơi thì được biết: “Đoàn đi học pháo cao xạ ở Trung Quốc do anh Nguyễn Quang Bích làm trưởng đoàn đã đi được sáu ngày, đồng chí phải đuổi theo ngay vì đồng chí là Bí thư chi bộ của đoàn”. Qua tìm hiểu tôi được biết, Bác Hồ trong dịp qua Liên Xô làm việc với Stalin đã đề nghị Liên Xô giúp ta trang bị một trung đoàn pháo cao xạ. Nhờ uy tín của Bác mà Liên Xô hứa giúp về vũ khí, còn Trung Quốc sẽ giúp đào tạo kỹ thuật cho một trung đoàn pháo 37mm. Nghe tới đây, lòng tôi nóng như lửa đốt, tôi vội xin phép lên đường.
Các anh trong Bộ Quốc phòng đồng ý cho tôi mượn một chiếc xe đạp và cử một đồng chí công vụ đi cùng để đến biên giới sẽ đem xe đạp về. Lúc này trời mùa đông giá rét, nhưng chúng tôi hối hả đạp xe đi mong theo kịp đoàn. Đến Đồng Đăng, đồng chí công vụ tên là Quận mang xe đạp về, còn tôi đi bộ qua Bằng Tường gặp biện sứ của ta ở đó. Các anh bảo tôi đợi bảy ngày nữa mới có phiên dịch đi sang Nam Ninh (Trung Quốc). Tôi xin các anh cho đi luôn, các anh đưa cho tôi quyển Việt - Trung hội thoại. Trên tàu, tôi tranh thủ học tiếng Trung Quốc. Đến Nam Ninh, biện sứ ra đón và cử đồng chí Lý Dinh Trưởng đi cùng tôi lên Bắc Kinh. Thế là dọc đường, tôi cùng Lý Dinh Trưởng hội thoại tiếng Trung Quốc theo sách. Đến ga Vũ Hán, mọi người trên toa của tôi xôn xao, ba bốn anh quân giải phóng nhân dân Trung Quốc lên đề nghị bà con xuống toa sau. Khi đến chỗ tôi, Lý Dinh Trưởng giới thiệu tôi là bộ đội Việt Nam, họ nhìn tôi ngần ngại. Tôi đoán là sẽ có một cán bộ cao cấp lên toa này. Quả nhiên bốn, năm sĩ quan quân giải phóng nhân dân Trung Quốc bước lên tàu, trong đó có một đồng chí tướng mạo oai vệ. Nhìn thấy tôi, đồng chí giơ tay chào rất vui vẻ. Tôi bắt tay và nhận thấy khuôn mặt đồng chí đó quen quen, hình như tôi đã gặp ở đâu? Thế là suốt dọc đường lên Bắc Kinh, chúng tôi ngồi bên nhau. Đồng chí viết vào giấy: Hồ Chí Minh; tôi viết bên cạnh: Mao Trạch Đông. Đồng chí cười xòa rồi lại viết: Phạm Văn Đồng; tôi viết bên cạnh: Chu Ân Lai. Bằng cách viết, rồi dùng tay giở sách ra chỉ, chúng tôi trò chuyện với nhau rất vui vẻ. Đến Bắc Kinh, đồng chí giành lấy ba lô của tôi và đưa tôi lên xe của đồng chí rồi đưa về Bộ Tư lệnh Pháo binh. Đến đây tôi được mọi người cho biết đó là Đại tướng Trần Canh, Phó Tư lệnh dã chiến Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Lúc ấy, tôi mới nhớ ra đã gặp ông trong buổi Bác Hồ khao quân sau chiến dịch Biên giới 1950. Hôm ấy, tôi và một đồng chí đại diện cho Trung đoàn Pháo binh 675 đi dự tiệc. Bác Hồ ngồi cách chúng tôi mấy bàn cùng với Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tướng Trần Canh - Trưởng đoàn cố vấn Trung Quốc.
Ở Bộ Tư lệnh Pháo binh Trung Quốc, tôi được mọi người tiếp đón nồng hậu. Nghỉ ngơi một ngày, các đồng chí đưa tôi lên Thẩm Dương gặp đoàn anh Nguyễn Quang Bích tham gia học tập. Tại Trường Sĩ quan Cao xạ Thẩm Dương, chúng tôi được học nguyên tắc chiến thuật của đại đội, tiểu đoàn và trung đoàn pháo cao xạ trong chiến đấu độc lập và chiến đấu hiệp đồng, chi viện và bảo vệ bộ binh trong chiến đấu, tiến công, phòng ngự. Ngày 1 tháng 4 năm 1953, Trung đoàn Pháo cao xạ 367 được thành lập. 2.700 cán bộ, chiến sĩ tập trung tại khu rừng thuộc xã Bộc Nhiên, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, sau đó lên đường sang Tân Dương - Trung Quốc học. Ban chỉ huy trung đoàn đầu tiên gồm các đồng chí: Lê Văn Tri - Trung đoàn trưởng, Đoàn Phụng - Chính ủy, Ngô Từ Vân - Phó Chính ủy, Nguyễn Quang Bích - Trung đoàn phó.
Tôi được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Chính trị và tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ trung đoàn. Trong quá trình học tập ở Trung Quốc, Bác Hồ thường xuyên theo dõi và quan tâm đến trung đoàn. Tháng 7 năm 1953, đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị sang làm việc ở Trung Quốc đã đến thăm và kiểm tra kết quả học tập của Trung đoàn Pháo cao xạ 367. Đồng chí đã chuyển lời căn dặn của Bác Hồ: “Không quân là chỗ mạnh của giặc. Muốn thắng giặc, ta phải có bộ đội pháo cao xạ mạnh để trị máy bay chúng... Không được quên tội ác chồng chất của không quân Pháp đối với đồng bào. Muốn trả thù cho đồng bào, phải bắn rơi nhiều máy bay địch, phải học tập tốt, giữ gìn súng đạn cho tốt”. Những điều căn dặn của Bác đã trở thành mục tiêu xây dựng lực lượng và phương hướng hành động của Bộ đội Cao xạ Việt Nam.
Đầu năm 1954, Trung đoàn chia làm ba đợt hành quân về Việt Nam tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong 55 ngày đêm chiến đấu kiên cường, dũng cảm, Trung đoàn Pháo cao xạ 367 đã bắn rơi 52 máy bay, gồm chín kiểu loại, bắn bị thương 117 chiếc khác. Bác Hồ đã gửi thư khen ngợi và tặng cờ “Quyết chiến, quyết thắng” cho Đại đội 815 - Tiểu đoàn 383 của Trung đoàn, đơn vị bắn rơi nhiều máy bay nhất trên vùng trời Điện Biên Phủ. Đồng chí Nguyễn Quang Thuận, pháo thủ Đại đội 815 được vinh dự thay mặt cho lực lượng phòng không, cùng một số cán bộ, chiến sĩ lập công xuất sắc trong chiến dịch Điện Biên Phủ về căn cứ địa Việt Bắc báo cáo thành tích với Bác Hồ.
Bác Hồ với các chiến sĩ pháo cao xạ trong những năm tháng chống Mỹ
Sau khi hòa bình lập lại, ngày 21 tháng 9 năm 1954, Bộ Tổng Tư lệnh ra Nghị định số 34/NĐA, thành lập Đại đoàn pháo cao xạ hỗn hợp mang phiên hiệu 367, trực thuộc Bộ Chỉ huy Pháo binh. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư thăm hỏi ân cần và động viên cán bộ, chiến sĩ nhanh chóng làm chủ vũ khí, khí tài để bảo vệ Hà Nội. Lời Bác dặn: “Hà Nội chưa có pháo cao xạ như là nhà chưa có nóc”, đó là nguồn động viên mỗi chúng tôi quyết tâm học tập nhanh chóng làm chủ vũ khí, khí tài để bảo vệ Thủ đô.
Ngày 25 tháng 7 năm 1961, Bác Hồ đến thăm Đại đội 1 - Trung đoàn pháo Phòng không 230. Bác dạy: “Các chú phải ra sức học tập kỹ thuật, chiến thuật nhiều hơn nữa... phải tránh chủ quan, tự mãn. Trình độ văn hóa của các chú còn thấp, phải nên cố gắng học tập để làm cơ sở tốt cho huấn luyện quân sự... Phải tích cực hoạt động thể dục thể thao, giữ gìn vệ sinh bảo vệ sức khỏe...”.
Trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ trên miền Bắc, Bác Hồ đã nhiều lần đến thăm Quân chủng Phòng không - Không quân, đặc biệt là thăm các đơn vị Pháo cao xạ. Ngày 17 tháng 9 năm 1965, Bác Hồ đến thăm và động viên đoàn súng máy cao xạ xung kích. Trước lúc đơn vị lên đường đi chiến đấu, Bác đã dặn: “Muốn bắn trúng, bắn rơi máy bay ngay từ loạt đạn đầu tiên, phải tập luyện thật công phu. Có bắn đúng, bắn rơi từ loạt đạn đầu thì mới bắn rơi được tại chỗ. Những yêu cầu đó liên hệ mật thiết với nhau, các chú bắn còn tốn đạn, tất nhiên là không chú nào muốn thế, nhưng chính vì kỹ thuật chưa cao. Thằng Mỹ nó đánh xong cũng rút kinh nghiệm, đừng nặng về liên hoan, nhẹ về rút kinh nghiệm. Ta thường nói Một viên đạn, một quân thù, ở đây với cỗ pháo này, Bác cho các chú 20 viên một quân thù. Các chú cố học sẽ thực hiện được”.
Tháng 7 năm 1967, thời tiết Hà Nội rất nóng. Những ngày này, Bác vẫn sống và làm việc tại Hà Nội. Người quan tâm rất nhiều đến bộ đội phòng không ngồi trên mâm pháo nóng bỏng hoặc ngồi trong buồng máy ra đa, máy chỉ huy nhiệt độ lên tới 41-420C. Người thường hỏi thăm bộ đội có đủ nước uống không? Hàng ngày tắm vào lúc nào? Đêm ngủ được mấy tiếng? Một buổi trưa, Bác giao cho đồng chí Vũ Kỳ - thư ký của Bác leo lên nóc Hội trường Ba Đình kiểm tra hai khẩu đội súng phòng không 14,5mm của Trung đoàn 234. Bộ đội trực chiến gian khổ và căng thẳng, chỉ có một lán nhỏ, vài anh em thay phiên nhau vào trú nắng tạm. Các pháo thủ thay nhau trên mâm pháo ngồi ở vị trí chuẩn bị ngắm bắn và đạp cò. Đã nắng nóng do thời tiết, anh em lại phải chịu cái nắng hắt lên từ nền xi măng bỏng rát. Nước uống đựng trong các bi đông từ dưới mặt đất đưa lên phải uống dè xẻn. Sau khi nghe đồng chí Vũ Kỳ kể lại, Bác lập tức quyết định rút hết số tiền tiết kiệm từ lương và nhuận bút viết báo của Bác tổng cộng 25.000 đồng (tương đương với giá trị 60 cây vàng lúc đó) để chi cho bộ đội phòng không có thêm đường và nước giải khát. Bác còn dặn: “Tất cả bộ đội ngồi trên mâm pháo ngoài trời nắng đều phải chi đủ. Tiền của Bác thiếu thì đề nghị Tổng cục Hậu cần chi tiếp, đảm bảo cho bộ đội phòng không có đủ nước uống và giải khát”. Thật là nguồn động viên cực kỳ to lớn, tác động sâu sắc đến tinh thần chiến đấu, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ cao xạ trên mặt trận Hà Nội năm ấy cũng như toàn thể cán bộ, chiến sĩ bộ đội phòng không.
Trong cuộc đời, tôi được gặp Bác Hồ nhiều lần, lần cuối cùng vào Tết Kỷ Dậu năm 1969, Bác Hồ đến thăm Quân chủng Phòng không - Không quân. Khi đó tôi là Chính ủy Sư đoàn Phòng không Hà Nội. Các sư đoàn, trung đoàn, các cục, các phòng ban đều được cử đại diện đón Bác. Chúc Tết bộ đội xong, Bác đề nghị Bộ Tư lệnh mời đại diện cán bộ, chiến sĩ có nhiều chiến công lên để Bác bắt tay. Bắt tay đồng chí Nguyễn Văn Cốc - Anh hùng lái máy bay lúc đó đã bắn rơi tám máy bay Mỹ, Bác nói to: “Sang năm mới, chúc Quân chủng Phòng không - Không quân lập chiến công giòn giã và có nhiều Cốc hơn nữa”. Rồi Bác căn dặn: “Một là, phải luôn luôn đoàn kết chặt chẽ và lao động tốt. Hai là, phải luôn luôn cảnh giác sẵn sàng chiến đấu, không tin được Mỹ đâu, chúng nó xảo quyệt lắm. Chúng là bọn đế quốc xâm lược. Phải luôn luôn sẵn sàng chiến đấu để khi nó giở quẻ thì mình đáp lại được ngay. Ba là, các cô các chú đóng quân ở đâu thì phải giúp đỡ đồng bào làm công tác phòng không cho tốt, nhắc nhở mọi người không được lơ là mất cảnh giác”.
Bộ đội cao xạ trong chiến dịch “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” 12 ngày đêm
Bộ đội cao xạ là lực lượng đông đảo nhất trong chiến dịch 12 ngày đêm có khả năng đánh lâu dài, liên tục, cơ động nhanh, ứng phó kịp thời để bảo vệ các mục tiêu quan trọng, các trận địa tên lửa, sân bay. Bộ đội pháo phòng không đã đánh 1.191 trận, tiêu thụ gần một trăm nghìn viên đạn, bắn rơi 28 máy bay, trong đó pháo 100 bắn rơi 3 máy bay B52. Lực lượng pháo, súng máy phòng không bảo vệ tên lửa thường là đối thủ trực tiếp của máy bay cường kích địch. Bộ đội Cao xạ đã chiến đấu dũng cảm, ngoan cường bảo vệ các mục tiêu quan trọng đặc biệt các trận địa tên lửa, để tên lửa tập trung đánh B52.
Kết hợp với thành tích 8 năm chống chiến tranh phá hoại, ngày 20 tháng 10 năm 1976, Bộ đội Cao xạ được Đảng và Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Hình ảnh Bác Hồ muôn vàn kính yêu cùng với những lời huấn thị khuyến khích, động viên, nhắc nhở và những tình cảm bao la trìu mến của Người là ánh sáng soi đường, nguồn sức mạnh cổ vũ tinh thần, là động lực thúc đẩy quân và dân ta nói chung, Bộ đội Cao xạ nói riêng, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
CHÍNH ỦY ĐẦU TIÊN CỦA QUÂN CHỦNG PHÒNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN
Ngày 22 tháng 10 năm 1963, Quân chủng Phòng không - Không quân được thành lập trên cơ sở sáp nhập Bộ Tư lệnh Phòng không và Cục Không quân. Đại tá Phùng Thế Tài - nguyên Tư lệnh Phòng không được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân chủng và Đại tá Đặng Tính - nguyên Cục trưởng Cục Không quân được bổ nhiệm làm Chính ủy Quân chủng. Đại tá Đặng Tính là một trong những cán bộ có công trong việc xây dựng Binh chủng Không quân và ngành Hàng không dân dụng Việt Nam. Từ năm 1963 đến năm 1970, trên cương vị Bí thư Đảng ủy, Chính ủy, có thời kỳ kiêm Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, Chính ủy Đặng Tính đã đem hết sức lực và trí tuệ của mình góp phần quan trọng vào việc xây dựng Quân chủng trưởng thành nhanh chóng và chiến thắng vẻ vang. Ngày 24 tháng 10 năm 1971, đại tá Đặng Tính lên đường vào Trường Sơn nhận nhiệm vụ Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn. Ngày 3 tháng 4 năm 1973, Chính ủy Đặng Tính đã hy sinh trên đường làm nhiệm vụ tại Trường Sơn. Cuộc đời của Chính ủy Đặng Tính là một tấm gương sáng của người đảng viên cộng sản kiên trung, người Chính ủy tài ba, mẫu mực có uy tín cao trong quân đội và với nhân dân.
Tôi được gặp ông chỉ một lần vào năm 1972. Lúc ấy, tôi mới học lớp 6, thường qua lại chơi với con trai Tư lệnh Lê Văn Tri. Một buổi, chúng tôi đang cầm súng cao su bắn chim, thì thấy một chú mặc quân phục, nhưng không đeo quân hàm, dáng người gầy guộc, lại gần và bảo:
- Đưa súng chú bắn thử xem nào!
Thằng Huy con bác Tri đưa súng cho chú, thế là chú nhằm con chim sâu trên cành bắn, chỉ một phát con chim rớt xuống. Tôi thán phục vô cùng, nhìn chú không chớp mắt, ấn tượng nhất với tôi lúc đó là nụ cười rất tươi, rất dễ gần của chú. Tưởng chú là bảo vệ nhà bác Tri, tôi hỏi nhỏ Huy:
- Chú ấy là ai vậy?
Huy cho tôi biết đó là chú Đặng Tính, nguyên Chính ủy kiêm Tư lệnh Quân chủng Phòng không -Không quân. Chú vào chiến trường miền Nam, thỉnh thoảng về họp. Lúc bấy giờ trong tâm trí trẻ con, tôi hơi ngạc nhiên và bất ngờ vì tên tuổi của ông thường được ba tôi, một kỹ sư Phòng khí tượng, nhắc, tôi cứ nghĩ cán bộ cấp to thế thì phải oai nghiêm, bệ vệ, chứ đâu lại gần gũi, giản dị như vậy?
... Bây giờ làm báo, tôi có dịp tiếp xúc rất nhiều tướng lĩnh trong Quân chủng Phòng không - Không quân. Các chú, các bác khi nhắc đến Chính ủy Đặng Tính đều dành những tình cảm hết sức kính phục, quý mến người Chính ủy đầu tiên của mình. Thiếu tướng Trần Văn Giang nhận xét: Chính ủy Đặng Tính là con người rất gần gũi, chan hòa với bộ đội. Ông có một sức thuyết phục đặc biệt với người đối thoại, là một chính ủy hết sức năng nổ, xông xáo, sẵn sàng đến những nơi gian khổ nhất. Trung tướng Vũ Trọng Cảnh khi nói đến Chỉnh ủy Đặng Tính thì đưa ra nhận xét: Chính ủy Đặng Tính không chỉ đức độ mà còn là một người tài năng. Chính ủy Đặng Tính rất nhạy bén, sắc sảo trên nhiều vấn đề, luôn xem xét về mặt chính trị tư tưởng và hành động của bản thân lãnh đạo, của đội ngũ cán bộ, đảng viên và của quần chúng trong việc quán triệt tư tưởng, quan điểm quân sự của Đảng. Thiếu tướng Phan Khắc Hy viết: “Chính ủy Đặng Tính là người mà tất cả chiến sĩ trong toàn Quân chủng lúc bấy giờ đều biết mặt, anh luôn sâu sát đơn vị, nắm bắt tình hình, đề ra chủ trương biện pháp kịp thời và đúng đắn. Chính ủy Đặng Tính có tính cách hiền lành, điềm đạm, dễ gần, hết sức khiêm tốn; Chính ủy Đặng Tính là người rất dân chủ, hết lòng thương yêu cán bộ, chiến sĩ cấp dưới”.
Tôi đã tìm gặp chị Đặng Mai Phương, con gái út của Chính ủy Đặng Tính tại Thành phố Hồ Chí Minh. Chị đã kể cho tôi nghe rất nhiều kỷ niệm xúc động về cha mình, chị còn giữ được rất nhiều tấm ảnh, nhiều bút tích quý giá của Chính ủy Đặng Tính. Hồi nhỏ, chị là con út nên được bố chiều hơn. Ông dạy cho chị vẽ và làm thơ. Những ngày chủ nhật rảnh rỗi, ông thường đưa chị lên Hồ Tây ngắm cảnh. Với phương pháp “Chính ủy”, ông đã khích lệ cho chị say mê vẽ từ lúc nào:
- Phương ơi! Giờ này mẹ ở nhà làm gì nhỉ?
- Chắc là đang nấu cơm, dọn dẹp, chờ bố con mình về.
- Tiếc cho mẹ không được xem cảnh Hồ Tây, không được thấy những bông sen nở. Hay bố đưa giấy cho con vẽ cảnh về tặng mẹ nhé...
Thế là chị Phương say sưa cầm bút vẽ tranh tặng mẹ. Chính ủy Đặng Tính là người rất yêu thơ và rất thích làm thơ. Ông làm rất nhanh, có khi viết ngay trên vỏ bao thuốc lá, hay góc những trang sổ tay đã dày kín công viec. Ông dạy cho con gái mình làm thơ từ thuở nhỏ. Sau này hai cha con thường xuyên viết thư cho nhau bằng thơ. Chính ủy còn một thú rất đam mê là trèo cây và bắn chim. Ông trèo cây rất cừ và bắn chim rất giỏi bằng “súng cao su” cũng như súng hơi, cho nên có lần cũng bị “phiền toái”. Ấy là lần đi công tác ở sân bay Vinh, ông xách súng đi săn, thấy bầy vịt ở hồ, ông tưởng vịt trời nên bắn. Ai dè đó là vịt của dân. Khi biết mình nhầm, ông đã tìm đến dân xin lỗi và xin được đền bù. Biết ông là Chính ủy nên dân cảm mến muốn tặng vịt, nhưng ông dứt khoát đền bằng được mới về. Ông có nhiều tài lẻ, nhờ vậy nhiều lúc lại rất được việc. Hồi kháng chiến chống Pháp, ông làm kèn lá cho trẻ con trong làng tề chơi để làm quen với chúng, qua đó nắm tình hình địch. Năm 1967, chị Phương đang học lớp 7, sơ tán ở Hưng Yên. Trước tội ác dã man của đế quốc Mỹ, thanh niên miền Bắc hăng hái tình nguyện lên đường đi bộ đội. Mới 15 tuổi, nhưng chị về nằng nặc đòi bố cho đi bộ đội. Lúc đầu ông không đồng ý, nhưng khi thấy chị nói:
- Bố mà không cho con đi, thì con đi từ chi đoàn địa phương, lúc đó bố chẳng biết con ở đơn vị nào.
Với tác phong dân chủ, ông ngồi nói chuyện với con gái hai tiếng đồng hồ. Ông hỏi chị:
- Con đi bộ đội vì động cơ nào? Nếu mà chỉ vì “phong trào” thì không nên đi.
Thấy chị trình bày lý tưởng thanh niên một cách ngọn ngành, ông gật gù:
- Bố sẽ cho con đi, nhưng bố không can thiệp vào bất cứ việc gì của con. Con phải chịu gian khổ như những người chiến sĩ khác, đừng có “khoe” con gái Chính ủy để hưởng ưu tiên.
Trước ngày khám sức khỏe, sợ bị loại vì nhẹ ký (lúc đó chị chỉ nặng có 36 ki-lô-gam) chị phải cho vào túi hơn 2 ki-lô-gam đinh. Đến chỗ cân, chị nhảy phốc lên cho kim đè xuống, rồi kiễng chân để tính chiều cao... Cô bộ đội loắt choắt, vậy mà bắn súng rất cừ. Đợt kiểm tra, chị bắn đạt 27 điểm, đạt loại giỏi. Chị mừng quá về khoe với ông, ông liền rút trong áo cuốn lịch túi của báo Phòng không - Không quân viết tặng bài thơ thưởng ngay cho con gái:
“Bố viết bài cho báo,
Báo biếu bố lịch này
Bố gửi thưởng cho con
Trong kỳ bắn đạn thật
Hai bảy điểm ba viên
Bố mong con đồng chí
Quyết tâm rèn luyện chí
Xứng Bộ đội Cụ Hồ”
Vào bộ đội, chị Phương được huấn luyện trực máy thông tin tải ba ở Sở chỉ huy Quân chủng cách nhà không xa lắm. Nỗi nhớ mẹ đến se sắt cả ruột gan, nhưng chị vẫn cố gắng chịu đựng mà không xin đơn vị cho về thăm nhà. Cuộc sống so với ở nhà hết sức gian khổ, chị cũng không hề kêu ca vì chị nhớ lời bố dặn: “Con phải phấn đấu như những người chiến sĩ khác...”.
Chính ủy Đặng Tính là người rất giữ nguyên tắc với chính người thân. Sáng mùng 1 Tết Kỷ Dậu 1969, Bác Hồ tới thăm và chúc Tết Quân chủng Phòng không - Không quân. Do công tác bảo mật nên cuộc đi thăm chỉ báo trước cho một số ít cán bộ trong quân chủng. Tất nhiên ông biết điều đó, nhưng trong bữa cơm chiều ông không hề nói cho gia đình biết. Trong nhà, mẹ chị Phương là bà Đặng Thị Mùi, công nhân Nhà máy thuốc lá Thăng Long, chị Phương có chị là Đặng Thị Nhu - kỹ sư vô tuyến điện, chị Đặng Thị Mai - cán bộ giảng dạy trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Chị Nhu và chị Phương cùng công tác tại Bộ Tư lệnh Quân chủng, nên được báo mặc quần áo quân phục chỉnh tề để sáng mùng 1 đón khách tại hội trường, nhưng cũng không biết đón khách nào. Bà hỏi, nhưng ông không nói. Đến khi ba bố con đi gặp Bác Hồ về, bà và chị Mai tiếc mãi. Cũng hôm ấy ông làm mấy câu thơ và đề nghị chị Phương làm tiếp, chị Phương không theo mạch thơ của ông được, nhưng những câu thơ thì theo chị suốt đời:
“Đồng bào ơi! Anh chị em ơi!
Vui sao chẳng nói nên lời
Mừng sao được Bác đến chơi xông nhà
Xuân này đất nước nở hoa...”
Cuối năm 1971, ông lên đường vào chiến trường, lúc đó chị Phương mới hơn 18 tuổi đang là lính thông tin Trung đoàn 26. Cả nhà toàn con gái, bà nội đã 89 tuổi. Chị Phương sợ bố lo lắng, nên đã viết bài thơ tặng bố:
“Bố đi chiến trường/ con ở hậu phương/ vẫn chung chiến hào/ vẫn là đồng chí/ cùng đi đánh Mỹ/ theo lời Bác Hồ/ Bố đi chiến trường/ đừng lo bà yếu/ đừng lo mẹ buồn/ chúng con đã lớn/ biết nghĩ cả rồi/ bố yên tâm nhé/ bố đi mạnh khỏe/ trẻ mãi không già/ vẫn vui hay đùa/ Luôn cười thường trực/ khoe cả lợi răng/ thế mà tươi đấy/ Chào bố của con/ Chào người đồng chí/ Chào nhà thi sĩ/ Vui khỏe lên đường/ khi nào hết Mỹ/ Bố về hậu phương”.
Chính ủy Đặng Tính vào Trường Sơn chiến đấu mang trong mình tình cảm gia đình, quê hương và lòng nhiệt huyết cách mạng, lạc quan yêu đời giữa bom đạn quân thù. Vào đến Trường Sơn, chỉ trong một thời gian ngắn, với tác phong sâu sát, chịu khó tìm hiểu lắng nghe, Chính ủy Đặng Tính đã cùng Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên đề xuất với Đảng ủy Bộ Tư lệnh kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm 1972 và đã cùng Bộ Tư lệnh lãnh đạo, chỉ huy đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ góp phần vào thắng lợi mặt trận Đường 9 - Trị Thiên. Ông đã sáng tác rất nhiều thơ trong giai đoạn này, tặng cho các cán bộ, chiến sĩ. Thơ của ông như những cánh hoa phong lan nở giữa Trường Sơn:
“Ta là lính Trường Sơn
Giữ tuyến đường chiến lược
Noi tấm gương của Bác
Nở đẹp cánh lan rừng”
Những vần thơ yêu đời, lạc quan đã truyền cho các chiến sĩ Trường Sơn sức mạnh, niềm tin vào chiến thắng. Và ông cũng không quên những vần thơ gửi cho các con gái:
“Bố lại làm thơ gửi các con
Thơ từ tuyến lửa đỉnh Trường Sơn
Thơ mang chất thép người cách mạng
Thép càng tôi luyện rắn bền thêm”.
Từ ngày bố vào chiến trường, chị Phương không gặp được ông nữa, vì lúc này chị đóng quân xa Hà Nội. Thỉnh thoảng Chính ủy Đặng Tính ra Hà Nội họp, ông chỉ đủ thời gian thăm mẹ và vợ hiền. Ông rất nhớ con gái, nên gửi lại bài thơ: “Từ Trường Sơn ra họp/ Chưa gặp út lần nào/ Bố bộn bề công việc/ Út lại đóng quân xa.../ Bố hẹn ngày chiến thắng/ Về gặp bộ đội con/ Lớn lên và cứng rắn!”.
Nhưng rồi Chính ủy Đặng Tính đã không thực hiện được lời hứa ấy, ông đã hy sinh anh dũng trên con đường Trường Sơn huyền thoại, song điều khát vọng của ông cũng như của toàn thể dân tộc Việt Nam là giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước đã trở thành hiện thực. Con đường Trường Sơn đã thấm máu của ông và biết bao đồng chí, đồng đội ngày ấy, giờ đây đã trở thành con đường thênh thang xuyên suốt chiều dài đất nước.
NHỮNG NGÀY ĐẦU BAN NGHIÊN CỨU SÂN BAY
Theo lời kể của Thiếu tướng Phan Khắc Hy, nguyên Chủ nhiệm Chính trị - Ban Nghiên cứu sân bay
Ngày mùng 3 tháng 3 năm 1955, tôi đang là Chính ủy của Trung đoàn 18 thì được trên điều về Ban Nghiên cứu sân bay làm Chủ nhiệm Chính trị theo đề nghị của anh Trần Quý Hai. Lúc đầu mới hình thành, Ban Nghiên cứu sân bay chỉ có chừng 100 người, do anh Trần Quý Hai - Trương ban, anh Hoàng Ngọc Diêu - Tham mưu trưởng, anh Nguyễn Vọng - Chủ nhiệm Hậu cần, tôi làm Chủ nhiệm Chính trị.
Tháng 5 năm 1955, anh Đặng Tính - nguyên Cục trưởng Cục Tác chiến về làm trưởng ban, anh Trần Quý Hai lên làm Phó Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp theo dõi, chỉ đạo hoạt động của Ban. Tháng 9 năm 1956, đồng chí Hoàng Thế Thiện được bổ nhiệm làm Chính ủy. Nhiệm vụ của Ban Nghiên cứu sân bay lúc này chủ yếu là quản lý các sân bay Gia Lâm, Cát Bi, Đồng Hới, Vinh... Tổ chức các chuyến bay hiện có và giúp Bộ Tổng Tham mưu nghiên cứu tổ chức, xây dựng lực lượng không quân. Ban Nghiên cứu sân bay trực thuộc Tổng Tham mưu trưởng, phạm vi quyền hạn tương đương cấp cục thuộc Bộ Tổng Tham mưu.
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, ngày 25 tháng 1 năm 1956, Thủ tướng Chính phủ ra nghị định thành lập Cục Hàng không dân dụng Việt Nam. Nhiệm vụ chính của Cục là tổ chức và chỉ đạo vận chuyển hàng không ở trong nước và giữa nước ta với nước ngoài về mặt dân dụng, nghiên cứu sử dụng đường hàng không phục vụ công cuộc phát triển kinh tế và văn hóa đất nước. Cục Hàng không dân dụng trực thuộc Phủ Thủ tướng. Đồng chí Đặng Tính, Trưởng ban Nghiên cứu sân bay đồng thời là Cục trưởng Cục Hàng không dân dụng. Lúc đó, Ban chúng tôi đã tổ chức thêm một số phòng như phòng thương vụ, phòng giao dịch quốc tế, phòng bán vé máy bay... để thực hiện nhiệm vụ của một cơ quan hàng không dân dụng. Bộ phận này thống nhất trang phục dân sự của ngành hàng không. Như vậy, Ban Nghiên cứu sân bay và Cục Hàng không dân dụng Việt Nam mang hai tên gọi khác nhau, nhưng thực chất một tổ chức thuộc Bộ Quốc phòng. Hình thức tổ chức và thống nhất quản lý hoạt động của không quân và hàng không dân dụng được duy trì và phát huy hiệu quả trong nhiều năm sau.
Đầu năm 1956, Trung Quốc viện trợ cho ta 5 chiếc máy bay gồm 2 chiếc Li-2 và 3 chiếc AERO.45. Ngày 26 tháng 1 năm 1956, năm chiếc máy bay hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm. Ngày 1 tháng 2 năm 1956, máy bay Hàng không Việt Nam bắt đầu thay máy bay của hàng không Pháp phục vụ Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát đình chiến hoạt động trên miền Bắc. Máy bay Li-2 là loại máy bay vận tải quân sự do Liên Xô chế tạo, tốc độ trung bình khoảng 200 kilômét/ giờ, trọng tải 2.500 kilôgam. Còn máy bay AERO.45 là máy bay thể thao du lịch do Tiệp Khắc chế tạo, chỉ có hai chỗ ngồi cho khách. Ban đầu xây dựng ngành hàng không, các loại máy bay này thích hợp với khả năng và điều kiện bảo đảm của ta.
Ngày 20 tháng 4 năm 1956, Cục Hàng không dân dụng đại diện Chính phủ Việt Nam và Bộ Hàng không dân dụng đại diện Chính phủ Trung Quốc ký hiệp định hàng không giữa hai nước. Đường bay quốc tế Bắc Kinh - Hà Nội được khai trương vào ngày 1 tháng 5 năm 1956, chiếc máy bay chở khách IL-14 cất cánh từ Bắc Kinh hạ cánh an toàn tại sân bay Gia Lâm, mở ra thời kỳ mới cho ngành Hàng không Việt Nam.
Lúc này ta chưa có máy bay, chưa có phi công và chưa có cả đội ngũ kỹ thuật hàng không. Các tổ bay Trung Quốc giúp ta thực hiện các chuyến bay. Chúng tôi tích cực nghiên cứu kế hoạch cụ thể về xây dựng không quân để trình lên Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng. Ban Nghiên cứu sân bay và Cục Cán bộ đã lựa chọn các can bộ ưu tú, có phẩm chất, năng lực, sức khỏe từ bộ binh sang học không quân. Những người văn hóa thấp được tập trung về học ba môn toán, lý, hóa ở Trường Văn hóa Quân đội. Từ tháng 3 năm 1956, Bộ Quốc phòng đưa 110 cán bộ đầu tiên của ta lên đường sang các nước bạn học tập. Đoàn học máy bay tiêm kích 50 người do anh Phạm Dưng làm đoàn trưởng, đoàn học về máy bay ném bom 30 người do anh Đào Đình Luyện làm đoàn trưởng, hai đoàn này học ở Trung Quốc. Đoàn học ở Liên Xô về máy bay vận tải quân sự gồm 30 người do anh Phạm Đình Cường làm đoàn trưởng.
Để chuẩn bị tổ chức Câu lạc bộ Hàng không Việt Nam, giữa năm 1956, ta đã cử một đoàn gồm 12 người sang Tiệp Khắc học tập về máy bay thể thao (8 người học lái và 4 người học thợ máy).
Cuối năm 1956, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Câu lạc bộ Hàng không Việt Nam tại sân bay Cát Bi - Hải Phòng, đây chính là cơ sở huấn luyện đầu tiên của Không quân và Hàng không và được mang tên trường Hàng không số 1. Tại đây, các chuyên gia Trung Quốc mở lớp đào tạo nhân viên kỹ thuật sơ cấp chuyên ngành Thông tin thì có báo vụ, máy nổ, cơ công; chuyên ngành Khí tượng thì có điện đồ, quan trắc, dự báo. Sau đó, sân bay Gia Lâm cũng được xây dựng thành trường Hàng không số 2 với các chuyên ngành vô tuyến, thiết bị hàng không, động cơ, cơ khí...
Khi mới thành lập, trường Hàng không số 1 và số 2 gặp rất nhiều khó khăn về giáo viên, tài liệu, cơ sở vật chất. Trình độ học viên cũng rất hạn chế, nhiều đồng chí trình độ văn hóa thấp. Nhưng anh em có lòng quyết tâm rất cao, kiên trì học tập, tranh thủ sự giúp đỡ của chuyên gia bạn tối đa. Tôi còn nhớ câu khẩu hiệu đề ra: “Bạn làm - ta theo, ta làm - bạn kiểm tra, cuối cùng ta độc lập”. Cán bộ, chiến sĩ Ban Nghiên cứu sân bay đã trưởng thành nhanh về trình độ chuyên môn kỹ thuật, từng bước đảm nhiệm được các công việc tổ chức, chỉ huy và bảo đảm bay. Từ cuối năm 1956, các chuyên gia bạn rút dần về nước.
Điều kiện nền kinh tế của ta lúc đó rất lạc hậu, trình độ khoa học kỹ thuật thấp, miền Bắc nước ta chưa có điều kiện xây dựng những sân bay mới. Vì vậy, trong thời kỳ đầu ta triệt để sử dụng các cơ sở hàng không, các sân bay do thực dân Pháp xây dựng. Ban Nghiên cứu sân bay đã lập các tổ đi khảo sát, đo đạc, lập các số liệu cụ thể của từng sân bay. Sau hơn một năm đã nắm được tình hình 42 sân bay trên miền Bắc, trong đó có 12 sân bay ở vùng đồng bằng, 11 sân bay vùng trung du và 19 sân bay ở vùng núi. Từ đó, có kế hoạch khôi phục đưa vào hoạt động. Tôi còn nhớ các sân bay được sử dụng những năm đó là: Gia Lâm, Cát Bi, Vinh, Đồng Hới, Đồ Sơn, Kiến An, Lạng Sơn, Nà Sản, Điện Biên, Cao Bằng...
Nhiệm vụ bay của hàng không ngày càng tăng theo yêu cầu khôi phục, phát triển kinh tế trên miền Bắc và các hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta. Hai chiếc máy bay vận tải Li-2 mang số hiệu VN197 và VN198 sau một thời gian phục vụ Ủy ban Quốc tế, giữa năm 1956 được chuyển sang làm nhiệm vụ vận chuyển hành khách và hàng hóa trên đường bay Hà Nội - Vinh - Đồng Hới và ngược lại. Từ ngày 6 tháng 7 đến ngày 30 tháng 8 năm 1957, không quân và hàng không ta đã hoàn thành xuất sắc những chuyến bay đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh và đoàn đại biểu Đảng, Nhà nước ta đi thăm chính thức tám nước xã hội chủ nghĩa.
Năm 1958, Liên Xô viện trợ cho ta 5 máy bay vận tải: 1 chiếc IL-14, 2 chiếc Li-2, 1 chiếc AN-2 và 1 chiếc trực thăng Mi4. Trong đó, 3 chiếc IL-14, AH-2, Mi4 là quà tặng của nhân dân và Chính phủ Liên Xô cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ngày 24 tháng 1 năm 1959, Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh ra Nghị định số 319/NĐ thành lập Cục Không quân trên cơ sở tổ chức và lực lượng của Ban Nghiên cứu sân bay và Cục Hàng không dân dụng trước đây. Đại tá Đặng Tính được bổ nhiệm làm Cục trưởng, Thượng tá Hoàng Thế Thiện được bổ nhiệm làm Chính ủy, tôi làm Chủ nhiệm Chính trị. Cục Không quân đảm nhiệm cả hai chức năng quân sự và dân dụng.
Ngày 1 tháng 5 năm 1959, Trung đoàn Không quân vận tải 919 tổ chức lễ thành lập tại sân bay Gia Lâm. Thiếu tướng Trần Văn Quang - đại diện Bộ Quốc phòng, Đại tá Đặng Tính - Cục trưởng Cục Không quân, đại diện Ủy ban hành chính thành phố Hà Nội và nhiều cơ quan, ban ngành khác đến dự; tôi cùng nhiều đồng chí cán bộ trong Cục Không quân cũng được tham dự chứng kiến sự ra đời của Đoàn bay 919. Ngày 1 tháng 5 trở thành ngày truyền thống hàng năm của Trung đoàn Không quân vận tải 919. Bên cạnh việc sửa chữa lại các sân bay cũ của Pháp, chúng tôi cũng bắt đầu khảo sát việc xây dựng sân bay Nội Bài. Tôi đã cùng anh Hoàng Ngọc Diêu - Tham mưu trưởng Cục Không quân, kiến trúc sư Đào Hữu Lưu - Trưởng phòng kiến trúc và một số đồng chí khác của Ban Nghiên cứu sân bay được giao nhiệm vụ xây dựng phương án xây dựng sân bay Nội Bài.
Như vậy, Ban Nghiên cứu sân bay chỉ tồn tại gần bốn năm, nhưng nó đã đánh dấu sự ra đời của Không quân và ngành Hàng không Việt Nam. Từ không có máy bay, ngành Hàng không và Không quân ta đã có 10 máy bay vận tải các loại. Đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật hàng không và những cơ sở vật chất đầu tiên của ngành hàng không và không quân hình thành. Tôi nhớ mãi lời Bác Hồ căn dặn tổ bay và các chiến sĩ Ban Nghiên cứu sân bay vào mùa thu năm 1957 tại sân bay Vinh, khi chiếc Li-2 số hiệu VN 198 đưa Người về thăm quê, sau hơn 50 năm xa cách:
“Bây giờ nước ta còn nghèo, nhân dân ta còn khó khăn, Đảng và Nhà nước ta còn nhiều việc phải lo. Sau này đất nước ta chắc chắn sẽ có những sân bay, máy bay hiện đại. Hàng không Việt Nam sẽ phát triển... Các chú phải cố gắng học tập, nắm vững khoa học kỹ thuật...”. Lời Bác dặn luôn đi theo tôi suốt cả cuộc đời.
(còn tiếp)
Nguồn: Thắng B52 trên bầu trời Hà Nội. Tập Ký của Đoàn Hoài Trung. NXB Quân đội Nhân dân, 2012. Cảm ơn nhà văn Đoàn Hoài Trung đã gửi tác phẩm tới www.trieuxuan.info!