31.12.2012
Đoàn Hoài Trung
Thắng B52 trên bầu trời Hà Nội (2)

Ý CHÍ QUYẾT THẮNG


Theo lời kể của Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu, nguyên Phó chính ủy Quân chủng PKKQ


 


Tôi tham gia cách mạng từ năm 1939 và gia nhập quân đội năm 1946. Khi bước vào bộ đội, tôi đã từng làm Chính trị viên trung đội, rồi Chính trị viên đại đội, tiểu đoàn ở đơn vị bộ binh tham gia chiến đấu khi chống Pháp, rồi làm Chính ủy trung đoàn... Cả cuộc đời quân ngũ của tôi làm công tác đảng, công tác chính trị. Tôi đã được tham dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III năm 1960 và sau này một số lần dự Đại hội Đảng toàn quốc và Đại hội Đảng toàn quân, nhưng đại hội Đảng trong Quân chủng các lần để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc nhất là Đại hội đại biểu Quân chủng Phòng không - Không quân lần thứ nhất. Một đại hội thể hiện ý chí quyết tâm chiến đấu và chiến thắng của những cán bộ, đảng viên, chiến sĩ toàn Quân chủng giữa khói lửa của cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc.

Sau khi hợp nhất thành Quân chủng Phòng không - Không quân vào ngày 22 tháng 10 năm 1963, Đảng ủy Quân chủng cũng được thành lập trên cơ sở Đảng ủy Bộ Tư lệnh Phòng không và Đảng ủy Cục Không quân được Quân ủy Trung ương quyết định. Việc hợp nhất hai lực lượng đòi hỏi phải tổ chức đại hội Đảng bộ để củng cố tổ chức và nâng cao sức mạnh lãnh đạo của Đảng thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ đối với Quân chủng. Ngày 5 tháng 8 năm 1964, đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Một số ý kiến cho rằng tiến hành đại hội Đảng các cấp thời điểm đó sẽ ảnh hưởng đến chiến đấu, nhưng Đảng ủy Quân chủng vẫn thống nhất cao, muốn hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu thì phải tiến hành đại hội từ cơ sở. Thế là giữa những đợt đánh phá ác liệt, các đơn vị đã tiến hành đại hội Đảng. Bắt đầu từ ngày 25 tháng 9 năm 1964 đến ngày 18 tháng 10 năm 1964, có 37 lượt đại hội đại biểu các cấp trong đó có cả đại hội cấp trung đoàn, sư đoàn và binh chủng ra đa, không quân, tên lửa với 5.904 đại biểu tham dự. Với cương vị là Phó Bí thư Đảng ủy Quân chủng, tôi đã tham dự nhiều đại hội từ cơ sở đến cấp trên cơ sở. Đây thực sự là một cuộc sinh hoạt chính trị sâu rộng trong Đảng bộ Quân chủng, đã phát huy dân chủ, trí tuệ của đảng viên, tìm, hiến kế đối với nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, cũng như xây dựng Đảng về tư tưởng, tổ chức rất sâu sắc, với ý thức trách nhiệm và đề cao đấu tranh tự phê bình và phê bình. Khí thế của các đảng viên tham dự đại hội rất phấn khởi, thể hiện ý chí quyết tâm khắc phục khó khăn vượt qua gian khổ hy sinh, tin tưởng vào khả năng chiến đấu và chiến thắng, hoàn thành mọi nhiệm vụ của đơn vị. Có những Đảng bộ đang đại hội thì địch đến đánh phá, phải tạm dừng lại để chiến đấu, khi giặc rút chạy lại tiếp tục tiến hành đại hội. Sau khi Đại hội Đảng các cấp hoàn thành, dự kiến Đại hội đại biểu Quân chủng Phòng không - Không quân được tổ chức vào cuối năm 1964, nhưng do cuộc chiến đấu diễn ra ngày càng ác liệt, phức tạp, nên phải tạm hoãn đến đầu năm 1971 mới tiến hành đại hội.


Để chuẩn bị báo cáo chính trị trước đại hội Đảng, được cấp ủy phân công, anh Đặng Tính và tôi cùng cơ quan tổ chức chuẩn bị từ tháng 9 năm 1964 xây dựng đề án trình bày ba lần trước Đảng ủy; trong báo cáo đánh giá toàn diện các mặt chiến đấu, xây dựng và công tác lãnh đạo, mọi mặt về tư tưởng và tổ chức, công tác phát triển Đảng, đào tạo, rèn luyện xây dựng đội ngũ cán bộ, công tác lãnh đạo khoa học, kỹ thuật, cổ vũ thắng lợi trong chiến đấu về hiệu suất tiêu diệt máy bay Mỹ, bắt sống giặc lái, bảo vệ mục tiêu. Đại hội tổng kết suốt bảy năm xây dựng và chiến đấu của Quân chủng từ tháng 10 năm 1963 đến tháng 10 năm 1970, khẳng định về sức mạnh chiến đấu và sự phát triển của Quân chủng về mọi mặt, đã quán triệt đường lối, tư tưởng quân sự của Đảng vào xây dựng tác chiến của lực lượng Phòng không - Không quân; nhiều quan điểm chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của Mỹ đối với miền Bắc như: tư tưởng chỉ đạo tác chiến, tích cực tiêu diệt địch bảo vệ mục tiêu, tinh thần dám đánh và biết đánh thắng; đánh thắng từ trận đầu, đánh thắng liên tục, v.v... Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân chủng có trang bị hiện đại, vai trò chính trị tinh thần, yếu tố con người làm chủ vũ khí trang bị, v.v... Trong lãnh đạo đề cao ý thức tập thể, đồng thời phát huy trách nhiệm của cá nhân; xác định rõ nhiệm vụ trung tâm là huấn luyện và chiến đấu mà nổi lên hàng đầu là chỉ đạo về công tác xây dựng Đảng. Qua đại hội, cấp ủy được kiện toàn và soạn thảo về chế độ công tác của cấp ủy, xây dựng chi bộ “bốn tốt”, kết nạp được 1.374 quần chúng ưu tú vào Đảng.


Trong phần phương hướng báo cáo nêu rõ, trước mắt phải đánh bại các đợt đánh phá của địch khi chúng đánh trở lại miền Bắc, tích cực chuẩn bị sẵn sàng đánh bại các cuộc tập kích đường không của đế quốc Mỹ kể cả chúng sử dụng B52 đánh vào Thủ đô Hà Nội, không để bị động, bất ngờ và đánh thắng từ trận đầu. Bảo vệ mục tiêu, bảo vệ nhân dân, bảo vệ giao thông chiến lược, tham gia tác chiến cùng binh chủng hợp thành, chiến đấu giải phóng miền Nam, làm nhiệm vụ quốc tế, v.v...


Anh Đặng Tính và tôi rất tâm đắc việc phát huy triệt để vai trò chức năng hiệu lực lãnh đạo của Đảng bộ, cấp ủy, chi bộ và ý thức trách nhiệm của toàn thể đảng viên cũng như tổ chức Đảng trong Quân chủng, đồng thời đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng chi bộ “bốn tốt”. Sau khi xây dựng xong bản báo cáo chính trị, đưa ra cấp ủy bàn bạc dân chủ, rồi lên báo cáo với các đồng chí Phạm Ngọc Mậu và đồng chí Song Hào trên Tổng cục Chính trị và báo cáo lên Quân ủy Trung ương phê duyệt.


Từ ngày 16-18 tháng 1 năm 1971, Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân chủng lần thứ nhất được tổ chức trọng thể. Tổng số đại biểu tham gia đại hội gồm 135 đồng chí, trong đó có hai đại biểu của Đảng bộ Trung đoàn 241 do Đảng ủy Quân chủng chỉ định; bốn đại biểu do Đảng ủy Quân chủng giới thiệu về đại biểu do đại hội cấp sư đoàn và tương đương bầu; bốn đại biểu được bầu bổ sung. Đại hội vinh dự được đón đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp và đồng chí Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị xuống dự. Đại tướng Võ Nguyên Giáp phát biểu, động viên và chỉ thị một số nội dung về nhiệm vụ chiến đấu sắp tới để đại hội bàn bạc, thảo luận trong đó nhấn mạnh, Quân chủng phải chuẩn bị mọi mặt để đánh lại cuộc tập kích đường không chiến lược nếu Mỹ gây ra đối với miền Bắc, Quân chủng phải đảm bảo đánh thắng để thực hiện Di chúc của Bác Hồ.


Trong đại hội thể hiện một không khí phấn khởi, rất nhiều ý kiến đóng góp phân tích làm rõ nội dung bản báo cáo chính trị và bổ sung làm sáng tỏ những chỗ mạnh, yếu được nêu trong báo cáo. Đặc biệt, đại hội sôi nổi thảo luận về thực hiện sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi ngay từ trận đầu khi kẻ địch liều lĩnh tập kích đường không chiến lược bằng các loại máy bay vào Hà Nội kể cả máy bay B52; biện pháp và cảnh giác phát hiện được địch từ xa không bị bất ngờ, lỡ thời cơ tiêu diệt địch. Trong phần đánh địch gây nhiễu, đại biểu thảo luận sôi nổi trong hội trường cũng như khi giải lao. Không chỉ bàn về nhiệm vụ của Quân chủng, đại hội còn tham gia những vấn đề chung của toàn Đảng như mối quan hệ giữa phát triển công nghiệp với nông nghiệp phải được coi trọng để giải quyết vấn đề lương thực cho nhân dân và nuôi quân để kháng chiến lâu dài. Toàn Đảng bộ đã thể hiện quyết tâm rất cao, quyết tâm chiến đấu và chiến thắng đế quốc Mỹ xâm lược. Trong giai đoạn gay go quyết liệt, phức tạp nhất, có thể nói đây là đại hội của ý chí quyết chiến quyết thắng.


Một phần quan trọng trong chương trình là đại hội phải lựa chọn những đồng chí đủ tiêu chuẩn bầu vào cấp ủy. Đại hội đã bầu 13 đồng chí vào Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ 1971-1976. Đồng chí Đặng Tính làm Bí thư, tôi làm Phó bí thư, đồng chí Lê Văn Tri là Ủy viên Thường vụ.


NHỚ LẠI NHỮNG NĂM ĐẦU HỢP NHẤT QUÂN CHỦNG PKKQ.


Theo lời kể của Trung tướng Vũ Trọng Cảnh, nguyên Trưởng phòng tổ chức Quân chủng  PKKQ


 Hội nghị Quân ủy Trung ương tháng 3 năm 1961 đã nhận định: “Tình hình có những chuyển biến mới, yêu cầu nhiệm vụ cách mạng và nhiệm vụ quân sự cao hơn trước”. Lúc này, đế quốc Mỹ đã chuyển sang thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nam, tăng cường các hoạt động do thám, tung biệt kích phá hoại miền Bắc, ngăn chặn chi viện lực lượng và vật chất từ miền Bắc vào miền Nam. Quân ủy Trung ương quyết định tranh thủ thời gian miền Bắc còn hòa bình, đẩy nhanh tốc độ và nâng cao chất lượng xây dựng quân đội trong kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ hai (1961-1965).


Tháng 7 năm 1962, Đại hội đại biểu Đảng bộ Phòng không lần thứ hai đã xác định phương hướng trong thời gian tới: “... không ngừng nâng cao sức chiến đấu toàn diện, vững chắc trong mọi tình huống, kiên quyết giành thắng lợi ngay từ trận đầu, đánh bại mọi cuộc tấn công của không quân địch, bảo vệ an toàn mục tiêu, chủ động, tích cực cơ động đánh địch, sẵn sàng chuyển từ hòa bình sang chiến tranh, đồng thời chú trọng bảo vệ mặt đất”. Đại hội đã bầu ra Ban chấp hành Đảng bộ Phòng không gồm 13 đồng chí chính thức. Chính ủy Đoàn Phụng làm Bí thư, Chủ nhiệm Chính trị Nguyễn Xuân Mậu làm Phó bí thư. Các ủy viên thường vụ gồm các đồng chí: Tư lệnh phó Lê Văn Tri, Tham mưu trưởng Nguyễn Quang Bích, Phó Chủ nhiệm Chính trị Phạm Đăng Ty. Các ủy viên chính thức gồm các đồng chí: Chính ủy Trung đoàn 280 Hoàng Văn Ngữ, Chính ủy Trung đoàn 210 Lương Tý, Chính ủy Trung đoàn 214 Phạm Sóng, Trưởng phòng cao xạ Đỗ Văn Loan, Chính ủy Trung đoàn 292 Nguyễn Thanh Liêm, Chính ủy Trung đoàn 250 Nguyễn Văn Giáp, Chính ủy Hậu cần Phạm Hương và tôi - Trưởng ban tổ chức binh chủng. Tôi thường xuyên được gần gũi các đồng chí chính ủy, chủ nhiệm chính trị để chắp bút xây dựng nghị quyết cho Đảng ủy binh chủng. Tôi nhớ mãi Nghị quyết số 2512/ĐU của Đảng ủy bộ đội Phòng không ngày 20 tháng 11 năm 1962, về nhiệm vụ tác chiến năm 1963 và tình huống 1. Ngay từ lúc đó, Binh chủng đã dự kiến: “Địch vẫn tiến hành trinh sát chiến lược, chiến thuật và tăng cường thả biệt kích, âm mưu đánh ra nam Quân khu 4... Hướng hoạt động chủ yếu là đông nam, tây nam, thời gian hoạt động ngày và đêm, lực lượng huy động có thể trên dưới 200 chiếc máy bay địch...”. Từ đó, Đảng ủy đề ra sáu nhiệm vụ trong tổ chức tác chiến.


Đầu năm 1963, trước những hành động khiêu khích ngày càng tăng của đế quốc Mỹ với miền Bắc, Quân ủy Trung ương dự định hợp nhất hai lực lượng phòng không và không quân thành một quân chủng để tập trung lực lượng, thống nhất chỉ huy, nâng cao sức mạnh chiến đấu bảo vệ vùng trời miền Bắc. Ngày 29 tháng 4 năm 1963, Đảng ủy bộ đội Phòng không tổ chức hội nghị để bàn bạc, góp ý kiến xung quanh vấn đề: Hợp nhất thì thuận lợi, khó khăn gì? Hợp nhất thì tổ chức như thế nào? Tôi còn nhớ không khí buổi thảo luận rất sôi nổi. Mọi người đều tán thành hợp nhất để hoàn chỉnh hơn cả không quân và phòng không, phù hợp với một nước nhỏ và tạo ra được thế trận đất đối không mạnh hơn. Tuy nhiên, về mặt lãnh đạo, chỉ huy không phải không lo lắng, nhất là về mặt chính trị tư tưởng, làm sao ban đầu hợp nhất tạo ra một không khí làm việc đoàn kết, thống nhất từ trên xuống dưới, từ trong Đảng xuống các đơn vị, làm sao cho guồng máy của cả cơ quan Bộ Tư lệnh vận hành thông suốt, giữ được thế sẵn sàng chiến đấu nghiêm túc nhịp nhàng từ Sở chỉ huy Quân chủng đến các đơn vị bảo vệ yếu địa các sân bay và mạng ra đa toàn quốc để khỏi bị bất ngờ. Cũng như việc tổ chức chỉ huy hiệp đồng tác chiến giữa không quân, phòng không và với địa phương trên từng vùng trời yếu địa.


Một vấn đề quan trọng là, lúc đó hầu như không có ai bộc lộ suy nghĩ về việc hợp nhất Phòng không - Không quân mình sẽ là phó hay là trưởng ở cơ quan này hay cơ quan nọ, mà chỉ tập trung vào việc xây dựng cơ quan mạnh về tư tưởng, năng lực, tác phong công tác cho đồng nhất, giúp lãnh đạo chỉ huy tốt hơn.


Ngày 16 tháng 10 năm 1963, Tổng Tham mưu phó Lê Đức Anh chủ trì cuộc họp để chuẩn bị hợp nhất Bộ Tư lệnh Phòng không và Cục Không quân. Thành phần tham dự có các đại diện của Bộ Tư lệnh Phòng không, Cục Không quân và cơ quan chủ chốt của Bộ Quốc phòng. Trước buổi họp, tôi vui mừng được gặp lại anh Đặng Tính - Cục trưởng Cục Không quân. Thấy tôi, anh chủ động xiết chặt tay tôi cười vui vẻ:


- Thế là chúng mình lại sắp được công tác cùng nhau rồi nhé!


Anh Đặng Tính đã là thủ trưởng của tôi từ những năm kháng chiến chống Pháp. Với cương vị Chính ủy Khu Tả Ngạn anh đã đến thăm đơn vị tôi, lúc ấy đơn vị đang chiến đấu độc lập ở Hải Dương. Anh có phong cách lãnh đạo khiêm nhường, tôn trọng tập thể, lắng nghe ý kiến mọi người. Thái độ cởi mở của anh đã làm không khí buổi họp trở nên thân mật, nhiều ý kiến mang tính xây dựng được phát biểu trong hội nghị. Sau khi hội nghị trao đổi, đồng chí Lê Đức Anh kết luận: “Tên gọi hai đơn vị sau khi hợp nhất là Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân; Chức trách, nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân vẫn như hai đơn vị trước...”. Đồng chí cũng nêu rõ phương pháp tiến hành hợp nhất: “Trước hết phải có Đảng ủy thống nhất để lãnh đạo chỉ huy việc hợp nhất...”. Sau này tôi được biết: tên gọi “Quân chủng Phòng không - Không quân” chính là do Bác Hồ đặt, Bác dùng gạch ngang ở giữa là ý nói cả hai lực lượng đều quan trọng như nhau.


Ngày 22 tháng 10 năm 1963, Quân chủng Phòng không - Không quân chính thức được thành lập. Đại tá Phùng Thế Tài - nguyên Tư lệnh Binh chủng Phòng không được bổ nhiệm làm Tư lệnh, Đại tá Đặng Tính - nguyên Cục trưởng Cục Không quân được bổ nhiệm làm Chính ủy Quân chủng Phòng không - Không quân. Vào thời điểm hợp nhất, Quân chủng Phòng không - Không quân có ba lực lượng chính là pháo cao xạ, ra đa và không quân. Lực lượng pháo cao xạ có 11 trung đoàn, 2 tiểu đoàn, gồm 72 đại đội chiến đấu, sử dụng các loại pháo cỡ 37mm đến 100mm. Lực lượng ra đa có 3 trung đoàn gồm 18 đại đội quan sát bằng khí tài và 3 đại đội quan sát mắt. Lực lượng không quân có 1 Trung đoàn không quân vận tải 919, Trung đoàn huấn luyện 910 và Trung đoàn Không quân tiêm kích 921, gồm 3 Đại đội máy bay MiG-17A đang học tập ở nước ngoài. Ngay sau khi thành lập, đồng chí Tư lệnh và Chính ủy Quân chủng đã được gặp Bác Hồ, báo cáo tình hình và xin chỉ thị về chủ trương xây dựng lực lượng Phòng không - Không quân.


Ngày 3 và 4 tháng 12 năm 1963, Đảng ủy Phòng không - Không quân họp bầu Ban Thường vụ, Phó bí thư và Ủy ban Kiểm tra của Đảng ủy dưới sự chủ trì của đồng chí Đặng Tính. Bảy đồng chí trúng cử Ban Thường vụ Đảng ủy gồm Chính ủy Đặng Tính, Tư lệnh Phùng Thế Tài, Chủ nhiệm Chính trị Nguyễn Xuân Mậu, Phó Tư lệnh Lê Văn Tri, Phó Tư lệnh Nguyễn Văn Tiên, Tham mưu trưởng Nguyễn Quang Bích, Phó Chủ nhiệm Chính trị Phạm Đăng Ty. Đồng chí Nguyễn Xuân Mậu trúng cử Phó bí thư Đảng ủy. Các đồng chí Nguyễn Xuân Mậu, Nguyễn Đắc Thái, Nông Đức Chiến, Hồ Văn Luật và tôi trúng cử vào Ủy ban Kiểm tra của Đảng ủy do đồng chí Nguyễn Xuân Mậu làm Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra. Hơn một tháng sau, ngày 13 tháng 1 năm 1964, Đảng ủy Quân chủng họp phiên đầu tiên, xác định nhiệm vụ Quân chủng trong tình hình mới là: “Xây dựng Quân chủng Phòng không - Không quân cách mạng, tiến lên chính quy, hiện đại phù hợp với khả năng của ta, nâng cao khả năng cơ động chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, tích cực khắc phục khó khăn, tiêu diệt máy bay địch, bảo vệ vùng trời miền Bắc, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống”. Về nhiệm vụ tác chiến, căn cứ vào nhiệm vụ của Bộ giao, Đảng ủy quyết định hoàn chỉnh kế hoạch bảo vệ vùng trời miền Bắc, tích cực tiêu diệt các loại máy bay địch xâm phạm vùng trời miền Bắc; bảo vệ các yếu địa quan trọng, chủ yếu là Thủ đô Hà Nội; sẵn sàng sử dụng lực lượng pháo phòng không dự bị và một bộ phận không quân vận tải để sử dụng khi có tình huống xảy ra theo lệnh của Bộ Quốc phòng.


Ngày ấy, tuy là hai lực lượng hợp nhất lại, nhưng Đảng ủy Quân chủng luôn đoàn kết, nhất trí cao trong những chủ trương, biện pháp lãnh đạo. Nhìn vào cơ cấu thành phần Đảng ủy hợp nhất, gồm những đồng chí tiêu biểu ở các binh chủng, cơ quan, đơn vị của phòng không và không quân tham gia, những đồng chí đã trải qua cuộc kháng chiến chống Pháp trên các chiến trường Trung, Nam, Bắc dày dạn trong chiến đấu; đặc biệt, một số đồng chí được học ở Liên Xô, Trung Quốc từng tham gia đánh máy bay Pháp tại mặt trận Điện Biên Phủ, có đồng chí vào Đảng cộng sản Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Tôi cũng như cán bộ, chiến sĩ trong toàn Quân chủng rất tin tưởng vào bản lĩnh, trí tuệ cơ quan lãnh đạo của Quân chủng, sẽ dẫn dắt Quân chủng vượt qua những khó khăn ban đầu, chuẩn bị cho một cuộc đối đầu lịch sử với không quân đế quốc Mỹ, bảo vệ bầu trời miền Bắc xã hội chủ nghĩa, trọng điểm là Hà Nội và Hải Phòng. Đặc biệt, Bí thư Đảng ủy Đặng Tính là hạt nhân lãnh đạo tiêu biểu của tập thể Đảng ủy ngay từ ngày đầu hợp nhất cho đến những năm tháng chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc. Anh có khả năng đoàn kết tập hợp, gần gũi mọi người, sâu sát cơ sở, tìm hiểu thực tế, có sức cuốn hút mọi đảng viên có cùng một ý chí, một quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, dù nhiệm vụ đó sẽ gặp muôn vàn khó khăn. Anh đã cùng tập thể Đảng ủy và Tư lệnh Phùng Thế Tài, người chỉ huy kiên quyết thẳng thắn mà chân tình, kết tinh trí thông minh, óc sáng tạo, ý chí kiên cường của đội ngũ cán bộ chỉ huy, cán bộ chính trị, khoa học kỹ thuật, hậu cần của quần chúng chiến sĩ đã làm nở rộ những bông hoa người tốt việc tốt, những chiến công xuất sắc, những trung đoàn mạnh, những chi bộ “bốn tốt”, những đơn vị anh hùng và các cá nhân anh hùng không quân, tên lửa, ra đa, cao xạ, kỹ thuật.


Tập thể Đảng ủy Quân chủng hết sức coi trọng công tác đảng, công tác chính trị, mặc dù miền Bắc lúc này đang là thời chiến, nhưng giữa những trận đánh, các chi bộ, các Đảng bộ vẫn tổ chức đại hội Đảng nhiệm kỳ đúng quy định. Ngay trong năm 1965, khi cuộc chiến đấu đang diễn ra quyết liệt, Thường vụ Đảng ủy nắm thời cơ, cho triệu tập hội nghị Bí thư chi bộ đại đội toàn Quân chủng để tổng kết xây dựng chi bộ “bốn tốt” trong chiến đấu liên tục ngay tại trường Đảng Lê Hồng Phong đường Láng - Hà Nội. Hội nghị đã rút ra bài học lớn: “Chiến đấu liên tục là điều kiện xây dựng Đảng để lãnh đạo đơn vị càng đánh càng mạnh, càng chiến thắng”. Cũng từ sau hội nghị này, cuộc vận động xây dựng chi bộ “bốn tốt” ở các đại đội cao xạ, tên lửa, ra đa được đẩy mạnh qua việc học tập kinh nghiệm của các chi bộ: “bốn tốt”, số lượng chi bộ đạt “bốn tốt” ngày càng tăng, nền nếp chế độ sinh hoạt Đảng được duy trì trong mọi tình huống, trong chiến đấu liên tục ác liệt không một đảng viên nào bỏ vị trí chiến đấu.


Rút kinh nghiệm từ cuộc vận động xây dựng chi bộ “bốn tốt”, Đảng ủy Quân chủng quyết định tiến lên mở cuộc vận động xây dựng trung đoàn vững mạnh để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ủy Trung đoàn trong hoàn cảnh vừa chiến đấu vừa xây dựng, thông qua chiến đấu để xây dựng. Đặc biệt, một sự kiện rất lớn về công tác xây dựng Đảng của Quân chủng là ngay trong và sau cuộc chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, Đảng ủy Quân chủng đã tranh thủ thời cơ triệu tập được hai đại hội đại biểu Đảng bộ Quân chủng tại Bạch Mai để tổng kết công tác lãnh đạo thực hiện vai trò làm nòng cốt trong chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ và thực hiện ba nhiệm vụ tác chiến có ý nghĩa chiến lược, đồng thời bầu Ban chấp hành Đảng bộ Quân chủng, đánh dấu các mốc lớn trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng Quân chủng.


Giờ đây hồi tưởng lại những thuận lợi và khó khăn của những năm tháng sống, chiến đấu ở Quân chủng Phòng không - Không quân, với những chiến công bắn rơi hàng ngàn máy bay phản lực Mỹ, bắt sống nhiều giặc lái, nhất là trong bối cảnh hiện nay tôi càng thấm thía giá trị, tầm vóc lịch sử của chiến thắng, vai trò của Đảng ủy Quân chủng và Đảng ủy các cấp, các chi bộ Đảng và phẩm chất tài năng của các cán bộ chỉ huy các cấp một lòng, một dạ tất cả để đánh thắng trận đầu; dám đánh, biết đánh và đánh thắng. 


 HỒ CHÍ MINH - NIỀM TIN VÀ SỨC MẠNH CHIẾN THẮNG B52


Theo lời kể của Thượng tướng Phùng Thế Tài


Thượng tướng Phùng Thế Tài, nguyên Tư lệnh đầu tiên của Quân chủng Phòng không - Không quân. Trong những ngày diễn ra trận “Điện Biên Phủ trên không”, ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng đặc trách cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ra miền Bắc. Tôi đã từng trò chuyện với Thượng tướng về trận chiến trên không vào tháng 12 năm 1972.


Mặc dù tuổi đã cao nhưng phong cách của Thượng tướng Phùng Thế Tài vẫn toát lên vẻ uy nghiêm khi tiếp chuyện với tôi. Mở đầu câu chuyện, tôi hỏi ông:

- Thưa bác, bác có thể cho cháu biết suy nghĩ của mình về “chiến thắng Điện Biên Phủ trên không” năm 1972?


 Thượng tướng trả lời dứt khoát:


- Trước hết phải kể đến đó là công lao của Đảng và Bác Hồ - vị lãnh tụ tài ba có tầm nhìn xa, trông rộng, sớm phán đoán có một ngày máy bay B52 sẽ ra Hà Nội và sẽ bị trừng trị đích đáng tại đây.


Nói đến Bác Hồ, mắt vị tướng già bỗng ngấn lệ. Một vị tướng mà tên tuổi đã từng gắn liền với những chiến công vào sinh ra tử, nhưng khi nhớ tới Bác, như nhớ đến người cha, ông vẫn không kìm nén được xúc động. Ông bồi hồi nhớ lại: Năm 1962, tôi được bổ nhiệm làm Tư lệnh Bộ đội Phòng không. Trước khi nhận nhiệm vụ mới, tôi được Bác gọi lên. Được theo bảo vệ cho Bác Hồ từ trước Cách mạng Tháng Tám, nhưng mỗi lần gặp Bác, tôi vẫn luôn hồi hộp. Bác dặn dò một vài điều như người cha căn dặn con. Trước khi giao trọng trách, Bác đã hỏi tôi:


- Bây giờ chú là Tư lệnh Phòng không, vậy chú đã biết gì về B52 chưa?


Nghe Bác hỏi mà tôi cứ ngớ người ra. Không ngờ Bác lại hỏi về loại máy bay này. Tôi thành thật thưa:


- Dạ thưa bác, cháu chưa biết gì về B52...


Thấy tôi ấp úng, Bác cười độ lượng:


- Bác hỏi thế thôi chứ chú có biết cũng chưa làm gì được nó. Nó bay cao trên 10 cây số mà trong tay chú hiện nay mới chỉ có cao xạ thôi. Nhưng ngay từ hôm nay, là Tư lệnh Bộ đội Phòng không, chú phải theo dõi chặt chẽ và thường xuyên quan tâm đến loại máy bay B52.


Nhận được ý kiến chỉ đạo của Bác, từ đó tôi để tâm nghiên cứu loại máy bay này. Tôi chỉ thị cho cơ quan tác chiến, quân báo bằng mọi cách thu thập toàn bộ tính năng, tác dụng của loại pháo đài bay này. Khi nghe anh em báo cáo tính năng kỹ, chiến thuật của B52 có thể hoạt động trong điều kiện thời tiết phức tạp, ném bom ở độ cao trên dưới 10.000 mét. Mỗi máy bay có 15 máy gây nhiễu tích cực, hai máy gây nhiễu tiêu cực bằng sợi kim loại. Với trang bị vũ khí và trình độ kỹ thuật của quân đội ta, đánh B52 lúc này quả là một việc không dễ dàng. Đánh thế nào đây là điều mà tôi cứ trăn trở, suy nghĩ mãi.


Tháng 10 năm 1963, Bộ đội Phòng không và Cục Không quân có quyết định hợp nhất lại thành Quân chủng Phòng không - Không quân. Tôi được bổ nhiệm làm Tư lệnh đầu tiên của Quân chủng. Đồng chí Đặng Tính - nguyên Cục trưởng Cục Không quân được bổ nhiệm làm Chính ủy Quân chủng. Nhưng thực tế không quân ta lúc ấy còn rất mỏng, chỉ có một đơn vị máy bay vận tải, còn một trung đoàn MiG-17 đang huấn luyện ở nước ngoài chưa về.


Ngay từ ngày ấy, một câu hỏi luôn luôn hiện trong đầu tôi, ngay cả trong giấc ngủ: “Làm thế nào để đánh B52, nếu B52 vào Hà Nội thì sẽ ra sao?”.


Cuộc tiến công quy mô lớn đầu tiên của không quân Mỹ vào miền Bắc ngày 5 tháng 8 năm 1964, được Mỹ đặt tên là “Mũi tên xuyên”, 64 lần/ chiếc máy bay của hải quân Mỹ từ hai tàu sân bay ngoài khơi lao vào đánh phá khu vực Bến Thủy (Nghệ An), Lạch Trường (Thanh Hóa), Hòn Gai và Cảng Gianh (Quảng Bình). Nhưng đế quốc Mỹ đã bị một thất bại lớn, vô cùng bất ngờ và choáng váng. Tám trên tổng số 64 lần chiec máy bay cất cánh, tức 12% số máy bay được huy động vào một trận đánh đã bị bắn rơi, một số chiếc khác bị trúng đạn, ta bắt được một giặc lái. Tôi đã chỉ thị cho khai thác tên giặc lái này về tính năng tác dụng của B52.


Cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam ngày càng trở nên quyết liệt bởi sự leo thang của đế quốc Mỹ. Quân và dân miền Nam càng đánh càng mạnh. Tư lệnh quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam Oét-mo-len đã khẩn khoản đề nghị Bộ trưởng Quốc phòng Mắc-Na-ma-ra cho sử dụng máy bay ném bom chiến lược B52 hòng cứu vãn tình thế. Ngày 18 tháng 6 năm 1965, Mỹ cho 30 chiếc B52 thực hiện cuộc oanh tạc đầu tiên vào khu Bến Cát, tây bắc Sài Gòn, đây cũng là trận ném bom rải thảm đầu tiên trên thế giới. Kể từ đó cường độ hoạt động của máy bay B52 ngày một tăng. Để đối phó với tình hình đó, ta đã thành lập trung đoàn tên lửa phòng không SAM 2.


Bác Hồ rất quan tâm đến điều này, bởi SAM 2 chính là đối thủ của B52, là vũ khí mà chúng ta có trong tay để trừng trị B52. Chỉ một tháng sau ngày Mỹ đưa B52 vào miền Nam, ngày 19 tháng 7 năm 1965, Bác Hồ đã đến thăm Quân chủng Phòng không - Không quân, nhân dịp bộ đội tên lửa chuẩn bị ra quân đánh Mỹ trận đầu. Bác Hồ đã huấn thị: “Dù đế quốc Mỹ lắm súng, nhiều tiền, dù chúng có B57, B52 hay “Bê” gì đi chăng nữa, ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”. Tôi cùng anh Đặng Tính đứng cạnh Bác nghe rõ ràng trọn vẹn câu nói lịch sử của Bác về B52 mà sau này thành điều tâm niệm, lời thề sắt son của bộ đội Phòng không - Không quân, đặc biệt là của cán bộ, chiến sĩ bộ đội tên lửa.


Nhiều năm đã trôi qua, cùng với thời gian, tầm vóc chiến thắng vĩ đại của trận “Điện Biên Phủ trên không” càng vươn cao, càng chói lọi. Nhưng có được chiến công ấy phải nhắc đến Trung đoàn 238, trung đoàn tên lửa thứ hai của quân đội ta được giao nhiệm vụ vào Vĩnh Linh tìm cách đánh B52. Tôi nhớ mãi khi tôi báo cáo suy nghĩ đưa tên lửa vào đánh B52 ở Vĩnh Linh, Bác Hồ trầm ngâm suy nghĩ một lúc rồi trả lời: “Đúng, muốn bắt cọp thì phải vào tận hang...”.


Xuất phát từ tháng 4 mà đến cuối năm 1966 đầu năm 1967, các tiểu đoàn hỏa lực mới vào tới Vĩnh Linh, nhưng cả bốn tiểu đoàn đều bị địch đánh phá trên đường hành quân, bị tổn thất nặng.


Nhân dịp Quốc khánh ngày 2 tháng 9 năm 1967, theo thông lệ hàng năm, tôi lên gặp Bác để báo cáo tình hình chiến đấu của bộ đội Phòng không - Không quân. Bác khen những thắng lợi của quân và dân Hà Nội. Rồi bất ngờ Bác đưa tay về phía tôi:


- Thế còn B52 đâu?


Câu hỏi đó làm tôi rất trăn trở, suốt đêm đó hầu như tôi không hề chợp mắt. Sau đó, tôi cùng anh Đặng Tính suy nghĩ về vấn đề này. Anh Đặng Tính trực tiếp vào tuyến lửa kiểm tra tình hình Trung đoàn 238. Sau đó, một đoàn cán bộ của Bộ Tư lệnh tên lửa vào Vĩnh Linh trực tiếp chỉ đạo Trung đoàn 238 bắn rơi cho bằng được B52. Đoàn do đồng chí Hoàng Văn Khánh, Phó Tư lệnh Binh chủng Tên lửa dẫn đầu.


Ngày 17 tháng 9 năm 1967 là một ngày khó quên trong cuộc đời tôi. Đêm đó, rất khuya, tôi nhận được điện của đồng chí Hoàng Văn Khánh báo tin Trung đoàn 238 bắn rơi hai chiếc máy bay B52 trên bầu trời Vĩnh Linh. Cầm bức điện trên tay mà tôi run lên vì sung sướng, tôi nghĩ ngay tới Bác Hồ. Phải báo cáo tới Bác tin quân ta bắn rơi B52 ngay bây giờ. Tôi và anh Tính bàn mãi. Anh Tính bảo để sáng mai thưa với Bác. Nhưng tôi cảm thấy không yên tâm. Tôi vội gọi cho anh Vũ Kỳ thư ký của Bác thì được biết đèn phòng làm việc của Bác còn sáng. Không kìm lòng được, tôi vội gọi điện cho Bác. Khi biết Bác ở đầu dây bên kia, lòng tôi cảm thấy lâng lâng sung sướng, nhưng tôi chưa kịp báo tin thì Bác đã hỏi:


- Chú Tài đấy à, có chuyện gì thế? Bắn rơi B52 rồi phải không?


Quả thật một điều kỳ diệu không thể nào tưởng tượng nổi. Có lẽ bằng linh cảm của một lãnh tụ vĩ đại mà Bác đã đoán được điều này...


Tháng 10 năm 1967, tôi chính thức nhận nhiệm vụ Phó Tổng Tham mưu trưởng, đặc trách cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Ngay từ khi đó, tôi được giao nhiệm vụ chuẩn bị phương án chiến đấu bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng trong tình huống địch sử dụng B52. Đầu năm 1968, trên cương vị Phó Tổng Tham mưu trưởng tôi được báo cáo cho Bộ Chính trị toàn bộ hệ thống lực lượng Phòng không - Không quân, lực lượng hải quân của ta, hệ thống phòng ngự bờ biển chống trả những hoạt động của hải quân địch mà chủ yếu là lực lượng dân quân tự vệ. Tối hôm sau, tôi được Bác gọi lên hỏi thêm tình hình. Ngay sau đó, tôi cùng anh Đặng Tính, anh Lê Văn Tri và anh em trong Quân chủng xây dựng phương án đánh B52. Từ kinh nghiệm tổng kết đánh B52 ở Vĩnh Linh mà anh Hoàng Văn Khánh mang về cơ quan tham mưu, kết hợp với quá trình theo dõi, tìm hiểu trong suốt nhiều năm, chúng ta đã xây dựng được phương án đầu tiên đánh trả cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng. Sau này, Quân chủng Phòng không - Không quân còn có thêm hai tài liệu nữa về cách đánh B52 in rô-nê-ô. Một bản được biên soạn tháng 7 năm 1969 và một bản được biên soạn tháng 10 năm 1972, càng ngày càng hoàn chỉnh hơn, có nhiều sáng tạo hơn.


Cũng trong năm 1968, có lần Bác Hồ và đồng chí Hoàng Văn Thái, Phó Tổng Tham mưu trưởng xuống thăm Quân chủng Phòng không - Không quân, tại nơi trưng bày những xác máy bay, bom bi, mảnh tên lửa sơ-rai..., tôi đã giới thiệu cho Bác những vũ khí mới của đế quốc Mỹ. Bác trầm ngâm nói với tôi: Kẻ thù đã áp dụng khoa học kỹ thuật vào chiến tranh, cán bộ khoa học kỹ thuật của chúng ta còn quá ít. Nếu chỉ có lòng căm thù giặc và tinh thần xả thân vì nước vẫn chưa đủ thắng lợi. Các chú phải chú ý đào tạo thật nhiều cán bộ khoa học kỹ thuật, nghiên cứu kỹ kẻ địch thì mới trăm trận trăm thắng.


Năm 1972, những điều Người tiên đoán đã trở thành sự thật. Không phải không có cơ sở khi nói rằng: kết cục của cuộc chiến tranh Việt Nam đã được quyết định bởi trận đánh trên bầu trời Hà Nội những ngày cuối tháng 12 năm 1972. Trận “Điện Biên Phủ trên không” ghi vào trang sử hào hùng dân tộc, tiêu diệt 81 máy bay trong đó có 34 máy bay B52, năm máy bay F111. Mỗi một pháo đài bay B52 rơi là lòng tôi lại sung sướng. Chỉ tiếc Bác đã đi xa, không kịp nhìn thấy những chiếc B52 cháy rực trên bầu trời Hà Nội. Chiến thắng vang dội đã buộc đế quốc Mỹ phải cúi đầu chấp nhận ký vào Hiệp định Pa-ri...”.


Những điều mà Thượng tướng Phùng Thế Tài kể lại làm tôi vô cùng xúc động. Qua câu chuyện của Thượng tướng, tôi càng có dịp hiểu thêm sự vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác Hồ là niềm tin, là nguồn sức mạnh cho bộ đội Phòng không - Không quân chiến thắng B52.


TÌM ĐÁNH B52 TRƯỚC THÁNG CHẠP 1972


Theo lời kể của Trung tướng Hoàng Văn Khánh nguyên Tư lệnh Quân chủng PKKQ


Bốn mươi năm đã trôi qua, trận “Điện Biên Phủ trên không” trên bầu trời Hà Nội cuối tháng Chạp năm 1972, vẫn là một trong những bản hùng ca bất diệt trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. Trong những ngày ấy, đế quốc Mỹ đã huy động một lực lượng B52 gần 200 chiếc với 633 lần xuất kích để đánh Thủ đô Hà Nội, nhằm đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá, tạo thế có lợi trên bàn đàm phán tại Pa-ri. Nhưng chúng đã bị thất bại thảm hại, 34 máy bay B52 bị bắn rơi trong 12 ngày đêm khói lửa đã hạ gục uy thế “Pháo đài bay siêu hạng của nước Mỹ”. Cách đây mười năm, tôi được gặp Trung tướng Hoàng Văn Khánh, người đã tham gia vào sự kiện đánh thắng B52, từ chiếc đầu tiên bị bắn rơi trên bầu trời Vĩnh Linh đến chiếc B52 cuối cùng bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội. Giờ đây ông đã đi xa, bài viết này như một nén tâm nhang để tưởng nhớ tới ông.


Trung tướng Hoàng Văn Khánh sinh năm 1923 ở huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, sau đó gia đình ông chuyển lên sống ở Hà Nội. Từ năm 1939, ông đã là công nhân thợ nguội ở Hà Nội. Tại đây ông được giác ngộ cách mạng và tham gia hoạt động từ năm 1940. Ông được kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam năm 1942. Tháng 4 năm 1945, ông được tổ chức cho đi học trường Quân chính kháng Nhật tại Việt Bắc. Ngày 19 tháng 8 năm 1945, ông tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Thái Nguyên. Về Hà Nội, ông là cán bộ tham mưu của Bộ Tư lệnh khu đặc biệt. Cuối năm 1947, ông về công tác tại trung đoàn bảo vệ Trung ương Đảng tại căn cứ Việt Bắc. Năm 1949, ông được cử đi học khóa 1 trường Nguyễn Ái Quốc. Cũng trong năm này, ông xây dựng gia đình với bà Hoàng Thị Chương, con gái cụ Bùi Xuân Mai, nhà 79 phố Bắc Ninh, nay là phố Nguyễn Hữu Huân - Hà Nội. Cụ Bùi Xuân Mai là cơ sở cách mạng từ năm 1930 đã từng nuôi giấu Tổng Bí thư Trường Chinh. Bản thân bà Chương cũng tham gia hoạt động trong phong trào công nhân. Tình yêu của ông bà ngoài tình yêu đôi lứa còn là tình đồng chí cùng chung mục đích lý tưởng. Đám cưới ngày ấy thật giản dị, chỉ có lạc rang, nước chè, mía… nhưng rất đông vui. Năm 1950, ông là Tham mưu trưởng đoàn huấn luyện tân binh cho chiến dịch Biên giới. Năm 1951, ông về Đại đoàn Đồng Bằng chiến đấu ở đó đến kết thúc kháng chiến chống Pháp. Sau khi hòa bình lập lại 1954, ông sang Liên Xô học pháo binh 6 năm tại Học viện Pháo binh Lê-nin-grát. Tại đây, ông được học các loại tên lửa phòng không của bạn. Về nước năm 1962, ông được bổ nhiệm làm Hiệu phó Trường Sĩ quan Pháo binh 400. Năm 1964, ông là Tham mưu trưởng Binh chủng Pháo binh. Năm 1966, ông được điều về Quân chủng Phòng không - Không quân làm Tư lệnh Sư đoàn phòng không Hà Bắc.

Năm 1967, ông là Phó Tư lệnh Binh chủng Tên lửa, Quân chủng Phòng không - Không quân. Cũng trong thời gian này, theo ý kiến chỉ đạo của Bác Hồ “muốn bắt cọp phải vào tận hang”, Trung đoàn Tên lửa H38 đã vào Vĩnh Linh để tìm diệt máy bay B52. Lúc này, đế quốc Mỹ đã leo thang ra miền Bắc, sử dụng không quân tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất. Chúng đã dùng máy bay B52 đánh phá Vĩnh Linh, nhằm đưa mảnh đất này về “thời kỳ đồ đá”. Trung đoàn H38 hành quân vào Vĩnh Linh từ tháng 6 năm 1966, trên con đường đầy hy sinh gian khổ. Ngay đêm đầu tiên vượt sông Bến Thủy, chiếc xe xích cùng bệ phóng tên lửa nặng hơn 20 tấn bị rơi tõm xuống sông Lam. Vượt sông Gianh cả xe có giàn ăng ten đi lạc sang đèo Lý Hòa bị lật nhào xuống chân đèo. Vừa triển khai trận địa ở Phủ Định, Tiểu đoàn 84 chưa kịp chiến đấu thì bị tên lửa sơ-rai đánh trúng, hỏng khí tài. Hôm sau, địch còn cho gần 150 lần chiếc máy bay đánh phá hầu như suốt ngày vào trận địa ở Phủ Định. Thế là Tiểu đoàn 84, cánh quân đầu tiên của Trung đoàn H38 đành phải quay trở lại miền Bắc để nhận khí tài mới. Ra đi từ tháng 4 năm 1966 mãi đến đầu năm 1967, các tiểu đoàn hỏa lực của Trung đoàn H38 mới đến được Vĩnh Linh, nhưng cả bốn tiểu đoàn đều bị máy bay Mỹ đánh phá gây thiệt hại nặng nề. Kẻ địch quyết tâm chặn đứng không cho tên lửa tới đất Vĩnh Linh. Chúng muốn bảo đảm an toàn tuyệt đối cho các phi vụ ném bom rải thảm của B52 trên chiến trường bắc Quảng Trị. Đại tá Đặng Tính, Chính ủy Quân chủng Phòng không - Không quân, sau cả tháng trời lăn lộn trên các trận địa Vĩnh Linh cùng với bộ đội tên lửa H38 đã phát biểu trước Đảng ủy Bộ Tư lệnh Quân chủng: “Tôi có thể nói mà không sợ quá lời rằng: cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn H38 là những người xứng đáng ba lần anh hùng. Đưa được cả một trung đoàn tên lửa, vượt qua bom đạn ác liệt, qua một chặng đường dài với biết bao đèo cao, dốc hiểm, hành quân đến được Vĩnh Linh là một lần anh hùng. Rồi cả trung đoàn ấy đã phải giấu mình trong làn bom đạn của kẻ thù, nhưng vẫn trụ vững hàng trăm ngày đêm trên một vùng đất mà nếu ta bốc lên một nắm bất cứ nơi đâu cũng có thể nhìn thấy những mảnh đạn, mảnh bom. Đó là hai lần anh hùng. Và lần thứ ba anh hùng là: cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn H38 đã khắc phục muôn vàn khó khăn, phức tạp về kỹ thuật, chiến thuật đã mưu trí sáng tạo, quyết tâm phát sóng tìm địch, để cuối cùng nhận diện được B52 trên màn hiện sóng…”.


Sau đó, thực hiện ý định của Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân, Phó Tư lệnh Hoàng Văn Khánh đã thành lập một đoàn công tác chỉ đạo đánh B52. Vào chiến trường Vĩnh Linh, ông mới thấy hết được những khó khăn gian khổ của những người lính Trung đoàn H38 đang ngày đêm phải vượt qua. Ngày 15 tháng 3 năm 1967, chỉ vì sự chần chừ của người chỉ huy mà Tiểu đoàn 81 và 83 bỏ lỡ một trận đánh B52. Chỉ hai hôm sau, địch tổ chức một trận đánh hết sức ác liệt vào Tiểu đoàn 83 ở Cổ Kiểng. Tiếp theo “mối hận Phủ Định”, “mối hận Cổ Kiểng” là một vết thương nhức nhối trong lòng các chiến sĩ H38. Bản thân ông Hoàng Văn Khánh cũng chết hụt mấy lần. Có lần xe vừa rời Sở chỉ huy B5 thì quả bom rơi đúng chỗ xe vừa chuyển bánh. Lại có lần bom đánh trúng hầm ông ở Vĩnh Chấp khi ông vừa rời khỏi đó chưa đầy một tiếng đồng hồ. Mấy tháng ròng rã cùng ăn cùng ở với cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn H38, ông đã đem lại cho họ niềm tin tưởng vào chiến thắng B52. Sự có mặt đúng lúc của người chỉ huy trên chiến trường rất cần thiết, khích lệ, động viên xây dựng tinh thần chiến đấu. Nhưng con đường đi đến chiến thắng B52 thật không đơn giản. Mắt tôi nhòa đi khi đọc những dòng nhật ký chiến đấu ghi chép những ngày ấy:


“… Ngày 26 tháng 8 năm 1967. Một ngày đáng buồn. Địch ném bom tọa độ vào trận địa, tất cả 17 lần. Một viên đạn thủng cánh lái. Một viên bẻ gãy ăng ten. Rất may là các xe an toàn…


… Ngày 1 tháng 9 năm 1967. 3 giờ 15 phút, B52 ba tốp, Tiểu đoàn 84 vào cấp 1 xong đã nghe bom nổ… Yếu lĩnh chống sơ-rai chưa tốt, nên cuối cùng đã bị sơ-rai đánh trúng. Tiểu đoàn trưởng và Chính trị viên tiểu đoàn cùng 10 đồng chí khác bị thương. Trắc thủ Nguyễn Đình Thiên hy sinh…


... Ngày 3 tháng 9 năm 1967. Lại tin buồn. Xe Y cùng kíp chiến đấu của Tiểu đoàn 82 đến ngã ba Hạ Cờ thì bị bom tọa độ. Trắc thủ góc tà Lê Hữu Dinh bị thương nặng. Trước lúc hy sinh, Lê Hữu Dinh còn hỏi khí tài có việc gì không và chúc đồng đội ở lại đánh thắng B52…


… Ngày 7 tháng 9 năm 1967, 15 giờ địch đánh trúng vào trận địa, do đường vào cỏ bị úa vàng chưa kịp thay. Lại phải kéo khí tài ra chuẩn bị cho trận chiến đấu mới…


… Ngày 11 tháng 9 năm 1967. Lại thêm một tai họa mới. Bếp anh nuôi sơ ý để khói lộ ra ngoài, lập tức mấy chiếc F4 lao xuống cắt bom. Một quả trúng vào hầm có sáu đồng chí thông tin. Cả sáu đồng chí hy sinh. Đồng chí Phùng, trắc thủ đài một vào lấy cơm bị thương nặng. Cô y tá Lê Thị Thái không quản nguy hiểm chạy đến băng bó cho Phùng và các đồng chí bị thương khác. Máy bay địch quay lại cắt bom lần thứ hai, Lê Thị Thái đã anh dũng hy sinh …”.


*


Mãi đến 17 giờ 5 phút ngày 17 tháng 9 năm 1967, Tiểu đoàn 84 Đoàn H38 mới bắn rơi chiếc B52 đầu tiên. Giờ đây, sau bao năm ông vẫn nhớ đến gương mặt Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đình Phiên, sĩ quan điều khiển Lê Hỷ, kíp trắc thủ Thính, Ngận, Ngoạn, những con người đã góp phần làm nên chiến thắng ấy. Chiếc B52 rơi đầu tiên đã làm nức lòng quân dân cả nước, đặc biệt Bác Hồ đã gửi thư khen ngợi. Người thường xuyên quan tâm vấn đề bắn rơi B52 vì Người đã tiên đoán sẽ có một ngày địch sẽ dùng B52 đánh Hà Nội và chỉ chịu thua trên bầu trời Hà Nội.


Sau Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân (1968) của quân và dân ta ở miền Nam, đế quốc Mỹ phải xuống thang chiến tranh. Ngày 31 tháng 3 năm 1968, chúng tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra. Thời kỳ này, chiến dịch Khe Sanh diễn ra quyết liệt. Mỹ phải tung con chủ bài B52 ra làm nhiệm vụ thay thế cho bọn cường kích đang phải căng ra trên các chiến trường. Trong chiến dịch này, ta chưa đưa được tên lửa vào đánh B52 nhưng có một đoàn công tác do Tư lệnh bộ đội ra đa Lương Hữu Sắt cùng các ra đa ở phía trong xây dựng một quy trình bắt B52 hoàn chỉnh để phổ biến cho toàn binh chủng.


Trên cơ sở kinh nghiệm đánh B52 của Đoàn H38 tại Vĩnh Linh, Quảng Bình những năm 1967, 1968 và những tài liệu về B52 mà bộ đội ra đa thu thập được, ngày 7 tháng 1 năm 1969, Quân chủng đã tổ chức biên soạn tài liệu “Dự thảo cách đánh máy bay địch”. Trên cửa khẩu, các tuyến hành lang chiến sự diễn ra ngày càng ác liệt. Không quân Mỹ tập trung vào đánh phá giao thông, phương tiện vận chuyển tren tuyến đường Trường Sơn, B52 đã được tung ra với cường độ lớn. Bộ Tổng Tham mưu đã chỉ thị cho Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân đưa tên lửa vào đánh B52. Một lần nữa, Trung đoàn H38 lại được giao nhiệm vụ mở đầu. Cuối tháng 10 năm 1969, đồng chí Hoàng Văn Khánh lại rời Hà Nội vào Trường Sơn để tìm cách đánh B52 ở cửa khẩu các tuyến hành lang. Cuộc chiến đấu của các đơn vị tên lửa H37, H38, H75 là một chiến công thần kỳ. Khó có thể tưởng tượng những bệ phóng tên lửa cồng kềnh lại có thể vượt qua được Cổng Trời trên đường số 12, vượt qua các trọng điểm Tà Lê, Phu Nha Nhích… trên đường số 20 sang tận Lùm Bùm, xuống tận Bản Đông ở Nam Lào rồi lại vòng về Lao Bảo, Khe Sanh.


Trung tướng Hoàng Văn Khánh còn nhớ như in trận đánh B52 ngày 18 tháng 3 năm 1971, của Tiểu đoàn 69 Đoàn H37 trên đỉnh Tà Păng. Chiến dịch Đường 9 Nam Lào đang diễn ra hết sức khẩn trương quyết liệt. B52 được sử dụng trung bình hàng ngày 28 lần chiếc, có ngày cao nhất lên đến 49 lần chiếc. Lúc đó ông với cương vị là Phó Tư lệnh chiến dịch Đường 9 Nam Lào phụ trách phòng không. Trong căn hầm, ông đã cùng các đồng chí Phan Khắc Hy, Nguyễn Văn Thân, Hà Chấp bàn cách thực hiện chỉ thị của Bộ Chỉ huy chiến dịch: quyết tâm tiêu diệt B52 ở Bản Đông. Để đưa được tên lửa lên đỉnh Trường Sơn là sự nỗ lực phi thường của các đồng chí công binh, thanh niên xung phong Binh trạm 27 tạo ra con đường số 16B giữa núi rừng Trường Sơn trùng điệp. Ngày 18 tháng 3 năm 1971, trên đỉnh Trường Sơn sương mù dày đặc, những quả tên lửa của Tiểu đoàn 69 đã xuyên thẳng vào đội hình B52 của giặc. Kíp chiến đấu gồm các đồng chí: Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Sang, sĩ quan điều khiển Lê Đông, trắc thủ góc tà Nguyễn Văn Đoàn, trắc thủ cự ly Trần Văn Lợi, trắc thủ phương vị Hà Học Định đã tiêu diệt chiếc B52 thứ 7 của Mỹ.


Đầu tháng 5 năm 1971, đồng chí Hoàng Văn Khánh trở lại Hà Nội, chưa kịp nghỉ ngơi thì Chính ủy Quân chủng Đặng Tính gọi ông lên và thông báo cho biết Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch lớn ở Trị Thiên trong mùa khô tới và ông sẽ giữ cương vị Tư lệnh Tiền phương của Quân chủng Phòng không - Không quân. Trở lại chiến trường lần này, ông được Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng căn dặn: “Nhiệm vụ chủ yếu của tên lửa trong chiến dịch lần này là đánh B52”. 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 3 năm 1972, chiến dịch tiến công Trị Thiên mở màn. Kẻ địch thực sự bị bất ngờ choáng váng. Ngày 2 tháng 4 năm 1972, B52 bắt đầu đánh ở các vùng bắc Cồn Tiên, bắc Đông Hà, bắc Cửa Việt, nam cầu Hiền Lương,… hòng chặn thế tiến công của bộ binh ta. Chỉ riêng ngày 2 tháng 4, các tiểu đoàn tên lửa 62, 64, 68 đánh liền năm trận, phóng liên tiếp 15 quả vào đội hình B52, bắn rơi một chiếc B52. Trong suốt đợt đầu chiến dịch, từ ngày 3 đến ngày 9 tháng 4 năm 1972, các tiểu đoàn tên lửa thuộc hai Trung đoàn H36, H274 đã đánh 13 trận với tổng số 42 quả đạn, bắn rơi thêm hai chiếc B52. Một chiếc rơi ở đông Cửa Việt, một chiếc buộc phải hạ cánh ở sân bay Đà Nẵng.


Khi được hỏi, Trung tướng Hoàng Văn Khánh cho rằng một trong những nguyên nhân làm nên chiến thắng B52 dịp 12 ngày đêm tháng chạp năm 1972 là sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Bác Hồ muôn vàn kính yêu, tinh thần chiến đấu dũng cảm và trí thông minh sáng tạo của quân và dân ta. Một nguyên nhân cũng hết sức quan trọng là ta đã thường xuyên đúc rút kinh nghiệm đánh B52. Ông nhớ đến những cán bộ dày dạn kinh nghiệm trong cuộc chiến đấu đánh B52 như Nguyễn Sinh Huy, Phạm Sơn, Chu Thái… Ông cho rằng, hội nghị tên lửa bàn cách đánh B52 vào ngày 31 tháng 10 năm 1972, có vị trí rất quan trọng cho chiến thắng B52 sau này, tại hội nghị, tài liệu “Cách đánh B52 của bộ đội tên lửa” đã được đưa ra bàn bạc kỹ lưỡng. Trong lần họp này, ngoài sự có mặt của các bộ cấp quân chủng, sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn và các cơ quan, còn có nhiều trắc thủ, sĩ quan điều khiển thuộc các kíp chiến đấu của các tiểu đoàn hỏa lực. Hội nghị tháng 10 đã mang đến cho mọi người niềm tin: chúng ta có thể bắn rơi B52 tại chỗ.


Trong ngày 18 tháng 12 năm 1972, ngày đầu chiến dịch tập kích đường không Lai-nơ-bếch-cơ II, đồng chí Hoàng Văn Khánh đang ở Sở chỉ huy tiền phương Quân chủng ở Nghệ An. Tuy cách xa Hà Nội 300 ki-lô-mét nhưng đã phán đoán, trên đường rút chạy B52 có thể qua khu vực Nghệ An, Thanh Hóa nên ông ra lệnh các tiểu đoàn tên lửa mở máy hướng về phía bắc đón đánh địch.


Trưa ngày 23 tháng 12 năm 1972, ông trở về Hà Nội tham gia cùng các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân chỉ đạo cuộc chiến đấu chống lại cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ vào Thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng.


Nhớ lại những ngày chiến đấu sôi động hào hùng của trận “Điện Biên Phủ trên không” năm nào, ông luôn nhớ hình ảnh cán bộ, chiến sĩ trong Sở chỉ huy mỗi sáng xúm quanh bên chiếc ra-đi-ô để nghe một cách say sưa bài xã luận của báo Quân đội nhân dân. Những bài xã luận như có lửa ở bên trong, thắp sáng niềm tin, thổi bùng lòng tự hào, tiếp thêm sức mạnh cho đồng bào, chiến sĩ cả nước vươn lên tiếp tục lập chiến công. Vào đêm 27 tháng 12, khi nghe đồng chí Trần Nhẫn, Phó Tư lệnh Sư đoàn Phòng không Hà Nội thông báo trong máy: “Báo cáo Phó Tư lệnh, B52 rơi ở đường Hoàng Hoa Thám rồi! Xác nó còn rơi lả tả xuống Bách Thảo, vào cả làng Ngọc Hà…”, ông sung sướng quá, một cảm giác râm ran cứ chạy khắp người. Ông chợt nhớ tới Bác Hồ. Tự nhiên, dòng nước mắt ông ứa ra nghẹn ngào xúc động: “Bác ơi! Chúng con đã hoàn thành nhiệm vụ Bác giao. Chúng con đã đánh thắng B52 của giặc Mỹ, thắng rất oanh liệt”.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Thắng B52 trên bầu trời Hà Nội. Tập Ký của Đoàn Hoài Trung. NXB Quân đội Nhân dân, 2012. Cảm ơn nhà văn Đoàn Hoài Trung đã gửi tác phẩm tới www.trieuxuan.info!


 

trieuxuan.info