04.01.2013
Đoàn Hoài Trung
Thắng B52 trên bầu trời Hà Nội (4)

SỞ CHỈ HUY QUÂN CHỦNG THÁNG CHẠP NĂM 1972


      Ghi theo lời kể của Thiếu tướng Nguyễn Quang Bích, nguyên Phó Tư lệnh Quân chủng PKKQ


 

Tháng 4 năm 1972, đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ 2. Sở chỉ huy Quân chủng đã dời vào trong dãy núi đá cách Hà Nội không xa. 12 ngày đêm tháng chạp năm 1972, tôi được phân công trực chỉ huy Quân chủng tại Sở chỉ huy. Đó là những tháng ngày không thể quên với cuộc đời tôi.


Sáng chủ nhật ngày 17 tháng 12, Sở chỉ huy Quân chủng nhận được lệnh chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Bộ Tư lệnh lúc đó có Tư lệnh Lê Văn Tri, Chính ủy Hoàng Phương. Sau này có thêm anh Nguyễn Xuân Mậu và anh Hoàng Văn Khánh. Còn ở Sở chỉ huy lúc đó có tôi, anh Vũ Xuân Vinh - Tham mưu phó Quân chủng, bên Binh chủng Ra đa có anh Hoàng Văn Ngữ - Chính ủy Binh chủng, anh Hứa Mạnh Tài - Tham mưu phó Binh chủng, bên không quân có anh Nguyễn Phúc Trạch - Tham mưu phó Binh chủng và kíp trực ban chiến đấu thông tin, trinh sát, tác chiến, sĩ quan hướng... Chúng tôi nhanh chóng truyền lệnh xuống các đơn vị.


Ngay tối 17 tháng 12, Bộ Tư lệnh gấp rút họp bàn bổ sung phương án đánh B52. Tôi đã trình bày dự kiến các đường bay B52 đánh phá Thủ đô Hà Nội phương án đã vạch ra. Đặc biệt, qua theo dõi máy bay trinh sát của địch, tôi phán đoán thêm đường bay mới của B52 có thể thực hiện. Đó là đường bay từ Thái Lan qua Thượng Lào, vào Tây Bắc xuống đánh phá Đông Anh, Gia Lâm, Hà Nội. Quả nhiên, sau này địch sử dụng đường bay này để đánh phá Hà Nội.


8 giờ sáng ngày 18 tháng 12, tôi đã vào họp kíp chiến đấu, khẳng định B52 sẽ đánh Hà Nội đêm ấy. 16 giờ chiều cùng ngày, trên đã thông báo cho Sở chỉ huy biết khoảng 30 chiếc B52 bay từ Guam vào đánh miền Bắc. Sở chỉ huy thống nhất thời gian, mật ngữ và ra lệnh tôi trực tiếp xuống các đơn vị cho ôn lại phương án đánh B52, điều chỉnh lại đội hình xong trước 17 giờ. Có ý kiến cho rằng B52 sẽ đánh vào Thanh Hóa, nhưng tôi khẳng định chắc chắn B52 đánh vào Hà Nội. Lúc 19 giờ 10 phút ngày 18 tháng 12, trạm ra đa 45, đài trưởng Nghiêm Đình Tích báo về B52 và đang hồi hộp đồng thời có phần lo lắng. Trong đầu tôi lúc đó câu hỏi liệu có đánh được B52 không? lại hiện ra. Lòng tin vào phương án tháng 10, nhất là sau khi ta bắn rơi B52 ngày 22 tháng 11 năm 1972, do Đoàn H63 tên lửa thực hiện, đã củng cố, tôi tin nhất định sẽ thắng trận này.


Tuy nhiên, sự kiện B52 vào đánh phá Hải Phòng tháng 4 năm 1972, ta bắn nhiều quả tên lửa mà không hạ được chiếc nào nên anh em vẫn còn thiếu tin tưởng. Một số sĩ quan hướng truyền lệnh xuống đơn vị giọng cũng run run, mất bình tĩnh so với lúc bình thường. 19 giờ 44 phút, tên lửa ta đánh đợt đầu nhưng không trúng. Tôi chỉ thị các sĩ quan hướng nắm tình hình và động viên bộ đội rút kinh nghiệm đánh các đợt tiếp theo. 20 giờ 13 phút, Tiểu đoàn 59 bắn trúng chiếc đầu tiên. Đồng chí Nguyễn Đình Sơn - Tham mưu trưởng Sư đoàn Phòng không Hà Nội báo cáo lên đánh bắn rơi máy bay B52. Tôi chỉ thị tìm mọi cách đi tìm nhặt xác B52. Không khí phấn khởi lan khắp sở chỉ huy. Niềm vui ấy tràn ngập khi nghe tin đồng chí Võ Công Lạng - Trung đoàn phó 261 đã nhặt được xác máy bay B52G và tin ta đã bắt được giặc lái B52. Ai cũng lâng lâng với chiến thắng, bởi vì bao năm qua ta chưa bắn được tại chỗ chiếc B52 nào. Chúng tôi đã tổng kết trận ngày 18 tháng 12 là trận hạ uy thế không lực Hoa Kỳ, trận rạng sáng ngày 21 tháng 12 là trận then chốt và trận ngày 26 tháng 12 là trận quyết định.


Trong những ngày ấy, chúng tôi ăn ngủ tại Sở chỉ huy trong khi trời lạnh giá, ẩm thấp của hang đá. B52 đánh vào ban đêm nên hầu như chúng tôi phải thức suốt đêm, chỉ huy từng trận đánh. Ban ngày tôi cùng anh em nắm, tổng hợp tình hình, điều động lực lượng, hoặc xuống thăm các trận địa. Có lúc cầm bánh mì vừa ăn vừa giao ban. Lúc nào mệt quá thì chợp mắt một chút ngay trên bàn làm việc hoặc dồn ba chiếc ghế lại làm giường ngả lưng.


Tôi mặc nguyên bộ quần áo dã chiến suốt mấy ngày liền, chẳng có thời gian thay. Anh em kíp trực các thành phần thay ca, có thể nghỉ ngơi chút đỉnh. Sau một tuần chiến đấu, mặt ai nấy hốc hác, nhưng gương mặt nào cũng chứa chan niềm vui chiến thắng.


Nhân ngày 22 tháng 12, ngày thành lập quân đội, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng và Phó Tổng Tham mưu trưởng Phùng Thế Tài đến động viên bộ đội tại Sở chỉ huy Quân Chủng. Sau khi thăm Sở chỉ huy Quân chủng, Thủ tướng đã vào thăm Sở chỉ huy ra đa, Sở chỉ huy Không quân. Thủ tướng nói:


- “Trận này ta không thắng thì gay lắm vì chúng nó đang cố ép ta. Chiến thắng các đồng chí hay lắm, tốt lắm, quý lắm... đã cho chúng một bài học, bây giờ ta ép lại nó. Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, cả nước cám ơn các đồng chí”.


Trong các ngày 23, 24 tháng 12, địch đánh giãn ra xa Hà Nội. Một số ý kiến cho rằng ta cũng cần giãn hỏa lực để bảo vệ các trọng điểm mà địch đánh phá như Hải Phòng, Thái Nguyên, nhưng Thường vụ Đảng ủy Bộ Tư lệnh Quân chủng nhận định, Hà Nội vẫn là mục tiêu chủ yếu của đợt tập kích đường không chiến lược của địch. Ta cần chốt giữ lực lượng bảo vệ Hà Nội. Tôi đề nghị các đơn vị pháo cao xạ rút một số nơi về để bảo vệ cho các trận địa tên lửa, một mặt tăng cường chỉ đạo các đơn vị sản xuất đạn tên lửa, một mặt truyền chỉ thị chỉ dùng tên lửa đánh B52 ban đêm.


Trong ngày 25 tháng 12, Sở chỉ huy Quân chủng tất bật tổ chức rút kinh nghiệm chiến đấu, điều thêm 2 Tiểu đoàn tên lửa 71, 72 từ Hải Phòng lên tăng cường hỏa lực cho hướng đông bắc Hà Nội. Đêm 26 tháng 12 là một trận thắng mang tính quyết định. Địch dùng tới 105 lần chiếc B52 và 110 lần chiếc máy bay chiến thuật hộ tống đánh đồng loạt liên tục vào Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên. Lúc này, anh Hoàng Văn Khánh từ Sở chỉ huy tiền phương, quân báo Lê Tư, trưởng phòng tác chiến Lê Thanh Cảnh và kíp trực như dán mắt vào những đường chì vẽ các đường bay B52 vào Hà Nội. Những khẩu lệnh đưa ra đanh gọn. Không khí trong Sở chỉ huy khẩn trương nhưng mọi người rất bình tĩnh và tin tưởng vào chiến thắng của ta. Trận chiến đấu đêm 26 tháng 12 năm 1972 diễn ra hơn 1 giờ. Lực lượng Phòng không ba thứ quân của Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên đã đánh một trận tiêu diệt lớn bắn rơi 8 máy bay B52, riêng Hà Nội bắn rơi 5 chiếc, có 4 chiếc rơi tại chỗ. Trận đánh có tính chất quyết định làm suy sụp tinh thần và ý chí của Nhà trắng. Sau trận này, kết cục của chiến dịch đã được định đoạt, nhưng có điều đặc biệt trong 12 ngày, đêm, kẻ thù không thể phát hiện được Sở chỉ huy Quân chủng. 


THẮNG B52 TRÊN BẦU TRỜI HÀ NỘI


              Theo lời kể của Trung tướng Trần Văn Nhẫn (Trần Nhẫn)


            nguyên Tư lệnh Quân chủng PKKQ, nguyên Phó Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 361


Tiếp tôi trong căn phòng nhỏ số 206 đường Nguyễn Ngọc Nại, quận Thanh Xuân thành phố Hà Nội, Trung tướng Trần Nhẫncười vui vẻ:

- Tôi là người may mắn được chứng kiến và tham gia nhiều sự kiện trọng đại của đất nước. Cái chết rình rập tôi nhiều lần, nhưng lần nào tôi cũng may mắn thoát nạn.


Nhìn dáng vẻ nhanh nhẹn của ông, tôi không ngờ vị cựu Tư lệnh Quân chủng Phòng không lại là một thương binh ở tuổi 86, đã ba lần bị thương trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc (thương tật 3/4).


Trung tướng Trần Nhẫn sinh năm 1927, ở thôn Thổ Óc, xã Nhân Hưng, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Năm 1940, ông lên Hà Nội học nghề làm công nhân ở hỏa xa Vân Nam, nay là Nhà máy xe lửa Gia Lâm. Năm 1943, ông vào làm công nhân ga xe lửa Sài Gòn. Bị thất nghiệp, ông chuyển qua làm công nhân nguội ở hãng Demontreil của tư bản Pháp. Trước tháng 8 năm 1945, ông tham gia Đoàn thanh niên Tiền phong do bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đứng đầu. Cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám bùng nổ, Trần Nhẫn lập tức tham gia giải phóng quân thành phố Sài Gòn. Ta giành chính quyền không bao lâu thì giặc Pháp gây hấn. Ông có mặt và tham gia chiến đấu trong ngày Nam Bộ kháng chiến 23 tháng 9 năm 1945.


Mặt trận Sài Gòn vỡ, ông cùng một số đồng chí được điều ra Hà Nội. Tháng 4 năm 1946, ông là tiểu đội phó thuộc Đại đội đặc vụ Vệ quốc đoàn thành phố Hà Nội. Ngày 19 tháng 11 năm 1946, ngày toàn quốc kháng chiến, ông chiến đấu ở Đại đội Ký Con, tự vệ chiến đấu thành Hoàng Diệu. Ngày ấy ta và địch giành giật nhau từng góc phố, từng căn nhà. 36 phố phường trở thành chiến địa. Để đánh địch, ta đục thông tường nhà này sang nhà khác, lúc ẩn lúc hiện làm giặc Pháp đau đầu. Trong một trận đánh, ông bị địch bắn trúng chân trên gác hai, một căn nhà ở phố Hàm Long. Ông được đồng đội đưa về quân y viện Trung ương. Vết thương để lại vết sẹo tròn bên mắt cá trái và vì nó ông phải đi cà nhắc suốt đời.


Tháng 4 năm 1947, ông theo học trường Quân chính Chiến khu 2. Tháng 8 năm 1947, ông được điều về làm Huyện đội phó huyện đội Lạc Thủy, tỉnh Hà Nam. Tại đây, ông đã gặp bà Nguyễn Thị Mùi - đội phó đội du kích xã cùng quê. Công việc đã làm cho hai người gắn bó nhau, tình yêu của họ nảy nở trong khói lửa của cuộc chiến tranh. Năm 1948, họ tổ chức đám cưới đơn sơ trong vùng địch hậu.


Tháng 1 năm 1953, ông được bổ nhiệm làm Đại đội phó Đại đội 530 sau làm đại đội trưởng Đại đội 520, Tiểu đoàn 154, Trung đoàn 209, Đại đoàn 312. Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, ông đã cùng Đại đội 530 chiến đấu dũng cảm. Tại đồi D1 cao điểm phía đông Điện Biên Phủ, ông cùng đồng đội đánh chiếm điểm cao. Pháo địch bắn lên dữ dội, đạn trúng, sập hầm. Ông bị đất đá vùi nên ngất đi. Địch tràn lên chiếm điểm cao trong đêm. Chúng không biết ông đang cùng đồng đội bị vùi sâu trong hầm. Trung đoàn trưởng Đoàn Sông Lô là đồng chí Hoàng Cầm ra lệnh cho bộ đội phản kích lấy lại điểm cao vào sáng hôm sau. Đồng đội đã đào bới, cứu ông lên trong tình trạng mê man. Đến bây giờ, ông cũng không biết tại sao mình vẫn sống sót khi bị chôn dưới đất gần một ngày. Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu buộc đế quốc Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ về Việt Nam, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.


Tháng 1 năm 1956, ông được bổ nhiệm làm Tham mưu phó Trung đoàn cao xạ 685, Đại đoàn Phòng không 367. Tháng 8 năm 1957, ông sang học Học viện pháo binh Lê-nin-grát và Trường Kỹ sư Tên lửa Ki-ép (Liên Xô). Tháng 5 năm 1965, ông được bổ nhiệm quyền Trung đoàn trưởng trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên của Quân chủng Phòng không - Không quân. Ngày 19 tháng 7 năm 1965, nhân dịp bộ đội tên lửa chuẩn bị ra quân trận đầu, Bác Hồ đã đến thăm và chỉ thị: “Dù đế quốc Mỹ lắm súng nhiều tiền, dù chúng có B57, B52 hay “Bê” gì đi chăng nữa, ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ, chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”. Thấm nhuần lời dạy của Bác, ông đã cùng tập thể lãnh đạo chỉ huy Trung đoàn Tên lửa 236 đánh thắng trận đầu vào ngày 24 tháng 7 năm 1965. Hai tiểu đoàn 63, 64 tiêu diệt gọn tốp máy bay F4C trên bầu trời bên dòng sông Đà. Nhạc sĩ Hoàng Tạo đã sáng tác bài hát nổi tiếng “Tên lửa về bên sông Đà”. Ngày 24 tháng 7 năm 1965 trở thành ngày truyền thống của bộ đội tên lửa anh hùng.


Trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc (lần 1 và lần 2) của đế quốc Mỹ, đồng chí Trần Nhẫn giữ nhiều cương vị khác nhau: Trưởng phòng Tác huấn tên lửa Quân chủng, Cục phó Cục Kỹ thuật Quân chủng, Hiệu trưởng trường Trung cấp Kỹ thuật Phòng không, Hiệu phó trường Sĩ quan Quân chủng Phòng không - Không quân, Phó Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 363. Tháng 6 năm 1972 ông được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh Sư đoàn Phòng không Hà Nội. Đây cũng là thời điểm vinh quang nhất của Sư đoàn Phòng không cận vệ Thủ đô. Cuối tháng 12 năm 1972, nhằm lật ngược thế cờ trên bàn hội nghị Pa-ri, đế quốc Mỹ mở chiến dịch tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B52, mang tên “Lai-nơ-bếch-cơ II” đánh vào Hà Nội, Hải Phòng và các vùng lân cận. Trong 12 ngày đêm, không quân địch đã xuất kích 4.547 lần chiếc máy bay, bao gồm 663 lần chiếc B52, 1.459 lần chiếc máy bay không quân chiến thuật, 2.115 lần chiếc máy bay của lực lượng hải quân... Riêng khu vực Hà Nội, địch đã sử dụng 444 lần chiếc B52. Không quân Mỹ đã ném bom “rải thảm” xuống Hà Nội, Hải Phòng và vùng phụ cận hơn 10 vạn tấn bom, có dung lượng bằng năm quả bom nguyên tử mà đế quốc Mỹ ném xuống Hi-rô-si-ma (Nhật Bản) trong chiến tranh thế giới thứ 2. Trong những ngày ấy, Phó Tư lệnh Trần Nhẫn đã sát cánh cùng Bộ Tư lệnh Sư đoàn Phòng không Hà Nội chỉ đạo các đơn vị cao xạ, tên lửa, ra đa trực thuộc lập nên những chiến công vang dội.


Ông kể cho tôi nghe trận đánh điển hình đêm 26 tháng 12 năm 1972 của sư đoàn. Hôm ấy, kẻ địch tung vào trận đánh một lực lượng B52 lớn chưa từng có, 105 lần chiếc và 110 lần chiếc máy bay chiến thuật hộ tống. Chúng muốn chiến thắng “nốc ao” sau những ngày nghỉ Noel. Ngoài việc sử dụng lực lượng lớn, điểm nổi bật của kế hoạch lần này là thủ đoạn đánh phá được thay đổi. B52 không đột nhập chỉ một hướng từ tây bắc xuống như các đêm trước mà cùng một lúc ập vào Hà Nội từ ba hướng, nhằm tạo sự bất ngờ và gây cho ta lúng túng trong cách đối phó. Trước đó, chiều ngày 25 tháng 12 năm 1972, Bộ Tổng Tham mưu đã có mệnh lệnh gửi xuống các đơn vị: “Từ 19 giờ ngày 25 tháng 12 năm 1972, tất cả bộ đội, vũ khí, khí tài tên lửa phải sẵn sàng chiến đấu 100%”. Trong Sở chỉ huy Bộ Tư lệnh Phòng không Hà Nội lúc đó có Phó Tư lệnh Quân chủng Trần Xanh, Tư lệnh Sư đoàn Trần Quang Hùng, Chính ủy Sư đoàn Trần Văn Giang, Phó Tư lệnh Sư đoàn Trần Nhẫn… Cả sở chỉ huy im phăng phắc, tập trung hướng vào bảng tiêu đồ, theo dõi đường bay của máy bay địch đang ở cách hàng trăm ki-lô-mét.


Lúc 21 giờ 43 phút, trên bảng tiêu đồ Sở chỉ huy xuất hiện nhiều tốp mục tiêu trên vùng trời sông Mê Kông, phía tây nam Hà Nội đang lũ lượt đi lên hướng bắc. Cùng lúc ấy trên hướng biển Đông, nhiều tốp B52 cũng đang lừng lững bay vào đất liền. Các đài ra đa lần lượt báo về nhiễu tăng lên đến cường độ 3. Nhiễu kim loại phủ trắng cả khoảng trời dài hàng chục ki-lô-mét từ đông sang tây. Phó Tư lệnh Trần Nhẫn ra lệnh cho các Trung đoàn mở máy thu nghiên cứu địch. Tất cả các bệ phóng bố trí hai bên tả ngạn, hữu ngạn sông Hồng ầm ầm chuyển động sẵn sàng phóng đạn.


22 giờ 20 phút, những tốp B52 đầu tiên bắt đầu xâm phạm vùng trời Tổ quốc từ hướng tây bắc, rồi dọc theo triền núi Tam Đảo bay vào Hà Nội. Lệnh tiêu diệt địch được phát ra từ Sở chỉ huy. Lập tức ba trận địa ở cả hai phía tả ngạn và hữu ngạn sông Hồng ầm ầm nổi lửa. Cùng một lúc 5 quả đạn vun vút bay lên lao về phía kẻ thù. Hai quả đạn của Tiểu đoàn 78 Trung đoàn 257 nhằm đúng tốp B52 mang số hiệu 602. Kíp chiến đấu Tiểu đoàn 78 gồm tiểu đoàn trưởng Nguyễn Chấn, các trắc thủ Hiền, Hà, Áp. Chiếc B52 như một bó đuốc khổng lồ rơi xuống xã Định Công, huyện Thanh Trì. Khắp nơi vang lên tiếng reo hò: “B52 cháy rồi!”. Cả Sở chỉ huy bừng lên vui sướng, lúc đó là 22 giờ 29 phút đêm 26 tháng 12 năm 1972. Chính ủy Trần Văn Giang thay mặt Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh biểu dương ngay chiến công xuất sắc của Tiểu đoàn 78, kết hợp động viên khí thế toàn Sư đoàn bước vào trận đánh lớn.


Cả Sở chỉ huy đang náo nức trong niềm vui chiến thắng thì tốp 559 xuất hiện đột ngột trên bảng tiêu đồ. Nó không theo hướng đi của tốp 602 mà đi từ hướng đông nam ập vào. Theo phương án đã vạch sẵn, Tiểu đoàn 76 Trung đoàn 257 đã đón chờ. 8 quả tên lửa rời bệ phóng, rồi 5 quả nữa nối đuôi nhau vun vút bay lên chặn đánh lũ giặc trời. Thêm hai B52 nữa bốc cháy, biến thành hai khối lửa khổng lồ rực sáng phía đông nam Thủ đô Hà Nội. Một chiếc rơi ngay vào cửa hàng ăn Tương Mai thuộc quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gọi điện xuống biểu dương chiến công của Sư đoàn Phòng không Hà Nội.


Lại thêm những tốp B52 từ hướng đông nam lừng lững bay vào. Đây là cánh quân thứ ba của địch đánh vào Hà Nội. Tiểu đoàn 93 Trung đoàn 261 đã chờ đợi chúng. Những quả đạn tên lửa phá tan màn nhiễu của giặc, vít cổ chiếc B52 xuống. Nó quằn quại một lúc giữa trời cao mang cả cột lửa khổng lồ đâm sầm xuống Đèo Khế thuộc địa phận tỉnh Tuyên Quang, lúc đó 22 giờ 33 phút.


Trận đánh càng về khuya càng sôi động, quyết liệt. Vào lúc 22 giờ 45 phút, địch tung tốp B52 cuối cùng vào mặt trận Hà Nội. Nằm ở trận địa Yên Nghĩa, Tiểu đoàn 79 được giao nhiệm vụ tiêu diệt tốp này. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Xuân Chiến, sĩ quan điều khiển Đỗ Văn Bạch cùng kíp trắc thủ Bùi Văn Lập, Bùi Trọng Quý, Nguyễn Xuân Nhâm đã dũng cảm, tinh tường thực hiện phương pháp P bắn rơi tại chỗ. Chiếc B52 như một bó đuốc khổng lồ rơi xuống vùng rừng núi tỉnh Sơn La.


23 giờ 8 phút, cuộc chiến đấu kết thúc. Chỉ trong hơn một giờ chiến đấu, các lực lượng phòng không Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Thái đã bắn rơi 8 chiếc B52. Riêng mặt trận Hà Nội bắn rơi 5 chiếc. Bộ đội Phòng không Hà Nội đã đánh một trận xuất sắc. Đêm cố gắng cao nhất của cuộc tập kích chiến lược trở thành đêm hãi hùng nhất của bọn giặc lái không quân chiến lược Mỹ…


Chỉ trong 12 ngày đêm tháng chạp năm 1972, toàn Sư đoàn đã bắn rơi 25 máy bay B52, trong đó có 16 chiếc rơi tại chỗ, bắt sống nhiều giặc lái Mỹ. Số lượng 20 phần trăm máy bay B52 của Mỹ bị bộ đội phòng không Hà Nội bắn rơi so với số máy bay tham chiến là đòn nặng nề nhất trong lịch sử xâm lược của lực lượng không quân chiến lược Mỹ. Theo cách nói bóng bẩy của các quan sát viên Mỹ và phương Tây thì “tọa độ lửa” của Hà Nội những đêm tháng chạp là “Lò sát sinh” B52 và giặc lái “siêu pháo đài bay” Mỹ. Đến nỗi có người ước tính nếu cứ đà tổn thất này thì chỉ ba tháng nữa “Mỹ sẽ mất hết B52” (Báo Tuần tin tức Mỹ). Phóng viên Mỹ Rai-bâu sau khi đến Việt Nam năm 1972, đã viết trên báo tin nhanh: “... Những trận mưa bom của không quân Mỹ có thể tiêu diệt một dân tộc khác, thì trái lại nó làm cho người Việt Nam đứng vững, đồng thời nó làm nảy nở những đức tính tốt đẹp nhất của con người”. Dư luận thế giới đã coi: “Hà Nội là Thủ đô phẩm giá của con người”.


Sau chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” lịch sử. Tháng 6 năm 1974, đồng chí Trần Nhẫn được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn Phòng không Hà Nội.


Sau Đại thắng mùa xuân năm 1975, tưởng chừng đất nước sẽ được thanh bình, nhưng tiếng súng từ biên giới Tây Nam lại vọng về. Bè lũ diệt chủng Pôn Pốt ngang nhiên tiến hành các hoạt động quân sự đánh phá lấn chiếm, quấy phá các tỉnh Tây Nam Tổ quốc, cướp đi sinh mạng của biết bao người dân vô tội. Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không Trần Nhẫn được phân công vào Nam trên cương vị Tư lệnh tiền phương Quân chủng Phòng không. Trong một lần đi thị sát biên giới Tây Nam thuộc tỉnh Châu Đốc, xe ô tô của ông đã bị trúng đạn pháo của bọn Pôn Pốt bắn trúng. Chiếc xe lật nhào và vận may lại đến với ông một lần nữa. Ông bị xây sát và được đưa vào cấp cứu ở bệnh viện tiền phương Quân khu 9.


Là thương binh 3/4, Trung tướng Trần Nhẫn đã vượt qua bệnh tật để trở về cuộc sống đời thường. Ông là Tư lệnh Quân chủng Phòng không 10 năm liền từ tháng 12 năm 1983 đến hết 1993. Ông đã được Đảng và quân đội trao tặng rất nhiều phần thưởng cao quý. Nhưng khi nói chuyện với tôi, ông luôn nhắc về chiến công của tập thể, của đồng đội mà ông chỉ là người may mắn chứng kiến và tham gia. Cuộc đời hoạt động cách mạng của ông làm tôi vô cùng xúc động. Tôi thầm nghĩ: ý chí quyết chiến quyết thắng, tinh thần chiến đấu mưu trí dũng cảm, lòng trung thành vô hạn với Đảng, quân đội và đức tính khiêm tốn đã tạo nên những phẩm chất tốt đẹp của các Tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam.


MƯỜI PHÚT BẮN RƠI HAI MÁY BAY B52 


Đó là chiến công của Tiểu đoàn 57 (Đoàn tên lửa Thành Loa - Bộ đội Phòng không Hà Nội) diễn ra vào đêm 20 rạng ngày 21 tháng 12 năm 1972, tức là vào đêm thứ ba của cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B52 của giặc Mỹ vào Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và các vùng lân cận. Người trực tiếp chỉ huy trận đánh đó là Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt, sau này ông trở thành Trung tướng, Phó Tư lệnh về chính trị, Bí thư Đảng ủy Quân chủng Phòng không - Không quân. Nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”, tôi đã tìm gặp ông để trò chuyện về trận đánh năm xưa.


Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt sinh tháng 12 năm 1938, ở thôn Vệ Dương, xã Tân Phúc, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên trong một gia đình giàu truyền thong hiếu học. Dòng họ của ông co tới 18 người đậu tiến sĩ dưới triều hậu Lê (1466-1700). Trong 18 vị tiến sĩ có 2 vị làm đến chức Quan lễ Bộ Thượng thư, 2 vị làm đến chức Binh bộ Thượng thư, 2 vị làm đến Lại Bộ Thượng thư, 2 vị làm đến Hộ Bộ Thượng thư…

Thuở nhỏ, Nguyễn Văn Phiệt được gia đình nuôi ăn học đầy đủ. Trước năm 1954, quê ông thuộc vùng địch hậu, giặc Pháp xây dựng đồn bót, chà sát các thôn làng để tách Việt Minh ra khỏi nhân dân. Ông đã sớm giác ngộ và tham gia cách mạng như: đưa tài liệu cho cán bộ, tham gia đội văn nghệ nhi đồng xã… Tháng 2 năm 1960, Nguyễn Văn Phiệt nhập ngũ, sau thời gian huấn luyện ông trở thành trắc thủ ra đa thuộc Đại đội 12, Trung đoàn ra đa 290 đóng tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Tại đây, ông đã tích cực dạy bình dân học vụ cho bà con. Thời gian này, ông đã nhiều lần mày mò sửa chữa các khí tài ra đa để phục vụ nhiệm vụ. Tháng 11 năm 1965, Nguyễn Văn Phiệt được cử đi học chuyển loại binh chủng tên lửa phòng không tại Liên Xô. Khi trở về ông là sĩ quan điều khiển thuộc Tiểu đoàn 93, Trung đoàn Tên lửa 278.


Trận đầu tiên Nguyễn Văn Phiệt tham gia đánh máy bay Mỹ là ngày 22 tháng 10 năm 1966, tại trận địa Mãn Đức, tỉnh Hòa Bình. Đêm đó, máy bay Mỹ vào đánh phá Hà Nội đi qua trận địa của đơn vị ông đó là một cánh rừng bao la. Mới lần đầu tham gia đánh địch, sĩ quan điều khiển tên lửa Nguyễn Văn Phiet có phần hồi hộp, nhưng bằng kiến thức đã học, ông nhanh chóng bám sát được một tốp 4 chiếc máy bay địch đang ngang nhiên bay vào trận địa. Đến khoảng cự ly 30 ki-lô-mét, Nguyễn Văn Phiệt xin phép phóng tên lửa. Được tiểu đoàn trưởng chấp nhận, ông đã ấn nút phóng 2 quả tên lửa ở cự ly 28 ki-lô-mét. Chiếc máy bay F105 trúng tên lửa bốc cháy dữ dội.


Tháng 6 năm 1972, thượng úy Nguyễn Văn Phiệt được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 57, Trung đoàn 261. Lúc này, đế quốc Mỹ leo thang ra miền Bắc tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ 2 bằng không quân. Địch thay đổi cách đánh, sử dụng nhiều loại nhiễu gây khó khăn cho ta trong việc bắt mục tiêu. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 361 phát động phong trào thi đua tìm cách đánh thắng máy bay mang nhiễu tạp trong đội hình máy bay Mỹ. Nguyễn Văn Phiệt đã cùng đồng đội luyện tập cách đánh mới kết hợp giữa trắc thủ xe điều khiển và ống nhòm TZK đặt trên xe ăng ten B gọi là trắc thủ PA00. Khoảng 8 giờ ngày 26 tháng 6 năm 1972, nhiều tốp máy bay địch bay vào đánh phá Hà Nội. Nguyễn Văn Phiệt ra lệnh cho các trắc thủ mở máy phát sóng, bám sát một tốp máy bay 4 chiếc bay cách trận địa 55 ki-lô-mét. Nhưng địch bắt đầu tung nhiễu, trên màn hiện sóng của ta chỉ thu được nhiễu tạp, không nhìn thấy mục tiêu. Nguyễn Văn Phiệt đã sử dụng phương pháp kết hợp trắc thủ PA00 chỉ máy bay, thông báo cho trắc thủ góc tà, phương vị vê tay quay để phát hiện đúng chiếc máy bay đang bay vào. Khi tốp máy bay vào gần trận địa, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt ra lệnh phóng hai quả theo phương pháp TT giãn cách nhau 6 giây. Hai quả tên lửa rời bệ phóng, được các chiến sĩ điều khiển tìm gặp mục tiêu, đạn nổ tốt. Chiếc máy bay F4-E bị trúng tên lửa bốc cháy rơi xuống làng Đại Kim. Đây là chiếc máy bay thứ 3.700 bị quân và dân miền Bắc bắn rơi, cũng là chiếc máy bay mang nhiễu trong đội hình đã thay đổi chiến thuật bay, mà suốt thời gian qua chưa có đơn vị nào bắn rơi được chúng. Chiếc máy bay này cũng là chiếc máy bay thứ 13 mà Nguyễn Văn Phiệt tham gia bắn rơi.


Đêm 18 tháng 12 năm 1972, máy bay B52 Mỹ bắt đầu đánh phá vào Hà Nội, Tiểu đoàn 57 tham gia đánh 3 trận, nhưng không tiêu diệt được chiếc B52 nào, trong khi đó các đơn vị bạn đã bắn rơi 5 chiếc B52, có chiếc rơi tại chỗ. Cả tiểu đoàn rút kinh nghiệm, mổ xẻ làm rõ nguyên nhân và chống tư tưởng sợ tên lửa sơ rai không đối đất của địch. 4 giờ 36 phút ngày 21 tháng 12 năm 1972, Tiểu đoàn 57  được lệnh vào cấp 1 để đón đánh địch. Càng về sáng càng trở nên căng thẳng vì cả đêm bộ đội mất ngủ, trận địa chỉ còn 3 quả đạn, xe đi nhận đạn chưa về. Ba quả đạn theo lý thuyết xạ kích chỉ đánh được một tran, mục tiêu có mặt phản xạ lớn, phải tiêu diệt bằng 2 đến 3 quả đạn. Tiểu đoàn 94 đã hết đạn (tiếng lóng gọi là bút chì), máy bay thì cứ bay vun vút, 6 tốp B52 lừng lững bay vào theo đường chì thoăn thoắt của các tiêu đồ viên. Từ Sở chỉ huy trung đoàn, Trung đoàn trưởng Trần Hữu Tạo động viên, giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt: “Các đồng chí k1 bình tĩnh, dũng cảm chiến đấu, quyết tâm bắn trúng, bắn rơi B52 tại chỗ”. Nguyễn Văn Phiệt hội ý nhanh với Chính trị viên tiểu đoàn Nguyễn Văn Ường roi báo cáo hạ quyết tâm: “K1 còn 3 bút chì, xin chia cho mỗi người 1 bút”. Trung đoàn trưởng đồng ý, đồng chí Chính ủy Trung đoàn Dương Đình Thảo còn động viên, lời động viên của chính ủy như tăng thêm nguồn sức mạnh cho kíp chiến đấu. Vào trận đêm ấy, kíp trắc thủ của Phân đội 57 giờ đây vẫn là những cán bộ, chiến sĩ có đủ bản lĩnh chiến đấu và trình độ, kỹ chiến thuật, đã từng bắn rơi tại chỗ máy bay Mỹ loại F4B ngày 27 tháng 6 năm 1972 - chiếc máy bay Mỹ thứ 3.700 bị bắn rơi trên miền Bắc. Đó là trắc thủ góc tà Ngô Ngọc Linh, trắc thủ cự ly Mè Văn Thi, trắc thủ phương vị Nguyễn Xuân Đài, sĩ quan điều khiển Nguyễn Đình Kiên và thượng úy Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt.


5 giờ sáng, các tốp B52 số 518, 532, 533 lần lượt bay vào. Trung đoàn giao nhiệm vụ cho tiểu đoàn 57 tiêu diệt tốp 518 phương vị 330, độ cao 10 ki-lô-mét. Tiểu đoàn dùng đài ra đa P12 và đài ra đa K860 bổ trợ sục sạo, phát hiện mục tiêu, đồng thời cho đài điều khiển PA mở máy thu nhiễu. Khí thế chiến đấu đêm đó khác với những đêm trước, nó tưng bừng, nhộn nhịp, trên khuôn mặt mọi người thể hiện lòng căm thù địch và ý chí quyết tâm chiến đấu, chiến thắng. Kíp chiến đấu đã tiến hành các biện pháp chọn thống nhất, chính xác giải nhiễu, so sánh giữa các đài ra đa để xác định rõ máy bay B52 của địch. Khi chiếc B52 ở cự ly 35 ki-lô-mét, tiểu đoàn trưởng ra lệnh phóng. Sĩ quan điều khiển Nguyễn Đình Kiên báo cáo quả đạn không đi. Nguyễn Văn Phiệt ra lệnh phóng quả thứ 2 ở cự ly 32 ki-lô-mét, góc tà độ 17-30, độ cao 10 ki-lô-mét. Đạn đi tốt, khi đạn bay đến cự ly 12 ki-lô-mét thì phát hiện máy bay B52 bay trong nhiễu trên cả 3 màn hiện sóng của trắc thủ. Lúc này, các trắc thủ có điều kiện bám chính xác máy bay B52. Khi đạn nổ, kíp trắc thủ đồng thanh một tiếng: “Nổ tiêu diệt mục tiêu!”, ngay lập tức trắc thủ PA00 là Đoàn Văn Súc và Nguyễn Đình Thanh cũng báo ngay về: “Mục tiêu bốc cháy rơi ở hướng tây - nam”, lúc đó là 5 giờ 9 phút. Vui mừng phấn khởi trước chiến công vừa lập được, mọi người chưa kịp trao đổi rút kinh nghiệm về trận đánh thì tiếng của đồng chí tiêu đồ lại vang lên: “B52 đang tiến vào Hà Nội”, lệnh chọn dải nhiễu và so sánh của Nguyễn Văn Phiệt đanh, rõ.  Trên không, các tốp B52 mang số hiệu 532, 533, 541… vẫn tiếp tục bay vào. Nguyễn Văn Phiệt tranh thủ nắm các phần tử, báo cáo lên sở chỉ huy trung đoàn, đồng thời lệnh cho kíp chiến đấu sẵn sàng đánh tiếp, lúc này chỉ còn một quả tên lửa trên bệ. Nguyễn Văn Phiệt xin diệt tốp 532, trung đoàn nhất trí. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt động viên kíp chiến đấu: “Cố gắng, còn một quả đạn cuối cùng, chúng ta phải đổi bằng 1 chiếc B52”. Tốp 532 có 3 chiếc tiếp tục bay vào ở cự ly 40 - 45 ki-lô-mét; căn cứ phần tử đài ra đa P12, đặt các phần tử để bắn. Nguyễn Văn Phiệt lệnh diệt mục tiêu cự ly 32 ki-lô-mét, góc tà 17-30, độ cao 10 ki-lô-mét, phương vị 355, một quả tên lửa được phóng lên. Đây là quả đạn cuối cùng của tiểu đoàn, đạn có điều khiển tốt, quá trình điều khiển đạn, nhiễu trong, ngoài đội hình đan xen, khó cho việc bám sát của trắc thủ. Nhưng với quyết tâm và kinh nghiệm sẵn có của 3 trắc thủ, đã bám sát vào một chiếc B52, đạn bay được 15 ki-lô-mét thì cả 3 màn trắc thủ và màn sĩ quan điều khiển thấy rõ mục tiêu, chỉ khoảng cách ngắn thôi là đạn gặp và tiêu diệt mục tiêu. Cự ly 24 ki-lô-mét, sĩ quan điều khiển hô: “đạn gặp mục tiêu”, các trắc thủ đều đồng thanh hô “đạn nổ trùm mục tiêu”. Mục tiêu bị tiêu diệt, trên màn hiện sóng mất nhiễu, mất tín hiệu mục tiêu. Trắc thủ PA00 báo cáo máy bay bốc cháy, cháy rất to, lúc đó là 5 giờ 19 phút. Đây là trận đánh cuối cùng của tiểu đoàn vào rạng sáng 21 tháng 12 năm 1972, máy bay B52 bị rơi tại chợ Thá, núi Đôi, Đa Phúc, Vĩnh Phúc.


Như vậy, trong 10 phút bằng 2 quả đạn cuối cùng Phân đội 57 đã bắn rơi 2 chiếc B52, có 1 chiếc rơi tại chỗ, bắt sống giặc lái, đạt kỷ lục về hiệu suất diệt B52 trong toàn chiến dịch. Đây là sự quyết tâm, là ý chí của con người, chiến tranh là sự đối đầu quyết liệt giữa hai bên, vũ khí trang bị do con người chế tạo ra, do con người sử dụng, vũ khí là yếu tố quan trọng. Nhưng con người, trí tuệ con người Việt Nam là yếu tố quyết định, thực tế nó đã quyết định thắng lợi của trận đánh, của chiến dịch và cả cuộc chiến tranh. Trong trận chiến đấu quyết liệt này, hòa chung với toàn Quân chủng, đơn vị đã trưởng thành và rút ra được một số bài học kinh nghiệm quý báu về tổ chức thực hành chiến đấu, về quyết tâm chiến đấu của bộ đội và sự phối hợp hiệp đồng chiến đấu giữa các lực lượng bảo vệ bầu trời Thủ đô Hà Nội trong những ngày tháng 12 năm 1972 lịch sử.


Sau chiến tranh, Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau: Trung đoàn phó Trung đoàn tên lửa 261, Trung đoàn trưởng Trung đoàn tên lửa 257, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không 369, Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không, Phó Tư lệnh về Chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân. Ông đã được Đảng và Nhà nước, quân đội tặng nhiều phần thưởng cao quý, được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vào ngày 3 tháng 9 năm 1973.


LẶNG LẼ PHÍA SAU    Theo lời kể của Trung tướng Lương Hữu Sắt


 Trong một phòng khách nhỏ ở số nhà 42 phố Tô Vĩnh Diện, phường Khương Trung, quận Đống Đa, Hà Nội, Trung tướng Lương Hữu Sắt đã vui vẻ nói với tôi:


- Để đánh thắng được “pháo đài bay” B52 có rất nhiều công việc phải làm, rất nhiều đơn vị tham gia, nhưng đơn vị chủ công đánh B52 chính là lực lượng tên lửa. Thành tích trong chiến đấu của các đơn vị hỏa lực thì đồng chí có thể xem trong các sách báo. Nhưng điều ít nhắc đến là việc bảo đảm sản xuất đạn tên lửa trong chiến dịch.


- Thưa bác, có phải có những lúc chúng ta sắp hết tên lửa đánh địch không?


Trung tướng trả lời:


- Không phải như vậy, tên lửa ta còn rất nhiều, nhưng rời từng bộ phận, phải sản xuất lắp ráp lại thì mới có thể dùng đánh địch được.


- Bác kể cho cháu nghe về chuyện sản xuất đạn tên lửa những ngày ấy đi.


Ngừng lại một lúc, giọng ông chậm rãi:


“Năm ấy mùa đông Hà Nội như lạnh hơn. Cuộc tiến công chiến lược mà quân và dân ta trên chiến trường miền Nam, đặc biệt là ở Quảng Trị, Trung Trung Bộ, Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ đã làm cho chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ có nguy cơ sụp đổ hoàn toàn. Đế quốc Mỹ tăng cường ào ạt lực lượng không quân và hải quân làm chỗ dựa chủ yếu chi viện hỏa lực cho quân ngụy Sài Gòn chiếm lại các vùng mới giải phóng, đồng thời trở lại đánh phá miền Bắc để gây sức ép với Chính phủ ta. Ngày 25 tháng 11 năm 1972, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị: “Tăng cường sẵn sàng chiến đấu”. Trong chỉ thị, Quân ủy Trung ương nhận định: “Có khả năng địch sẽ sử dụng máy bay chiến lược B52 để ném bom Hà Nội và Hải Phòng”.


Ngày 31 tháng 10 năm 1972, Bộ Tư lệnh Quân chủng tổ chức, chỉ đạo hội nghị rút kinh nghiệm chiến đấu và thông qua tài liệu “Cách đánh B52”. Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri trực tiếp giao nhiệm vụ cho tôi chỉ huy chuẩn bị đạn tên lửa đánh B52. Đồng chí Đỗ Đức Dục - Trưởng phòng tên lửa và anh em trong Cục Kỹ thuật đã xây dựng phương án bảo đảm đạn tên lửa cho chiến đấu. Tôi chấp hành mệnh lệnh đồng thời xây dựng kế hoạch và báo cáo trực tiếp Tư lệnh Lê Văn Tri phê duyệt.


Ngày đó, với cương vị Cục trưởng Cục Kỹ thuật Quân chủng, tôi rất lo lắng việc chuẩn bị đạn tên lửa sẵn sàng cho việc đánh địch khi chúng sử dụng máy bay B52 vào Hà Nội. Lực lượng tên lửa bảo vệ Hà Nội của ta khi ấy có hai đoàn: Đoàn H61 và Đoàn H57. Mỗi một đoàn có bốn tiểu đoàn hỏa lực và một tiểu đoàn kỹ thuật. Đến bây giờ tôi muốn nói đến thành tích của các tiểu đoàn kỹ thuật, đó là các Tiểu đoàn 80 thuộc Đoàn H57 và Tiểu đoàn 95 thuộc Đoàn H61, nơi sản xuất đạn, tiếp đạn cho các đơn vị hỏa lực bắn rơi máy bay B52. Lúc ấy, đế quốc Mỹ phong tỏa cảng Hải Phòng, muốn vận chuyển tên lửa chỉ còn con đường bộ xuyên qua Trung Quốc. Liên Xô và Trung Quốc, cả hai nước cùng ủng hộ Việt Nam đánh Mỹ. Liên Xô cung cấp cho ta đạn tên lửa, còn Trung Quốc cho ta vận chuyển số đạn ấy bằng đường tàu hỏa đến Đồng Đăng.


Các quả đạn tên lửa được tháo rời từng bộ phận, đóng thùng đến ga tàu phải dùng cần cẩu cẩu xuống. Các tiểu đoàn kỹ thuật phải sử dụng xe chuyên dụng vận chuyển những thùng đựng đạn, cánh tên lửa... di chuyển vào khu sơ tán cách ga chừng 30 đến 50 ki-lô-mét, cất giấu vào nơi sơ tán rồi lại quay ra ga tiếp tục vận chuyển số tên lửa còn lại vào rừng. Tất cả đều phải làm đêm. Làm sao trong một đêm giải phóng số đạn trên khỏi tàu hỏa để địch không phát hiện được. Sau đó, các đơn vị lên nhận đạn tên lửa nơi sơ tán chuyển về đơn vị của mình qua đường Đồng Đăng, Hà Nội, hoặc Đồng Đăng về Hải Phòng. Việc vận chuyển ấy kéo dài năm, sáu đêm mới hết. Rồi tuần sau lại có chuyến tàu đến, công việc lại bắt đầu. Một quá trình chuẩn bị thật gian nan, vất vả và cũng đòi hỏi hết sức tỷ mỷ. Bởi vì các bộ phận một quả tên lửa được đóng trong các thùng khác nhau, thùng đầu đạn, thùng đuôi, thùng cánh, thùng nhiên liệu... Tài liệu lại không đi theo cùng, chuyên gia Liên Xô chuyển lý lịch từng quả tên lửa về Bộ Quốc phòng, từ đó mới phát xuống các đơn vị để lắp ráp tên lửa. Một điều kỳ diệu là không một quả tên lửa nào bị nhầm lý lịch, hoặc lạc thùng.


Trong 12 ngày đêm, địch tập kích đường không vào Hà Nội, điều làm tôi lo lắng nhất là việc bảo đảm sản xuất đạn tên lửa kịp cho các đơn vị hỏa lực đánh địch. Những ngày đầu tiên của chiến dịch (18, 19, 20 tháng 12 năm 1972) khi địch đưa B52 vào ném bom Hà Nội, ta hoàn toàn không bị bất ngờ vì bộ đội đã được chuẩn bị sẵn sàng mọi mặt, trong đó đạn tên lửa đã được chuẩn bị trước đủ bắn. Trong những đêm đó, mỗi một mục tiêu B52 có khi phải bắn ba quả. Bầu trời Hà Nội chìm trong khói lửa. Nhiều chiếc B52 đã bị bắn rơi tại chỗ. Đêm 18 tháng 12, ta bắn rơi ba chiếc B52, đêm 19 tháng 12 ta bắn rơi hai chiếc B52, đêm 20 ta bắn rơi bảy chiếc B52. Nhưng sau đêm 19 rạng ngày 20 vấn đề thiếu đạn đã trở nên phổ biến ở các tiểu đoàn hỏa lực tên lửa. Chiều ngày 20 tháng 12, Tư lệnh và Chính ủy Quân chủng trực tiếp giao nhiệm vụ cho tôi và Cục phó Phan Thái phải tích cực giải quyết vấn đề sản xuất đạn tên lửa, bảo đảm cho nhiệm vụ đánh B52. Anh Phan Thái trực tiếp xuống chỉ đạo sản xuất đạn ở Tiểu đoàn kỹ thuật 95 ở phía bắc sông Hồng. Còn tôi cùng với Phó phòng tên lửa Trần Trung Ngọc xuống Tiểu đoàn 80 ở Phùng, nơi sản xuất đạn cho các tiểu đoàn hỏa lực Đoàn H57. Lòng như lửa đốt, tôi vội xuống tận nơi kiểm tra. Hóa ra việc sản xuất tên lửa không kịp vì ba bãi để vật tư riêng lẻ, muốn lắp ráp được một quả tên lửa phải có một dây chuyền. Muốn vận chuyển vật tư đến dây chuyền sản xuất bãi nào cũng cần phải có cần cẩu trong khi chỉ có một cần cẩu K61 duy nhất. Qua ba đêm làm việc cật lực, anh em quá mệt mỏi, mắt thâm quầng, chân tay rã rời. Thiếu đèn pin để làm đêm, thiếu vải bạt, ni lông che mưa. Mặc dù Tiểu đoàn phó Nguyễn Huy đã tổ chức phát động phong trào: “Thi đua quyết thắng B52”, 100% quân số, kể cả anh em đang yếu mệt đều công tác với quyết tâm cao nhưng năng suất sản xuất đạn tên lửa vẫn thấp. Tôi đã thấy nhiều đồng chí ngủ gục bên máy. Tư lệnh Lê Văn Tri trực tiếp giao nhiệm vụ cho tôi phải chỉ đạo tìm phương án tháo gỡ với Tiểu đoàn 80. Sáng ngày 21, tôi đã họp tất cả các chỉ huy đơn vị cùng họp bàn đề ra phương án. Tôi đề nghị Tư lệnh Quân chủng điều tiểu đoàn kỹ thuật của Đoàn H74 vừa từ Quảng Trị ra đang chờ nhiệm vụ, tăng cường cho dây chuyền sản xuất tên lửa của Tiểu đoàn 80, điều đội lắp ráp đạn của xưởng A31 xuống tăng cường tiếp cho Tiểu đoàn 80. Việc sản xuất tên lửa được chia một ngày ra ba kíp, dây chuyền liên tục làm việc, tập trung tất cả vật tư của ba bãi lại một nơi. Theo đề nghị của Cục Kỹ thuật, Bộ Tư lệnh Quân chủng đã chỉ thị cho quyền Cục trưởng hậu cần Mai Xuân Tiến tổ chức cho cơ quan mang đường sữa, lương khô và cả thuốc chống buồn ngủ xuống các tiểu đoàn kỹ thuật, cấp phát đến tận tay cán bộ chiến sĩ... Những quả đạn mang dòng chữ: “Trả thù cho đồng bào Hà Nội” bằng sơn trắng lần lượt rời dây chuyền sản xuất theo các xe TZM về các tiểu đoàn hỏa lực tên lửa. Năng suất, chất lượng lắp ráp đạn tên lửa tăng lên rõ rệt. Bình thường một dây chuyền sản xuất tên lửa chỉ làm được 8 quả theo quy định, nhưng sau khi nghiên cứu cải tiến quy trình lắp ráp đạn, tổ chức sản xuất hợp lý đã tăng lên tới 20 quả một ngày đêm. Từ ngày 21 đến 25 tháng 12, đạn tên lửa đã giải quyết xong. Cũng là lúc kẻ địch đang tạm dừng các đợt tấn công ác liệt.


Từ 22 giờ 5 phút đêm ngày 26 tháng 12, địch sử dụng 105 lần chiếc B52 và 110 lần chiếc máy bay chiến thuật hộ tống đánh ồ ạt, liên tục, đồng thời từ nhiều hướng và đánh tập trung một đợt vào nhiều mục tiêu trên của khu vực Hà Nội, Hải Phòng và Thái Nguyên. Đây là trận đánh lớn nhất và là trận then chốt trong cuộc tập kích đường không chiến lược của địch.


Chúng đã bị bất ngờ trước lưới lửa của Phòng không ta, 8 máy bay B52 bị bắn rơi trong đêm. Ngày 27 tháng 12, địch cho máy bay đến ném bom khu vực tập trung sản xuất tên lửa. Do dự đoán trước âm mưu của địch, ta đã di chuyển, sơ tán trước đó, chỉ còn vài chiếc máy hỏng và vỏ đạn ở lại...


Kết thúc chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” cả nước nức lòng trước những chiến công của bộ đội Phòng không - Không quân. Tổng số 81 máy bay Mỹ bị bắn rơi, trong đó có 34 máy bay B52. Rất nhiều đơn vị hỏa lực được tuyên dương Anh hùng. Trong chiến công chung ấy có sự đóng góp công sức, trí tuệ của cán bộ, chiến sĩ các tiểu đoàn kỹ thuật 80, 95... Đó là một chiến công thầm lặng không kém gì chiến công của các chiến sĩ trực tiếp bắn rơi máy bay B52...


Chia tay Trung tướng Lương Hữu Sắt, tôi còn nhớ mãi giọng trầm ấm của ông: “Nhiều năm đã qua đi nhưng tôi luôn nhớ về họ với những gian lao vất vả thầm lặng mà họ đã trải qua để góp phần cho thắng lợi của trận “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972.


VỊ THAM MƯU PHÓ THAM GIA ĐÁNH B52


Sáng tháng 5 năm 2012, Thiếu tướng Đỗ Văn Phúc - nguyên Phó Tham mưu trưởng đặc trách về tên lửa của Sư đoàn Phòng không Hà Nội trong những ngày đánh B52, đã đến số 8 Nguyễn Bỉnh Khiêm để chia sẻ với tôi bài hát mà ông mới sáng tác. Ông say sưa hát bài: “Kíp săn B52” với những ca từ ca ngợi bộ đội tên lửa: “Kíp chiến đấu 5 người/ Tên lửa Đờ-vin-na/ Năm anh em chúng ta/ ra đời trong bão táp/ Hãy phát sóng lên nào/ Rồng lửa Thành Thăng Long/ thiêu cháy B52/vang lên bài ca chiến thắng/ Hãy phát sóng trong tầm bắn/ Giữ bám sát cho đều tay/ Quyết phóng tiếp trong giải nhiễu/ Lắc ăng ten ta gạt sơ-rai/ la la la la la…/ Phóng, phóng sẵn sàng phóng…”. Đây là bài hát ông muốn gửi tới kíp chiến đấu tên lửa năm xưa đã hạ gục những pháo đài bay B52. Bài hát này ông đã ấp ủ sáng tác nhiều năm qua. Thiếu tướng Đỗ Văn Phúc tâm sự: “Từng là người tham gia chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, tôi đánh giá rất cao vai trò của bộ đội tên lửa góp phần quan trọng trong tiêu diệt B52. Tôi rất thích bài hát: “Năm anh em trên một chiếc xe tăng”, nhưng chính tôi cũng luôn đặt câu hỏi tại sao lại không có bài hát cho kíp chiến đấu tên lửa 5 người? Buổi sáng hôm đó, tôi cùng với Thiếu tướng Đỗ Văn Phúc tìm lời để sáng tác ca khúc: “Kíp săn B52”. Là người đã có nhiều năm công tác tại Quân chủng Phòng không - Không quân, lại có điều kiện nghiên cứu nhiều về chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, nên những ý tưởng của tôi đã được Thiếu tướng Đỗ Văn Phúc đưa vào làm lời bài hát.

Nho nhã, lịch thiệp, Thiếu tướng Đỗ Văn Phúc đã kể cho tôi nghe ông đến với âm nhạc như thế nào. Sinh ra tại một làng quê quan họ Bắc Ninh, ngay từ hồi còn là học sinh trường Trung học phổ thông Lương Ngọc Quyến, Thái Nguyên, ông đã thích ca hát. Bạn học cùng ở trọ với ông tên là Hổ “thọt” có cây đàn ghi ta thỉnh thoảng mang ra bập bùng. Cứ mỗi khi nghe tiếng đàn là ông lại say như điếu đổ, thế là ông tìm cách học lỏm. Ông nịnh cậu ta bằng mọi cách: mua đồ ăn, giặt quần áo, có khi làm bài hộ cho cậu ấm Hổ để “nó cho mượn đàn nghịch một lúc”, có lúc cao hứng “nó dạy cho vài nốt”. Tháng 11 năm 1949, trước tình hình khói lửa chiến tranh, nghe tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, ông gác bút nghiên, cùng với các bạn trong trường như anh Nguyễn Đồng Thoại, Lê Thủy... lên đường nhập ngũ. Ông được vào học súng cối khóa 6 trường Lục quân Trần Quốc Tuấn. Ở đây, ông đã sáng tác bài “Đại đội ca” để anh em học viên nghêu ngao hát. Ra trường cuối năm 1951, ông đã bước ngay vào cuộc chiến đấu trên các chiến trường Bắc Ninh, Tây Bắc, Thượng Lào. Tại chiến trường Tây Bắc trong trận Bản Mo, một chiến sĩ tặng ông chiếc kèn ác-mô-ni-ca chiến lợi phẩm lấy được của địch và nói:


- Em mong chiếc kèn này sẽ giúp anh động viên đại đội trong những lúc khó khăn.


Thế là chiếc kèn gắn bó cùng Đỗ Văn Phúc trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp. Trên chặng đường hành quân, tiếng kèn réo rắt vang lên với khúc quân hành, thôi thúc các chiến sĩ lên đường đánh giặc.


Đến năm 1954, ông tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử trên cương vị Đại đội trưởng Đại đội 56 “Đại đội bộ binh pháo” Trung đoàn 98 Đại đoàn 316. Năm đó ông mới 21 tuổi, chẳng những đánh giặc giỏi mà văn nghệ cũng rất cừ. Dạo đó, chấp hành quyết định rất táo bạo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp chuyển phương châm từ “Đánh nhanh giải quyết nhanh” sang “Đánh chắc, tiến chắc”, các đơn vị lui quân ra ngoài để bắt tay vào xây dựng trận địa, làm đường, huấn luyện quân sự và chính trị. Giữa lúc bộn bề công việc chuẩn bị mở màn chiến dịch ấy thì ông được lệnh của chỉ huy Đại đoàn dẫn tổ văn nghệ của đại đội lên đại đoàn làm nhiệm vụ mới. Lúc đầu, ông hơi bất ngờ và hoang mang, tưởng trên không tin tưởng mình. Nhưng sau mới biết đại đoàn muốn động viên nâng cao tinh thần bộ đội trước khi vào trận đánh. Do vậy, ngoài việc mở đợt “chỉnh huấn, chỉnh quân”, tổ diễn viên với vở “Hàn Đỗ” sẽ biểu diễn cho bộ đội các đơn vị xem. Đây là vở kịch do Đại đội trưởng Phúc cùng anh em trong đại đội tự biên đã đoạt giải nhất về văn nghệ của trung đoàn. Nội dung vở kịch nói về sự bóc lột, áp bức, đến tán tận lương tâm của tên quan lại, địa chủ Hàn Đỗ với cha con tá điền Tuất. Tên Đỗ đã từng bước cướp hết ruộng vườn của ông Tuất, buộc cha con ông phải làm thuê cho hắn. Thấy cô Lý - con gái ông Tuất xinh đẹp, là người yêu của một chiến sĩ đang ngoài chiến trường, hắn rắp tâm cướp đoạt cô để thỏa mãn dục vọng và bôi nhọ hạnh tiết người yêu bộ đội. Cha con ông Tuất đã phản kháng quyết liệt, Hàn Đỗ đã dùng thủ đoạn ly gián, bức tử ông Tuất. Trong khi xác ông Tuất chưa được chôn cất, thì hắn đã giở trò hãm hiếp cô Lý. Vở kịch lên đến đỉnh điểm khi để che mắt mụ vợ “Hoạn Thư” của mình, y lại đường mật âu yếm theo kiểu Tây với vợ y, một nụ hôn “say đắm” tưởng không dứt. Kết thúc vở kịch là một người làm thuê cho Hàn Đỗ đã tìm cách cứu thoát cô Lý. Đại đội trưởng Đỗ Văn Phúc phải đóng vai Hàn Đỗ vì ông có khiếu văn nghệ nhất. Do diễn xuất tốt quá, nên trong các buổi diễn ông đã bị các khán giả là các đồng chí mình ném đất ném đá, có anh còn quá khích lao lên đấm túi bụi vào “Hàn Đỗ”, cùng với tiếng la hét: “Đả đảo Hàn Đỗ, đả đảo địa chủ...”. Hồi ấy, ở hậu phương đang bắt đầu bước vào cuộc cải cách ruộng đất, nhằm đánh đổ bọn địa chủ, cường hào, giành lại ruộng đất cho dân cày. Thắng lợi ở hậu phương qua những bức thư gửi lên Điện Biên Phủ như thôi thúc tinh thần chiến sĩ. Với những người lính hầu hết là bần cố nông thì vở kịch đã mang tính hiện thực sâu sắc. Họ càng thêm căm thù giai cấp địa chủ phong kiến, căm thù lũ đế quốc mà quyết chiến đấu đánh đổ bọn chúng. Sau đợt diễn ấy, các diễn viên được thủ trưởng Đại đoàn khen ngợi, nhưng Đại đội trưởng Đỗ Văn Phúc mang về đơn vị mấy vết bầm trên người.


Trong chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, Đại đội “Bộ binh pháo” 56 đã tham gia 31 ngày đêm, giữ đồi C1 cùng các đơn vị trong Trung đoàn 98 thuộc Đại đoàn 316. Đại đội của ông có một trung đội với ba khẩu pháo ĐKZ 57 ly và ba trung đội với chín khẩu cối 81. Cuộc chiến đấu vô cùng gay go, ta và địch giằng co nhau từng tấc đất, từng mét hào trên đồi C1, có những lúc địch đánh vào tung thâm phòng ngự của ta và chiếm lại được cột cờ trên đỉnh đồi C1, những trận giáp lá cà xảy ra rất ác liệt. Kết thúc chiến dịch, gần 75% quân số đại đội hy sinh, sáu cán bộ chỉ huy chỉ còn lại hai đồng chí. Nhưng giữa những trận đánh ác liệt là những giây phút yên lặng đến ghê người. Đại đội trưởng Phúc cùng với Chính trị viên đại đội Vũ Hoài Chương đã dùng cây kèn bé nhỏ của mình thổi những bài hát giữa chiến trường mù mịt khói súng. Tiếng kèn của các ông như thúc giục làm cho các chiến sĩ quên đi mọi gian khổ, hy sinh, sẵn sàng lao vào cuộc chiến đấu. Đặc biệt, kẻ địch cách đó vài chục mét khi nghe tiếng kèn của các ông cũng dỏng tai lên nghe. Bình thường, ta đưa loa gọi hàng, chúng bắn xối xả đáp lại. Nhưng khi nghe tiếng kèn thì chúng xì xào rồi im nghe mà không có thái độ gì. Ông Phúc thổi hết bài này, qua bài khác, thổi hết những bài ông biết, thổi đi thổi lại, đặc biệt ông thổi các bài ca cách mạng như “Qua miền Tây Bắc”... Sau tiếng kèn của ông là lời kêu gọi địch đầu hàng bằng loa của ta. Có lẽ ông Phúc và ông Chương là một trong những người đầu tiên dùng phương pháp địch vận bằng kèn ác-mô-ni-ca ở mặt trận Điện Biên Phủ.


Kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp, lại đến cuộc kháng chiến chống Mỹ đã làm ông không có thời gian nghiên cứu âm nhạc. Trong cuộc đụng đầu lịch sử “Điện Biên Phủ trên không” của quân dân ta với các pháo đài bay B52 mùa đông năm 1972, ông là Tham mưu phó đặc trách về tên lửa Sư đoàn Phòng không 361 Hà Nội, được mệnh danh là Sư đoàn Phòng không “Cận Vệ Đỏ” của Thủ đô. Trước khi vào cuộc đọ sức với B52, Đỗ Văn Phúc đã cùng Phòng Tham mưu Sư đoàn 361 xây dựng phương án đánh B52. Không những được báo cáo phương án ở Sư đoàn, ông còn được vinh dự lên báo cáo Bộ Tham mưu Quân chủng. Trong chiến dịch 12 ngày đêm, ông bám sát sở chỉ huy liên tục, ăn ngủ tại sở chỉ huy Bộ Tư lệnh Phòng không Hà Nội. Ông cho biết, nhiệm vụ của bộ đội thông tin trong những ngày đó  hết sức nặng nề. Phải luôn bảo đảm thông tin hữu tuyến, vô tuyến cho Sở chỉ huy đi các hướng. Nhất là đêm 19 tháng 12, sở chỉ huy Sư đoàn di chuyển từ K5 - Làng Cót về K4 - Mai Lĩnh, cách sở chỉ huy cũ 15 ki-lô-mét, các chiến sĩ thông tin suốt đêm triển khai hệ thống thông tin cho sở chỉ huy mới. Ngay sau trận đánh đêm 18 tháng 12, Bộ Tổng Tham mưu đã chỉ thị: “Bộ đội tên lửa đêm chiến đấu, ngày ngụy trang sơ tán. Bộ đội ra đa phải thường xuyên theo dõi địch, quản lý chặt chẽ vùng trời cả ngày đêm…”. Tham mưu phó Đỗ Văn Phúc cho biết quyết định của trên rất sáng suốt khi dành lực lượng tên lửa để đánh B52 mà không được phép dùng tên lửa bắn các loại máy bay khác. Bộ đội cao xạ có trách nhiệm bảo vệ các trận địa tên lửa.


Nhớ về những ngày đó, Thiếu tướng Đỗ Văn Phúc nhớ đến kỷ niệm đơn vị buộc phải nói dối Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Chẳng là sáng ngày 20 tháng 12 năm 1972, Đại tướng Võ Nguyên Giáp xuống thăm trận địa Tiểu đoàn tên lửa 77. Sau khi nói chuyện động viên cán bộ, chiến sĩ, Đại tướng muốn xuống trận địa xem quy trình bắn B52 của kíp chiến đấu tên lửa. Do tình hình máy bay địch sắp hoạt động, mà mục tiêu đánh phá của chúng là trận địa tên lửa của ta, việc bảo đảm an toàn cho Đại tướng rất quan trọng. Phó Tư lệnh Sư đoàn Trần Nhẫn và Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn đã phải nói dối Đại tướng là khí tài đang hỏng, anh em đang tập trung khắc phục. Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn giới thiệu “khan” cho Đại tướng nghe. Đại tướng căn dặn: “Không sao, mình xuống đây chủ yếu thăm, động viên bộ đội phòng không ta mà chủ yếu là tên lửa các đồng chí chiến đấu tốt hơn. Xem thao diễn thế cũng được rồi. Nhưng phải động viên bộ đội khắc phục ngay những hỏng hóc bất thần, đừng để lỡ thời cơ chiến đấu…”.


Thiếu tướng Đỗ Văn Phúc cũng đánh giá cao các trạm quan sát mắt của Sư đoàn 361 lúc bấy giờ đặt trên đỉnh núi Ba Vì, Tam Đảo, núi Chè (Bắc Ninh) và trên nóc ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại Hà Nội. Không những xác định được vị trí máy bay rơi, mà các trạm quan sát mắt còn góp phần theo dõi hoạt động của máy bay B52. Có một kỷ niệm nhỏ vào sáng ngày 29 tháng 12 năm 1972, đang trực Sở chỉ huy thì Tham mưu phó Đỗ Văn Phúc nhận được cú điện thoại từ Sở chỉ huy Quân chủng của Phó Tư lệnh Quân chủng Hoàng Văn Khánh: “Sao tên lửa Hà Nội chưa đánh B52?”. Trên màn tiêu đồ 99 đúng là có đường bay B52 đi vào Hà Nội. Đỗ Văn Phúc vội gọi các đài quan sát mắt thì đều báo cáo không thấy B52 vào Hà Nội. Ông gọi báo cáo Phó Tư lệnh Hoàng Văn Khánh là B52 chưa vào Hà Nội. Phó Tư lệnh Khánh cho biết: “Anh Văn hỏi đấy?”. Đỗ Văn Phúc muốn kiểm tra chắc thêm, ông gọi xuống các trung đoàn tên lửa, thì đều nghe báo cáo không phát hiện tốp B52 nào vào Hà Nội, mà B52 đang đánh phá ở Thái Nguyên. Hóa ra là do sự nhầm lẫn của chiến sĩ tiêu đồ, nên vẽ sai đường đi của B52.


 Tham mưu phó Đỗ Văn Phúc đã chiến đấu dũng cảm, cùng đồng đội tiêu diệt hàng chục máy bay B52, góp phần đập tan cuồng vọng “đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá” của Tổng thống Ních-xơn, buộc chúng phải cúi đầu ký Hiệp định Pa-ri và rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Sau này ông rời Quân chủng Phòng không -Không quân, chuyển sang làm giáo viên khoa nghệ thuật chiến dịch Học viện Quân sự cấp cao, rồi Tùy viên quân sự Việt Nam tại Liên Xô, nhưng trong lòng ông luôn nhớ về Quân chủng Phòng không - Không quân với những tháng năm chiến đấu bảo vệ Hà Nội. Sau khi được nghỉ hưu, ông bắt tay vào nghiên cứu âm nhạc. Ông mua sách nhạc về tự học và những bài hát mang nặng niềm tâm sự của ông ra đời. Ca khúc “Hà Nội em và tôi”, đã đi sâu vào lòng bè bạn, đồng đội của ông: “Hà Nội em và tôi/ Ta sinh ra trong bóng dài đêm tối/ ta bên nhau trong những ngày bão lửa/ Hà Nội tôi và em, ta xa nhau bước lên đường chiến đấu/ ta ra đi để sớm trở về...”.


Thiếu tướng Đỗ Văn Phúc đến với âm nhạc bằng tình yêu, bằng cuộc đời chiến đấu gian khổ của chính mình. Từng nốt nhạc, từng ca từ thấm máu của bao đồng đội đã hy sinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Bài hát “Kíp săn B52” là tấm lòng của ông gửi đến các chiến sĩ tên lửa đã lập công xuất sắc, tiêu diệt B52 cách đây 40 năm.


(còn tiếp)


Nguồn: Thắng B52 trên bầu trời Hà Nội. Tập Ký của Đoàn Hoài Trung. NXB Quân đội Nhân dân, 2012. Cảm ơn nhà văn Đoàn Hoài Trung đã gửi tác phẩm tới www.trieuxuan.info!


 

trieuxuan.info