06.01.2013
Đoàn Hoài Trung
Thắng B52 trên bầu trời Hà Nội (5)

CHIẾN CÔNG CỦA BỘ ĐỘI RA ĐA Trong trận “Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972, vai trò của bộ đội ra đa rất quan trọng trong việc phát hiện đường bay B52 vào Hà Nội. Thật thú vị, một trong những Trung đoàn trưởng ra đa ngày ấy lại là người Thành phố Hồ Chí Minh. Hướng tới kỷ niệm 40 năm chiến thắng B52, tôi tìm gặp trò chuyện với Đại tá Đỗ Văn Năm - nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn Ra đa 291, đơn vị ra đa đầu tiên phát hiện B52 bay vào Hà Nội, đêm 18 tháng 12 năm 1975.


Tiếp tôi trong ngôi nhà khang trang giữa Thành phố Hồ Chí Minh, Đại tá Đỗ Văn Năm vui vẻ giãi bày:

- Mình ra đi chiến đấu từ Sài Gòn, trải qua hai mùa kháng chiến, đi khắp mọi miền đất nước, giờ lại trở về quê hương sống những ngày tuổi già.


Nhắc đến những ngày đánh B52 cách đây 40 năm, ông Đỗ Văn Năm như được sống lại những kỷ niệm của một thời gian khổ, nhưng cũng rất đỗi hào hùng. Đại tá Đỗ Văn Năm sinh năm 1930 tại xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Mùa thu năm 1945, chàng thanh niên chưa đầy 16 tuổi đã tham gia cách mạng, làm liên lạc cho các chú công an, hòa trong dòng người đi giành chính quyền. Chỉ một năm sau, Đỗ Văn Năm đã gia nhập quân đội thuộc Chi đội 12 Hóc Môn, bắt đầu những tháng ngày chiến đấu gian khổ trên chiến trường miền Đông Nam Bộ. Năm 1952, Đỗ Văn Năm được cử ra Bắc, sau đó đi học Trường sĩ quan Lục quân khóa 8 tại Côn Minh, Trung Quốc. Sau khi về nước, ông được điều về Đại đoàn 367. Năm 1958, ông được phong quân hàm thượng úy và được bổ nhiệm làm đại đội trưởng đại đội ra đa thuộc Trung đoàn tình báo Phòng không  260. Sau thời gian học chuyên môn, ông được bổ nhiệm làm Tham mưu phó Trung đoàn ra đa 291 mang tên Đoàn ra đa Ba Bể. Đoàn ra đa Ba Bể là trung đoàn ra đa ra đời đầu tiên của quân đội ta. Đoàn đã vinh dự thực hiện được sứ mệnh của mình ngay từ ngày đầu giặc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc (ngày 5 tháng 8 năm 1964 đến đỉnh cao là cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 trong 12 ngày đêm tháng chạp năm 1972).


Ông Đỗ Văn Năm vinh dự được là một trong số cán bộ đầu tiên của Trung đoàn 291 và đến trận “Điện Biên Phủ trên không” này với cương vị là Trung đoàn trưởng (Trung đoàn trưởng từ năm 1968 đến 1973). Cùng với sự phát triển chung của Quân chủng, Binh chủng Ra đa đã có thêm nhiều đơn vị mới, nhưng đoàn Ba Bể với bề dày kinh nghiệm chiến đấu vẫn thường được cấp trên giao nhiệm vụ án ngữ những hướng, những vị trí quan trọng.


Ngay từ trước cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 của Mỹ, trung đoàn đã dàn trận trên phía nam Quân khu 4 từ vĩ tuyến 20 trở vào, nơi địch vẫn đang đánh phá ác liệt. Trung đoàn nằm trong trung tâm đánh phá của chúng. Đại đội 45 chủ lực của trung đoàn cũng bị địch ném bom B52 sát trận địa, ăng ten, ống dẫn sóng BRV11 của đại đội đã bị tên lửa sơ-rai của chúng đánh hỏng. Nhưng chính ở nơi khó khăn, gian khổ, ác liệt này trung đoàn có điều kiện phát hiện được sớm nhất B52 cất cánh từ Guam, Utapao, Thái Lan... vào đánh phá miền Bắc, chủ yếu là Hà Nội. Âm mưu rất thâm độc, nham hiểm của Mỹ hòng buộc ta phải chấp nhận các điều kiện của chúng đặt ra ở Hội nghị Pa-ri. Ngay từ trước đó một tháng, Trung đoàn 291 đã được quán triệt sâu sắc nhiệm vụ. Được biết rằng, chúng sẽ không chỉ huy động lực lượng lớn cả máy bay chiến lược B52 và các loại máy bay khác lớn chưa từng có mà còn đẩy mạnh tác chiến điện tử, tức là gây nhiễu lên đỉnh cao nhất. Đây sẽ là khó khăn lớn nhất đối với bộ đội ra đa khi giặc Mỹ muốn “bịt mắt” hoàn toàn lực lượng Phòng không - Không quân của chúng ta để chúng dễ dàng vào đánh phá Thủ đô Hà Nội.


Thấy rõ trách nhiệm lớn lao đó trước vận mệnh của Tổ quốc, bên cạnh việc giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao ý chí quyết thắng cho cán bộ, chiến sĩ, khi địch chưa triển khai cuộc tập kích chiến lược, Đảng ủy, Ban chỉ huy Trung đoàn 291 đã có chủ trương, nghị quyết rất chính xác. Đó là phải kết hợp thật chặt chẽ hai nhiệm vụ tác chiến và huấn luyện, lấy thực tế trong tác chiến đã rút ra để huấn luyện, tranh thủ mọi thời gian để huấn luyện. Trọng tâm huấn luyện là “vạch nhiễu tìm B52”. Với chủ trương đó, các trắc thủ trong tất cả các kíp chiến đấu đều thuộc lòng hàng ngàn sóng về cố định, địa hình, hàng trục loại nhiễu của B52 và phân biệt nó với nhiễu của các loại máy bay khác. Đồng thời, phải phán đoán nắm chắc hướng nào B52 sẽ bay vào. Và có nhiều phương án xử lý khác nhau được hiệp đồng thuần thục trong đơn vị để đạt được mục tiêu cao nhất là cùng với toàn Binh chủng Ra đa, đoàn Ba Bể phải là “mắt thần” của Việt Nam phát hiện B52 của Mỹ xâm phạm vùng trời của ta.


*


Thời kỳ Ních-xơn cho không quân, hải quân đánh phá miền Bắc, cùng với sự phát triển chung của Quân chủng, Binh chủng Ra đa đã có thêm lực lượng, nhưng đoàn Ba Bể của Trung đoàn trưởng Đỗ Văn Năm với bề dày kinh nghiệm chiến đấu vẫn thường được cấp trên trao cho chắn giữ ở những hướng, những vị trí quan trọng.


Điểm nổi bật nhất trong quá trình chuẩn bị chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” là Binh chủng đã đề nghị lên cấp trên kịp thời điều chỉnh đội hình chiến đấu. Tháng 11 năm 1971, Trung đoàn 291 được điều từ Hải Phòng vào Quân khu 4 với những đơn vị ra đa chốt mạnh vừa thực hiện chủ trương “hướng ra chiến trường”, vừa thực hiện ý định chống nhiễu chiến thuật để phát hiện 2 đường bay cơ bản của B52 theo hướng tây nam và đông nam vào đánh Hà Nội, Hải Phòng. Tiếp đó, do xác định rõ đối tượng tác chiến chủ yếu nên Bộ Tư lệnh Binh chủng đã tập trung nghiên cứu tính năng, thủ đoạn hoạt động của B52, bổ sung hoàn chỉnh quy trình xử trí, thao tác chống nhiễu phát hiện B52, máy bay tầng thấp và chống tên lửa sơ-rai. Việc tổ chức rút kinh nghiệm ở các đơn vị, nhất là hội nghị chống nhiễu phát hiện B52 của Binh chủng ở Đại đội 18 đã giúp cho bộ đội nêu cao quyết tâm phát hiện bằng được B52, thống nhất tư tưởng chỉ đạo tác chiến và quy trình xử trí để phát hiện được B52 trong mọi tình huống.


Khi trao đổi với tôi, Đại tá Đỗ Văn Năm cho biết, nhiều người tưởng ra đa của ta có những cải tiến gì ghê gớm để phá tan màn nhiễu địch. Thực tế vẫn khí tài đó, nhưng con người biết khai thác sử dụng nó một cách nhuần nhuyễn thì đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Các đài ra đa là đối tượng tác chiến của máy bay tiêm kích địch. Chỉ cần ta phát sóng ra đa lên trời, trên máy bay địch có bộ thu định vị được vị trí ra đa. Chúng phóng tên lửa sơ-rai theo đường phát sóng của ta về đài ra đa tiêu diệt đài. Đã có một thời kỳ, hàng loạt ra đa của ta bị tiêu diệt. Rút kinh nghiệm, các đài ra đa chỉ mở máy thu để thu tín hiệu nhiễu máy bay địch, mà không cần mở máy phát. Khi thật cần thiết mở máy phát, nếu phát hiện máy bay địch bắn tên lửa sơ rai là anh em quay ăng ten lệch hướng khác, làm tên lửa mất phương hướng rơi xuống đất. Bằng phương pháp thu nhiễu máy thu, các trắc thủ ra đa phát hiện máy bay địch từ khoảng cách 800 ki-lô-mét.


Ngày 15 tháng 12 năm 1972, trung đoàn nhận được lệnh của Quân chủng và Binh chủng vào trạng thái chiến đấu cấp I, sẵn sàng phát hiện máy bay B52 để Quân chủng kịp thời đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 của Mỹ mà Ních-xơn gọi là chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ II (Cứu bóng trước khung thành) ngay từ đầu.


Chấp hành mệnh lệnh đó, Trung đoàn trưởng Đỗ Văn Năm đã lệnh cho toàn trung đoàn vào cấp I. Các kíp trắc thủ phát hiện máy bay vào thực hiện đúng như đang chiến đấu. Không một cán bộ, chiến sĩ nào được rời khỏi trận địa. Ngày 16 tháng 12 năm 1972, ra đa ta phát hiện một chiếc máy bay trinh sát không người lái của địch từ Mộc Châu, Sơn La bay vào Hà Nội rồi đi luôn. Trung đoàn trưởng Đỗ Văn Năm phán đoán, nếu địch dùng B52 đánh vào Hà Nội sẽ đi con đường từ hướng tây bắc này.


Ngày 18 tháng 12 năm 1972, buổi sáng bầu trời yên tĩnh lạ thường. Các phiên ban trực đều không phát nhiễu cũng như mục tiêu máy bay địch. 12 giờ trưa, có tốp máy bay trinh sát không người lái từ biển bay vào Hải Phòng. Cùng lúc đó, đại đội 3 trinh sát điện tử của ta phát hiện các tín hiệu thông tin giữa các sở chỉ huy địch tăng lên một cách bất ngờ. Đến 16 giờ, giao ban Quân chủng, sau giao ban Tư lệnh Binh chủng Bùi Đình Cường và Tham mưu trưởng binh chủng Đào Văn Dương đã quán triệt ngay cho toàn binh chủng nhận định của Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri về hiện tượng bất thường hôm nay của địch. Toàn Quân chủng phải sẵn sàng chiến đấu cao, đêm nay địch có thể sẽ đánh. Riêng với ra đa, Tư lệnh Quân chủng nhắc lại phải hết sức tập trung phát hiện B52 từ hướng tây vào. 18 giờ 15 phút, Trung đoàn 290 báo về tổng trạm các đội ra đa đang mở máy đều bị nhiễu tích cực và cường độ nhiễu tăng nhanh. Sở chỉ huy Tổng trạm cho các trung đoàn tăng cường trắc thủ giỏi, phiên ban giỏi các Sở chỉ huy sẵn sàng chiến đấu.


Tại Sở chỉ huy Trung đoàn 291, Đào Văn Năm trực tiếp chỉ thị cho Đại đội 16 ở Diễn Châu là đơn vị mở máy theo phiên ban trực từ 18 giờ tập trung phát hiện từ phương vị 220 đến phương vị 300 độ, chú ý phát hiện B52.


19 giờ, Đại đội 15 Trung đoàn 291 ở phía tây Trường Sơn phát hiện có tốp máy bay từ Mường Phìn (Hạ Lào) bay lên phía bắc. Một phút sau đó, trên các màn điện sóng ra đa của đại đội 16 xuất hiện một số dải nhiễu mới. Do đã có kinh nghiệm chiến đấu trên địa bàn Quân khu 4, Đại đội trưởng Trần Văn An và chính trị viên Trịnh Đình Nham thống nhất nhận định tình hình địch và ra lệnh cho các đài ra đa chống nhiễu phát hiện B52. Chỉ trong giây lát, trắc thủ đài 843 Tô Trọng Huy và trắc thủ đài 514 Phạm Quốc Hùng phán đoán đó là nhiễu B52.


Tình báo nhiễu B52 của đại đội 16 được nữ chiến sĩ thông tin Thúy Ngà ở Sở chỉ huy trung đoàn thể hiện lên bảng đánh dấu đường bay. Sẵn ý định trong phương án tác chiến, Trung đoàn trưởng Đào Văn Năm ra lệnh mở tăng cường đài ra đa II.35 của Đại đội 45. Đại đội trưởng đại đội 45 Đinh Hữu Thuần thực hiện nhanh chóng. Chỉ mấy phút sau, Đài trưởng Nghiêm Đình Tích và các trắc thủ Phạm Hoàng Cầu, Nguyễn Văn Xích đã thấy ba dải nhiễu B52 ở đúng tọa độ mà Tô Trọng Huy đã thông báo.


Vốn có kinh nghiệm phát hiện B52 hoạt động ở phía nam Quân khu 4 từ năm 1969, đã từng tham gia dẫn đường cho máy bay ta bắn trúng B52 trong trận ngày 20 tháng 11 năm 1971, trực tiếp bảo đảm ra đa cho Trung đoàn tên lửa 263 rơi B52 trong trận ngày 22 tháng 11 năm 1972 và kinh nghiệm chống nhiễu phát hiện B52 đánh khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng trong thời gian trước đó, đài trưởng Nghiêm Đình Xích cùng các trắc thủ Phạm Hoàng Cầu và Nguyễn Văn Tích đã xác định ngay đây là những dải nhiễu B52. Sau mệnh lệnh của đài trưởng, cả phiên ban đã thao tác quy trình chống nhiễu B52. Chỉ trong khoảnh khắc, trắc thủ số 1 Phạm Hoàng Cầu đã thông báo tình báo B52 vào sở chỉ huy đại đội.


Những tình báo B52 được Tiểu đội trưởng tiêu đồ Nguyễn Trường Kỳ thể hiện trong bảng đánh dấu đường bay rồi được các chiến sĩ phát thanh, ghi chép, báo vụ truyền lên sở chỉ huy trung đoàn.


Ban đầu tất cả cán bộ, chiến sĩ phán đoán B52 lại tiếp tục vào đánh khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng vì đường bay này gần như trùng khít đường bay địch đã vào đánh phá khu vực này trong thời gian trước đó. Những lần ấy, các tốp B52 thường bay đến phương vị 290 độ thì vòng lại, nhưng lần này chúng đã bay tới phương vị 300 độ và vẫn bay thẳng về phía tây bắc nước ta.


Do vừa được sinh hoạt chính trị, quán triệt sâu sắc tình hình nhiệm vụ, khả năng B52 đánh ra miền Bắc, lại thấy những triệu chứng khác lạ, sau khi thống nhất với các trắc thủ, đài trưởng báo cáo với đại đội trưởng: có khả năng B52 vào đánh miền Bắc.


Nhan được tình báo B52 của Trung đoàn 291 giữa lúc tất cả các đài ra đa đang mở máy của 2 trung đoàn 292, 293 bị nhiễu nặng, không có tình báo B52, Tham mưu phó Binh chủng ra đa Hứa Mạnh Tài đang trực ở Sở chỉ huy, vốn là người cẩn thận liền sử dụng đường dây hữu tuyến của ngành bưu điện trực tiếp chỉ thị cho Trung đoàn trưởng Trung đoàn Ra đa 291 và Đại đội trưởng Đại đội 45: Có đúng là B52 không? Có đúng B52 bay vào miền Bắc không? Chỉ thị đó được truyền ngay đến Đại đội 45.


Đài trưởng Nghiêm Đình Tích biết rằng, gần đây có một vài lần ra đa hoang báo B52, nên cấp trên thận trọng. Nhìn rõ tín hiệu trên màn hiện sóng, từng tốp 3 chiếc trên dải nhiễu nhẹ, lại vừa phát hiện thấy các tốp máy bay của không quân chiến thuật bắt đầu phóng nhiễu tiêu cực ở phía tây bắc Hà Nội, đài trưởng đài ra II.35 Nghiêm Đình Tích báo cáo dứt khoát: “Đúng là B52! Mục tiêu sắp bay vào vùng trời  miền Bắc!”. Từ Sở chỉ huy Trung đoàn 291 ở Nghệ An, Trung đoàn trưởng Đỗ Văn Năm báo cáo ngay về Tổng trạm ra đa quân chủng: “B52 đang bay vào Hà Nội”. Cùng lúc đó, các đài ra đa ven biển cũng phát hiện được tốp mục tiêu loại lớn độ cao 10 ki-lô-mét, đại đội 19 phát hiện 3 tốp F4 đang bay vào Hải Phòng. Nhận được lệnh của Trung đoàn 293, các đại đội 19, 24, 18 đều khẳng định đó là 3 tốp F4 làm nhiệm vụ nghi binh, thu hút ở hướng đông.


Đường bay của 7 tốp 21 chiếc B52 mà Đại đội 45 phát hiện và đang “quản lý” ngày càng dài thêm về phía bắc. Đồng chí Nguyễn Quang Bích, Phó Tư lệnh Quân chủng đang trực chỉ huy ở Sở chỉ huy Quân chủng điện sang tổng trạm: ra đa có đảm bảo chắc chắn có B52 vượt quá vĩ tuyến 20 không?


Nhầm lẫn lúc này sẽ gây nên hậu quả lớn, là có tội với Đảng, với Nhà nước, với nhân dân. Do đó, nắm chắc trình độ phát hiện mục tiêu của các đơn vị, nhất là ở đài II.35 Đại đội 45 nên Tư lệnh Binh chủng Bùi Đình Cường đã nhất trí để Tham mưu phó Hứa Mạnh Tài báo cáo dứt khoát: “Đúng là B52 đang vượt vĩ tuyến 20! Có khả năng B52 vào đánh Hà Nội!”. Lập tức Tư lệnh Quân chủng ra lệnh cho các lực lượng Phòng không - Không quân chuẩn bị đánh B52 để bảo vệ Thủ đô Hà Nội, trái tim thiêng liêng của cả nước. Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu kịp thời báo cáo lên Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, đồng thời phát lệnh cho Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và một số tỉnh trên miền Bắc, lúc đó là 19 giờ 15 phút.


Sự khẳng định “Đúng là B52!” đã rất có tác động tới toàn Quân chủng và cả nước trong giờ phút vô cùng hệ trọng: “Giặc Mỹ bắt đầu cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 vào Hà Nội!” lúc này. Có sự khẳng định ấy không chỉ Quân chủng mà cả nước đã không bị bất ngờ.


Cũng trong giây phút đó, thủ đô Hà Nội và các tỉnh miền Bắc được lệnh báo động phòng không để nhân dân kịp thời xuống hầm trú ẩn. 19 giờ 44 phút, Tiểu đoàn 78 Trung đoàn tên lửa 257 đã phóng quả đạn đầu tiên vào tốp B52 có ký hiệu 556, mở màn cho trận đánh.


20 giờ 13 phút, Tiểu đoàn 59 Trung đoàn tên lửa 261 đã phóng 2 quả đạn vào tốp B52 có ký hiệu 671 đang bay từ Tam Đảo vào đánh Đông Anh, bắn rơi tại chỗ 1 chiếc B52 ở Phủ Lỗ. Đây là chiếc máy bay B52 bị bắn rơi tại chỗ đầu tiên ở Hà Nội, trong trận đầu tiên của chiến dịch tháng 12 năm 1972.


Trên đường B52 bay ra, Đại đội 47 phát hiện được một chiếc loại lớn, độ cao 11 ki-lô-mét từ Thọ Xuân bay thẳng xuống Nghĩa Đàn qua Đô Lương. Nhận được tình báo, Sở chỉ huy Tiền phương của Quân chủng ra lệnh cho Trung đoàn tên lửa 263 tiêu diệt tốp mục tiêu này. 20 giờ 16 phút, Tiểu đoàn 51 Trung đoàn tên lửa 263 ở Nghệ An đã phóng 2 quả đạn bắn rơi tại chỗ 1 chiếc B52 ở phía nam Khe Bố.


23 giờ, Đại đội 16 và Đại đội 45 lại tiếp tục phát hiện, khẳng định tình báo các tốp B52 do đại đội trinh sát nhiễu và Đại đội 11 Trung đoàn 290 phát hiện. Trong trận thứ hai này, bộ đội ra đa đã kịp thời báo động cho các lực lượng phòng không Hà Nội chuyển cấp chiến đấu sớm 40 phút. Đó là trận tập kích đường không thứ hai trong đêm của 21 lần chiếc máy bay B52 và 32 lần chiếc máy bay chiến thuật vào Hà Nội. Một số tiểu đoàn tên lửa được lệnh đánh B52 nhưng không kết quả.


Vào thời điểm đó từ tổng trạm, Tham mưu phó Binh chủng Hứa Mạnh Tài gọi điện cho Trung đoàn trưởng Đỗ Văn Năm mừng rỡ báo tin: “Bộ đội tên lửa đã bắn rơi tại chỗ 1 chiếc B52 ở Phủ Lỗ”. Được tin đó, Trung đoàn phó Trần Liên đang đứng bên cùng tất cả cán bộ, chiến sĩ trong sở chỉ huy trung đoàn và đại đội 45, đại đội 16 vô cùng phấn khởi vì nỗi băn khoăn liệu có đúng B52 không, bây giờ mới được giải đáp. Đó còn là niềm vui, niềm tư hào của những chiến sĩ ra đa ở tuyến ngoài đã hoàn thành nhiệm vụ cảnh giới xa cho các lực lượng phòng không đánh địch bảo vệ trái tim thiêng liêng của cả nước.


4 giờ 16 phút, bộ đội ra đa trong đó có Đại đội 45 làm nòng cốt đã phát hiện và khẳng định 30 lần chiếc B52 và 20 lần chiếc máy bay chiến thuật vào đánh Hà Nội. Những tình báo của Đại đội 45 được chiến sĩ báo vụ kiêm đánh dấu đường bay Đặng Thị Tám ở Sở chỉ huy trung đoàn thể hiện trên bảng tiêu đồ rồi được phiên ban truyền lên tổng trạm. Do được báo động B52 sớm, các lực lượng Phòng không - Không quân ở khu vực Hà Nội đã chuyển cấp chiến đấu kịp thời, tập trung hỏa lực đánh địch quyết liệt. 4 giờ 39 phút, Tiểu đoàn 77 Trung đoàn tên lửa 257 bắn rơi tại chỗ 1 chiếc B52 ở Thanh Oai (Hà Tây).


Như vậy ngay trong trận đầu tiên, đêm đầu tiên của chiến dịch, bộ đội ra đa, trong đó Trung đoàn 291 làm nòng cốt đã không để Tổ quốc bị bất ngờ trước chiến dịch tập kích đường không chiến lược của địch, xác định và phát hiện B52 từ xa. Những tình báo đó đã đảm bảo cho Bộ Tư lệnh Quân chủng nắm chắc địch, hạ quyết tâm sử dụng lực lượng chính xác và bảo đảm cho các lực lượng phòng không ba thứ quân chuyển cấp chiến đấu sớm từ 30 phút đến 40 phút. Trong ngày đầu tiên, bộ đội Phòng không - Không quân đã bắn rơi 8 máy bay địch, có 3 chiếc B52, trong đó có 2 chiếc rơi tại chỗ ở khu vực Hà Nội.


Từ đó đến hết ngày 29 tháng 12 năm 1972, Trung đoàn 291 vẫn là đơn vị phát hiện máy bay B52 từ rất xa, góp phần cung cấp thông tin cho các lực lượng tên lửa, cao xạ tiêu diệt máy bay địch. Đánh giá về bộ đội ra đa trong chiến dịch phòng không này, đồng chí Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri đã khẳng định: “Binh chủng Ra đa đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, mở đầu chiến công cho toàn Quân chủng. Đặc biệt, Trung đoàn 291 đã chủ động phát hiện địch từ xa và xác định đúng là B52 ngay từ trận đầu, đêm đầu của chiến dịch tập kích đường không chiến lược của địch nên đã góp phần quan trọng cùng Binh chủng báo động cho các lực lượng phòng không ở Hà Nội, Hải Phòng chuyển cấp chiến đấu sớm từ 30 đến 60 phút. Hiệu quả rõ nhất là: do được báo sớm đó mà lực lượng phòng không ở khu vực Hà Nội đã chuyển cấp chiến đấu sớm, bắn rơi tại chỗ máy bay B52 ngay từ trận đầu, đêm đầu của chiến dịch”.


Bốn mươi năm đã trôi qua, Đại tá Đỗ Văn Năm  luôn tự hào là bộ đội ra đa đã góp phần xứng đáng vào chiến thắng vĩ đại của dân tộc trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”; đã làm tròn được trọng trách là “Mắt thần” của Tổ quốc ngay từ đêm đầu tiên B52 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng; đã giữ trọn lời thề thiêng liêng: “Không để Tổ quốc bị bất ngờ ở trên không”!


KHÔNG QUÂN VIỆT NAM TRONG CHIẾN DỊCH 12 NGÀY ĐÊM


Góp phần thắng lợi trong chiến dịch chống địch tập kích đường không chiến lược bằng B52 vào Hà Nội, Hải Phòng cuối năm 1972, có sự đóng góp của lực lượng Khong quân nhân dân Việt Nam. Hướng tới kỷ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, chúng tôi đã gặp Đại tá, phi công Nguyễn Văn Nghĩa - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, người đã trực tiếp tham gia chiến dịch và bắn rơi máy bay F4 vào ngày 23 tháng 12 năm 1972, để hiểu rõ thêm những chiến công của Không quân nhân dân Việt Nam trong chiến dịch này.


Tình hình ta và địch trước chiến dịch


Cuối năm 1972, cục diện chiến tranh Việt Nam có những chuyển biến quan trọng. Ở miền Nam, cuộc tiến công chiến lược của quân và dân ta giành được những thắng lợi lớn. Cuộc chiến tranh phá hoại ngăn chặn và phong toả lần thứ hai đối với miền Bắc không đạt được các mục tiêu mà giới cầm quyền Mỹ mong muốn. Cuộc đàm phán ở Pa-ri đã kéo dài hơn 4 năm. Phong trào phản đối chiến tranh ở ngay trong lòng nước Mỹ ngày càng dâng cao. Ngày 17 tháng 10 năm 1972, văn bản “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam” đã được các bên tham gia hội nghị thỏa thuận và định ngày ký tắt 22 tháng 10 năm 1972 và ngày ký chính thức 31 tháng 10 năm 1972. Để lừa bịp nhân dân Mỹ trong cuộc bầu cử tổng thống, ngày 22 tháng 10 năm 1972, Tổng thống Mỹ R.Ních-xơn công bố chấm dứt ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra.

Ngay sau khi trúng cử Tổng thống, R.Ních-xơn lật lọng, ráo riết chuẩn bị hành động phiên lưu quân sự mới. Ngày 14 tháng 12, Tổng thống Mỹ R.Ních-xơn thông qua kế hoạch tập kích chiến lược bằng B52 vào Hà Nội, Hải Phòng bắt đầu từ ngày 18 tháng 12. Chúng điều thêm hai tàu sân bay đến vịnh Bắc Bộ nâng tổng số tàu sân bay lên 5 chiếc tại vùng biển từ Hà Tĩnh đến Thanh Hóa. Thành lập Bộ chỉ huy không quân chiến lược lâm thời số 57, điều động 193 máy bay B52 tham chiến tại Việt Nam ở 2 sân bay An-đéc-xơn (Guam) và Utapao (Thái Lan).


B52 là con át chủ bài của không quân Mỹ, đây là loại máy bay ném bom chiến lược có 16 máy gây nhiễu tích cực, hai máy gây nhiễu trên tiêu cực. Nó có thể bay ở độ cao đến 16.765 mét, hoạt động ở tầm xa 20.000 ki-lô-mét. Một tốp ba chiếc B52 có thể hủy diệt mục tiêu trong phạm vi 4 ki-lô-mét-vuông trong thời gian 3 phút bằng khả năng oanh tạc của 50 đến 60 máy bay cường kích chiến thuật. B52 được mệnh danh là “siêu pháo đài bay”.


Chỉ một tháng sau ngày Mỹ đưa B52 vào tham chiến tại chiến trường miền Nam, ngày 19 tháng 7 năm 1965, Bác Hồ đã đến thăm Quân chủng Phòng không - Không quân, nhân dịp bộ đội tên lửa chuẩn bị ra quân đánh Mỹ trận đầu. Bác Hồ đã huấn thị: “Dù đế quốc Mỹ lắm súng, nhiều tiền, dù chúng có B57, B52 hay “Bê” gì đi chăng nữa, ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”. Năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên đoán: “Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua trên bầu trời Hà Nội”. Bộ đội Phòng không - Không quân đã được giao nhiệm vụ nghiên cứu, tìm cách đánh đối tượng tác chiến nguy hiểm này. Sau một thời gian nghiên cứu, ngày 31 tháng 10 năm 1972, Bộ Tư lệnh Quân chủng chỉ đạo tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm chiến đấu và thông qua tài liệu “cách đánh B52”.


Bộ Tư lệnh Binh chủng Không quân xác định lực lượng chủ yếu đánh B52 của khong quân là MiG-21, nên đã tích cực tổ chức cho phi công lái MiG-21 tập bay trong khí tượng phức tạp ban ngày và ban đêm, tập cất cánh, hạ cánh ở các sân bay dã chiến, đường băng ngắn. Lực lượng không quân tham chiến trong chiến dịch 12 ngày đêm đều là loại máy bay MiG-21. 


Hạ bảy máy bay địch trong đó có hai pháo đài bay


19 giờ 40 phút ngày 18 tháng 12 năm 1972, đế quốc Mỹ huy động 90 lần chiếc B52 và 135 lần chiếc máy bay chiến thuật đánh liên tiếp ba đợt vào các sân bay Kép, Nội Bài, Gia Lâm, Hoà Lạc, Yên Bái, các khu vực có nhiều cơ sở công nghiệp như Đông Anh, Yên Viên, Đức Giang, cơ sở phát sóng Đài tiếng nói Việt Nam ở Mễ Trì. Cùng thời gian đó, chúng huy động 28 lần chiếc máy bay cường kích của hải quân đánh phá thành phố cảng Hải Phòng.


19 giờ ngày 18 tháng 12, phi công Trần Cung đã lái máy bay MiG-21 cất cánh từ sân bay Hòa Lạc, không phát hiện địch, anh quay về hạ cánh ở sân bay Nội Bài. 19 giờ 25 phút cùng ngày, phi công Phạm Tuân cất cánh từ sân bay Nội Bai, bay đến khu vực Hòa Bình, Phạm Tuân phát hiện từng chùm kim loại gây nhiễu do F4 thả loé sáng, nhìn phía trước phía sau đều có máy bay địch, chúng bật đèn, bay thẳng về phía Hà Nội. Phạm Tuân bật tăng lực, cơ động tránh tên lửa. Mấy giây sau, phát hiện dãy máy bay địch, mỗi chiếc có 4 đèn sáng (B52), anh mở ra đa, nhưng ra đa bị nhiễu không bắt mục tiêu. Địch phát hiện MiG-21 bật tăng lực nên đã kịp đối phó. Phạm Tuân bay về sân bay Nội Bài, nhưng sân bay vừa bị 6 chiếc B52 ném bom rải thảm, hệ thống đèn đường băng hỏng; lợi dụng ánh sáng của các loại hỏa lực từ mặt đất bắn lên và một máy bay địch đang bốc cháy trên bầu trời, Phạm Tuân đã hạ cánh an toàn.


Các ngày tiếp theo, phi công Vũ Đình Rạng, Nguyễn Đức Soát, Nguyễn Thanh Quí cất cánh chặn địch từ đằng xa. 14 giờ chiều ngày 23 tháng 12 năm 1972, biên đội Nguyễn Văn Nghĩa và Lê Văn Kiền cất cánh từ sân bay Nội Bài bay vào vùng trời Hòa Bình chặn địch. Nguyễn Văn Nghĩa bay số 1, phát hiện 6 biên đội F4 của địch (24 chiếc) trước mặt. Từ độ cao 8.000 mét, các anh lao vào đội hình địch, tả xung, hữu đột, vừa tránh tên lửa của địch, vừa tìm thế tấn công. Mỗi máy bay F4 mang 8 tên lửa, còn máy bay MiG-21 chỉ có 2 quả tên lửa hồng ngoại. Mỗi lần thấy tia chớp trên bầu trời, là các anh làm động tác tránh né, để thoát khỏi vùng nổ tên lửa địch. Dưới Sở chỉ huy, Trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Nhị, chỉ huy bay hô “Kiên quyết tấn công, đánh nhanh, rút nhanh”. Nguyễn Văn Nghĩa chiếm được vị trí thuận lợi, bám ngay sau chiếc F4, anh bình tĩnh cho máy bay địch vào vòng ngắm, bóp cò. Máy bay rung lên, tên lửa vút đi. Tiếng Lê Văn Kiền hô to: “Cháy rồi!”. Chiếc F4 như một bó đuốc cháy rực rơi nhanh xuống đất. Các anh còn quần nhau với địch một hồi, rồi thoát ly về sân bay. Lúc này máy bay địch đang phong tỏa sân bay Nội Bài, lệnh chỉ huy cho phép nhảy dù. Nhưng phi công của ta đã quyết tâm hạ cánh xuống, vì nếu nhảy dù vừa hỏng máy bay lại dễ bị thương phải dời vị trí chiến đấu ít nhất 6 tháng. Đường băng chính hỏng nặng, các anh đề nghị kiểm tra đường lăn. Nghe báo đường lăn chưa bị trúng bom, hai phi công nhanh chóng hạ cánh xuống. Trên trời máy bay F4 địch bắn đại liên xối xả, nhưng đều không trúng máy bay ta. Máy bay tiếp đất, phi công bình tĩnh đưa máy bay vào hầm trú ẩn trong núi.


12 giờ ngày 27 tháng 12 năm 1972, biên đội Đỗ Văn Lanh và Dương Bá Kháng cất cánh từ sân bay Nội Bài lên vùng trời Vĩnh Phú. Biên đội gặp địch. Dương Bá Kháng đi số 2 phát hiện hai chiếc F4 địch bám theo Đỗ Văn Lanh đang chuẩn bị công kích. Lập tức Kháng thông báo cho Lanh tránh đạn địch và anh bám theo một chiếc F4. Máy bay địch mải công kích máy bay của Lanh, không phát hiện máy bay của Kháng. Đưa máy bay địch vào vòng ngắm, Kháng bóp cò, tên lửa bay ra khỏi máy bay trúng ngay chiếc F4 nổ tung.


14 giờ ngày 27 tháng 12 năm 1972, Trần Việt lái Mig21 cất cánh từ sân bay Miếu Môn vào vùng trời Hòa Bình, ở độ cao 7.000 mét. Sở chỉ huy thông báo cho anh biết địch có 4 chiếc. Khi phát hiện trước mặt máy bay địch bay góc 900, Anh lập tức tăng lực, dùng động tác vòng gấp bám địch phía sau. Bọn địch phát hiện MiG-21 của ta, lập tức uốn éo tránh đạn và phân tốp đan chéo tìm cách tiêu diệt ta. Trần Việt ngắm chiếc máy bay số 2, ở cự ly 1.500 mét, phóng tên lửa, máy bay địch bốc cháy, anh nhanh chóng thoát ly, trở về sân bay Nội Bài an toàn.


Đêm 27 tháng 12 năm 1972, địch tiếp tục cho B52 vào đánh Hà Nội. 22 giờ 20 phút, phi công Phạm Tuân lái MiG-21 cất cánh từ sân bay Yên Bái bay vào đánh địch ở vùng trời Mộc Châu (Sơn La). Vượt qua trần mây, nhìn thấy bên sườn có ánh đèn của F4, anh cho máy bay vượt qua, vòng trái lấy độ cao 2.500 mét. Đến gần Mộc Châu, Phạm Tuân xin phép thả thùng dầu phụ, bật tăng lực, lấy độ cao 7.000 mét. Nhìn phía trước có tám ánh đèn màu vàng nhạt, Phạm Tuân tăng tốc độ vượt xa tiêm kích địch và kéo máy bay lên độ cao ngang đội hình B52. Anh báo cáo: “Đã thấy mục tiêu xin được công kích, quyết tâm bắn rơi máy bay địch”. Sở chỉ huy ra lệnh: “bắn hai quả thoát ly nhanh”. Máy bay địch vẫn bay theo đội hình cơ bản, chưa phát hiện được máy bay Mig bám đuôi. Phát hiện 2 máy bay B52 bay cách nhau khoảng 2 ki-lô-mét, Phạm Tuân bình tĩnh kiểm tra công tắc, chỉnh lại đường ngắm và bắn hai quả tên lửa. Một quầng lửa trùm lên chiếc B52, Phạm Tuân lật máy bay vòng trái xuống độ cao 2.000 mét, bay trong mây về sân bay Yên Bái hạ cánh an toàn. Để kịp thời sửa chữa sân bay, hàng ngàn bộ đội, thanh niên xung phong đã không quản ngày đêm vá lại đường băng bị bom đánh hỏng, để máy bay ta có thể cất cánh.


Ngày 28 tháng 12 năm 1972, biên đội Lê Văn Kiền và Hoàng Tam Hùng cất cánh từ sân bay Nội Bài, mới vòng một vòng tại sân thì máy bay địch xuất hiện. Hoàng Tam Hùng phát hiện bên trái 450 cự ly khoảng 12 ki-lô-mét có một tốp 4 chiếc máy bay địch. Lập tức Hùng vào công kích. Lê Văn Kiền phát hiện phía sau 120 độ 4 chiếc máy bay địch đi chiều ngược lại. Kiền vòng lại bám địch. Địch chui vào mây. Hoàng Tam Hùng bám sát chiếc F4, khi đưa máy bay địch vào vòng ngắm, anh phóng tên lửa trúng chiếc F4, rơi tại chỗ trên bầu trời Hà Nội. Nhưng Hoàng Tam Hùng cũng bị trúng tên lửa của địch và đã anh dũng hy sinh.


21 giờ 41 phút ngày 28 tháng 12 năm 1972, Vũ Xuân Thiều cất cánh từ sân bay Cẩm Thủy (Thanh Hóa), được sở chỉ huy Thọ Xuân dẫn vòng ra phía sau đội hình B52. Đến vùng trời khu vực Sơn La, Vũ Xuân Thiều phát hiện mục tiêu. Mặc dù ở cự ly gần, nhưng anh vẫn xin vào công kích, quyết tâm tiêu diệt địch. Sau khi công kích, máy bay B52 địch bốc cháy. Vũ Xuân Thiều không kịp thoát ly và đã anh dũng hy sinh.


Khoảng 21 giờ ngày 29 tháng 12 năm 1972, phi công Bùi Doãn Độ cất cánh từ sân bay Nội Bài đi về hướng Mộc Châu, Sơn La. Tại đây, anh gặp tốp máy bay F4 bảo vệ B52. Bùi Doãn Độ đã bình tĩnh tránh đạn địch, dũng cảm, mưu trí bắn rơi một chiếc F4, rồi thoát ly về sân bay Nội Bài, hạ cánh an toàn.


Ngày 30 tháng 12 năm 1972, chính quyền Mỹ buộc phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra và đề nghị gặp lại đại diện Chính phủ ta tại Pa-ri, bàn việc ký hiệp định chấm dứt chiến tranh. Cuộc tập kích chiến lược quy mô lớn bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng kéo dài 12 ngày đêm bị thất bại hoàn toàn. Quân và dân ta, nòng cốt là bộ đội Phòng không - Không quân đã đánh một trận xuất sắc, bắn rơi 81 máy bay, trong đó có 34 máy bay B52, 5 máy bay F111. Riêng Không quân xuất kích 24 lần, bắn rơi 7 chiếc máy bay, trong đó có 2 chiếc B52. Các biên đội không quân đã 8 lần phá vỡ đội hình bay chiến đấu của địch, tạo điều kiện cho tên lửa và các lực lượng phòng không đánh thắng.


Từ chỗ chỉ bắn rơi các loại máy bay chiến thuật hiện đại của địch, bộ đội không quân trẻ tuổi đã bắn rơi “siêu pháo đài bay” B52, ghi một chiến công mới vào trang sử chiến đấu trên không và lịch sử chiến đấu chống ngoại xâm của dân tộc ta. Binh chủng không quân được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1976. Các phi công bắn rơi máy bay trong 12 ngày đêm được tuyên dương anh hùng là: Phạm Tuân, Vũ Xuân Thiều, Nguyễn Văn Nghĩa.


ĐỌ SỨC CÙNG KHÔNG QUÂN  MỸ THÁNG CHẠP NĂM 1972 


Trong 12 ngày đêm tháng Chạp năm 1972, Không quân nhân dân Việt Nam xuất kích 24 lần, bắn rơi 7 chiếc máy bay trong đó có 2 chiếc B52. Các biên đội không quân đã 8 lần phá vỡ đội hình bay chiến đấu của địch, tạo điều kiện cho tên lửa và các lực lượng phòng không phát hiện B52 để tiêu diệt. Thiếu tướng Trần Việt, phi công đã bắn hạ chiếc máy bay thứ 300 trên bầu trời miền Bắc, đã lập công tiêu diệt một chiếc F4 trong trận “Điện Biên Phủ trên không”.


Thiếu tướng phi công Trần Việt sinh năm 1946, tại xã Nhơn Phúc, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định, trong gia đình có truyền thống cách mạng. Thân phụ của ông là Trần Diêu, tham gia chống Pháp ở địa phương. Năm 1954, Trần Việt theo cha tập kết ra Bắc. Ông theo học trường học sinh miền Nam. Năm 1965, khi đang học lớp 9 ở trường Việt Đức - Hà Nội, thì có đợt khám tuyển phi công, ông là một trong 3 người trong trường trúng tuyển. Cùng trúng tuyển với ông có Nguyễn Văn Quang (sau này là Đại tá Chánh văn phòng Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân), Mai Chí Lưu (phi công hàng không dân dụng). Giã từ bút nghiên, ông lên đường sang Liên Xô học lái máy bay MiG-21. Cùng đi học lái máy bay MiG-21 khóa 3 năm đó có 36 anh em từ mọi miền đất nước. Sau này rất nhiều người đã lập chiến công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trở thành các tướng lĩnh, anh hùng như: Trung tướng Nguyễn Đức Soát, Anh hùng Lê Thanh Đạo, Anh hùng Trung tướng Phạm Phú Thái, Anh hùng Nguyễn Tiến Sâm, Anh hùng Nguyễn Văn Nghĩa…

Tháng 4 năm 1968, tốt nghiệp Trường Hàng không Liên Xô, Trần Việt trở về nước và về công tác tại Đại đội 3 Trung đoàn Không quân 921 Quân chủng Phòng không - Không quân. Trong 2 lần chống chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ ra miền Bắc, phi công Trần Việt đã xuất kích 52 lần và đã bắn rơi được 3 máy bay Mỹ. Ngày bắn rơi chiếc máy bay Mỹ đầu tiên là ngày 8 tháng 7 năm 1972. Vào sáng 8 tháng 7, không quân Mỹ đánh phá vào các mục tiêu đường 1 và đường bắc số 2. Lúc 10 giờ 13 phút, biên đội Đặng Ngọc Ngự (số 1) và Trần Việt (số 2) cất cánh từ sân bay Vĩnh Phú đi ra khu vực Thanh Sơn. Được bay cùng anh Đặng Ngọc Ngự, phi công Trần Việt cảm thấy rất yên tâm, vì anh Ngự là phi công dày dạn kinh nghiệm, luôn tạo điều kiện cho các phi công trẻ lập công. Lúc 10 giờ 28 phút, họ chạm chán với một tốp 4 chiếc F4. Đây là tốp F4E “Brenda” làm nhiệm vụ hộ tống các máy bay thả nhiễu. Số 1 hô bật tăng lực vào công kích, rồi phân công số 2 bám theo công kích tốp bên trái, còn mình công kích tốp bên phải. Trong khi số 2, Trần Việt bám sát tốp bên trái, ông vẫn thấy số 1 đang bám theo tốp 2 chiếc F4 bên phải đang bay đan chéo. Số 1 Đặng Ngọc Ngự bám theo chiếc F4 đầu tiên, anh đưa chiếc F4E vào điểm ngắm và đến cự ly thích hợp đã ấn nút phóng tên lửa. Chiếc máy bay địch bốc cháy, nhưng máy bay Đặng Ngọc Ngự cũng bị trúng tên lửa địch. Đại úy phi công Đặng Ngọc Ngự đã anh dũng hy sinh sau khi bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ bảy trên vùng trời suối Rút, Hòa Bình. Số 2 Trần Việt không công kích được vì 2 chiếc F4E bay đan chéo cơ động rất gấp, số 2 quyết định bật tăng lực toàn phần, vòng trái về hướng 330 độ. Ông phát hiện 2 chiếc F4 đang bay đan chéo thấp phía dưới, ở cự ly 7 - 8 ki-lô-mét. Số 2 lập tức bám sát theo đến cự ly 1.700 mét, điểm ngắm tốt, ông ấn nút phóng tên lửa bên trái, nhưng không trúng. Số 2 kéo thoát ly, khi quay lại thấy một chiếc F4 từ phải đang vòng qua trái với góc lên đến 30 độ. Không chần chừ, Trần Việt bám theo, ông đưa điểm ngắm vào chiếc F4 khi đến cự ly 1.000 mét, nghe âm lượng đầu tên lửa tốt, ông ấn nút phóng quả tên lửa thứ hai. Quả tên lửa trúng chiếc F4E, phá hủy động cơ bên trái, máy bay bốc cháy, tổ bay phải nhảy dù. Tổ bay chiếc F4E này gồm Trung tá R.E.Rosse và Đại úy S.M.Image đã nhảy dù và được cứu thoát. Sau khi phóng tên lửa xong, do cự ly gần, khi kéo thoát ly bay ngang chiếc F4, ông nhìn thấy chiếc F4 trúng tên lửa đang bay lảo đảo ngay dưới bụng mình. Sở chỉ huy cho lệnh thoát ly về sân bay Hòa Lạc, Trần Việt hạ cánh an toàn lúc 10 giờ 38 phút.


Ngày 30 tháng 9 năm 1972, là ngày khó quên với phi công Trần Việt, ngày ông lập công bắn rơi chiếc máy bay thứ 300 cho Không quân nhân dân Việt Nam. Ngay từ sáng sớm, không quân Mỹ đã cho máy bay trinh sát phía tây và dọc đường 1 bắc. Theo tin từ Sở chỉ huy Bộ Tư lệnh Không quân, Mỹ sẽ sử dụng 40 - 50 lần chiếc đánh phá các mục tiêu trên đường số 1 bắc. Bộ Tư lệnh Không quân giao nhiệm vụ cho Trung đoàn không quân 921 đánh tốp cường kích, bảo vệ mục tiêu và đặc biệt quyết tâm bắn rơi chiếc thứ 300, ghi công vào bảng vàng chiến công của bộ đội không quân. Trực ban chiến đấu hôm đó theo phân công là phi công Lê Văn Hoàn và Đỗ Văn Lanh, nhưng do phi công Lê Văn Hoàn bị mệt, nên phi công Trần Việt trực thay. Lúc 10 giờ 31 phút, ra đa phát hiện một tốp 12 chiếc máy bay địch ở độ cao 6.500, mét cách nam Nà Sản 20 ki-lô-mét. Bộ Tư lệnh cho đội bay Việt - Lanh cất cánh. 10 giờ 46 phút, khi biên đội bay hướng 350 độ, chỉ huy sở thông báo mục tiêu 12 chiếc bên trái 10 độ, cự ly 20 ki-lô-mét. Chưa đầy nửa phút sau biên đội phát hiện bên trái 30 độ 4 chiếc F4 ở cự ly 12 ki-lô-mét. Sau khi hô số 2 tăng cường cảnh giới phía sau, số 1 Trần Việt ép độ nghiêng và bám sát theo 4 chiếc F4 này. Đến cự ly 7 ki-lô-mét, tốp F4 tách làm hai, 2 chiếc vòng trái, 2 chiếc vòng phải. Khi đang bám theo hai chiếc vòng bên phải, số 1 thấy hai chiếc này cài ra đi thẳng. Số 1 nhanh chóng tăng tốc bám sát theo, ông đặt điểm ngắm vào chiếc bay cuối cùng, đến cự ly khoảng 2.000 mét, ông ấn nút phóng quả tên lửa bên trái. Ngay sau phóng tên lửa, ông thấy chưa trúng mục tiêu. Số 2 Đỗ Văn Lanh thấy 4 chiếc F4 bám sát sau máy bay Trần Việt, anh vội hô: “56 thoát ly, có 4 chiếc phía sau”. Nhưng Trần Việt thấy chiếc máy bay đang bay bằng phía trước là mục tiêu rất tốt để lập công, không bỏ lỡ thời cơ, ông giữ tốt điểm ngắm thêm 3 - 4 giây, và đến cự ly 1.500 mét ông ấn nút quả tên lửa thứ hai. Chiếc máy bay trúng tên lửa bốc cháy. Nghe số 2 thông báo “Nó bắn tên lửa”, số 1 Trần Việt nhanh chóng kéo lên độ cao 12.000 mét thoát khỏi vùng hỏa lực của địch. Ông bay về hạ cánh an toàn xuống sân bay Gia Lâm lúc 10 giờ 58 phút. Như vậy, phi công Trần Việt đã bắn rơi chiếc F4 và đây là chiếc máy bay Mỹ thứ 300 bị các phi công Việt Nam bắn hạ trên bầu trời miền Bắc.


Ngày 27 tháng 12 là ngày thứ 10 của chiến dịch 12 ngày đêm đế quốc Mỹ sử dụng B52 vào Hà Nội. Tại Trung đoàn không quân 921, biên đội Trần Sang, Bùi Thanh Liêm trực bay nghi binh tại sân bay Nội Bài, phi công Trần Việt trực ban chiến đấu tại sân bay đất Miếu Môn. Đầu giờ chiều, Sở chỉ huy cho đội bay nghi binh Sang, Liêm cất cánh bay độ cao lớn đi về Việt Trì để nhử F4 bám theo. Lúc 14 giờ 10 phút, chiếc MiG-21 của phi công Trần Việt bí mật phục kích tại sân bay Miếu Môn cất cánh. Sau khi cất cánh đi hướng 90 độ, dưới mây, sau đó cho lên độ cao 5.000 mét và bay về hướng 150 độ phía nam Phủ Lý, để sau đó quay lại bám vào bán cầu sau của tốp F4. Ngay sau đó, Sở chỉ huy thông báo mục tiêu bên phải 45 độ, cự ly 20 ki-lô-mét. Đến 14 giờ 16 phút, Sở chỉ huy ra lệnh cho phi công Trần Việt thả thùng dầu phụ, tăng lực kéo lên độ cao 7.000 mét, mục tiêu lúc đó bên phải 45 độ, cự ly 15 ki-lô-mét. Lúc 14 giờ 16 phút, Trần Việt phát hiện hai chiếc F4 bay thấp hơn bên phải 450, cự ly 8 ki-lô-mét. Hai chiếc F4 bật tăng lực đối đầu bay thẳng về phía chiếc MiG-21. Trần Việt quyết định tăng tốc, tốc độ hơn 1000 ki-lô-mét/giờ, vòng gấp bên phải bám chiếc F4 số 2. Trần Việt thấy chiếc F4 số 2 bổ nhào xuống, anh lập tức bám theo. Sau khi ổn định điểm ngắm, đến cự ly 1.500 mét, tốc độ 1.100 ki-lô-mét/giờ, anh ấn nút phóng quả tên lửa bên trái. Trần Việt thấy máy bay rung nhẹ, rồi quả tên lửa rời bệ phóng lao thẳng vào chiếc F4. Chiếc máy bay F4 trúng đạn bốc cháy rơi xuống đất. Hai phi công Mỹ thiếu tá Carl H. Jeffcoat và trung úy nhất Jack R. Trimble nhảy dù và bị dân quân bắt ngay lập tức. Trần Việt nhanh chóng thoát ly về sân bay Nội Bài hạ cánh lúc 14 giờ 32 phút.


Với những thành tích mà phi công Trần Việt đạt được, Đảng, Nhà nước, Quân đội tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất, 1 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 2 Huân chương Chiến công hạng Ba và 1 Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Ba cùng nhiều phần thưởng cao quý khác. Đất nước thống nhất, phi công Trần Việt giữ nhiều trọng trách trong Quân chủng Phòng không - Không quân như Trung đoàn trưởng Không quân 921, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 371, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không -Không quân. Ông đã tốt nghiệp Học viện chỉ huy Không quân Liên Xô mang tên người anh hùng Yury Gagarin năm 1982. Tháng 11 năm 1999, ông được phong quân hàm Thiếu tướng. Ông về nghỉ hưu năm 2009, hiện sống tại Hà Nội.


(còn tiếp)


Nguồn: Thắng B52 trên bầu trời Hà Nội. Tập Ký của Đoàn Hoài Trung. NXB Quân đội Nhân dân, 2012. Cảm ơn nhà văn Đoàn Hoài Trung đã gửi tác phẩm tới www.trieuxuan.info!

trieuxuan.info