B: NHỚ VỀ MẸ TÔI
Mẹ tôi tên Nguyễn Thị Từ - con gái Cử nhân Nguyễn Tất Ban, người làng. Cụ cử ra làm huấn đạo được hai năm thì xin nghỉ. Cụ nhìn thấy ngạch quan trường chẳng có gì là tốt đẹp, những hiện tượng chèn ép, kèn cựa, xu nịnh hàng ngày cứ phơi bày ra trước mắt. Cụ về nhà mở trường dạy học và chuyên nghiên cứu chữa bệnh cho dân, truyền đạt nghề y cho con trai - cử nhân Nguyễn Tất Tài, không ra làm quan mà trở thành danh y trong vùng. Em trai cụ là tiến sĩ Nguyễn Ngọc Liên ra làm tri phủ một thời gian, không chịu bái lạy Toàn quyền nên bị cách chức. Ông ngoại tôi có hai bà, đông con (tổng số 10 người) nhà nghèo. Có người định cư ở Hải Hậu (Nam Định), Cẩm Thủy (Thanh Hóa), Đại Từ (Thái Nguyên). Có ba người con trai làm nghề thuốc, còn lại làm ruộng và buôn bán vặt. Dù nghèo hay khá giả cũng tự lực cánh sinh không có ý định dựa dẫm vào nhau.
Dòng họ Nguyễn đến khai phá bãi bồi Hải Hậu khá đông. Có người rất giàu hàng trăm mẫu, riêng ông bà ngoại tôi chỉ có mấy chục mẫu, mẹ tôi được chia dăm mẫu. Đến năm tôi 7- 8 tuổi thì cha tôi bán hết. Từ đó tôi không được xuống Hải Hậu để tận hưởng không khí trong lành của biển cả và được ăn hải sản nhất là nghêu sò ốc hến hồi đó rất rẻ.
Mẹ tôi tầm người bé nhỏ, đường nét có duyên, da ngăm đen, chắc hồi còn trẻ không được xinh gái, nhưng ông nội vẫn nhắm hỏi mẹ tôi cho cha tôi. Ông thuyết phục:
- Con bằng lòng hỏi con gái ông Huấn đi. Thầy tìm hiểu kỹ rồi, nó nết na giỏi giang lắm. Cái nết đánh chết cái đẹp! Gia đình người ta dòng dõi nề nếp, ông bà ấy hiền lành phúc đức, đông con nhưng trên thuận dưới hòa, chọn người có đức chứ chọn chi người có của.
Mẹ tôi lấy cha tôi năm 17 tuổi, đến năm 20 tuổi sinh chị Yên. Lớn lên chị cũng giỏi giang, thành thạo mọi việc trong nhà cho đến việc canh cửi, trồng dâu nuôi tằm. Người chị óng ả, phong cách nhẹ nhàng nên ai cũng ưa. Chị biết chữ Hán, chữ nôm, chữ quốc ngữ, thuộc lòng mấy áng văn nổi tiếng như Truyện Kiều, Nhị Độ Mai... Chị có trí nhớ rất tốt, nếu có yêu cầu đọc thuộc lòng đoạn nào là đọc ngay. Năm 15 tuổi, chị bị bệnh thương hàn, trước khi nhắm mắt chị gọi anh Khu đến và dặn:
- Chị không sống được nữa đâu, mong em chăm chỉ học hành nở mày nở mặt với thiên hạ, báo hiếu thầy mẹ.
Mẹ tôi sinh 5 người con, tôi là út. Bà sinh tôi năm 36 tuổi (1919) và từ đó không sinh nữa mà thuận tình cho cha tôi lấy vợ hai. Bà quan tâm săn sóc con riêng của chồng như con đẻ của mình. Mỗi khi hồi tưởng thời thơ ấu cho đến khi khôn lớn đi làm kiếm sống, tôi nhớ lại hình ảnh mẹ tôi. Chừng như có cuốn phim đời chiếu lên trước mặt. Bà đang thoăn thoắt đi từ trong nhà xuống bếp ra ao trước sự đòi hỏi của công việc. Là phụ nữ nông thôn nhưng lối sống ngăn nắp gọn gàng, mọi thứ trong nhà đều có vị trí riêng, nhà cửa bao giờ cũng được quét dọn sạch sẽ theo sự phân công, con cháu nào lơ là thì bà nhẹ nhàng nhắc nhở, nếu cần bà làm thay không tỏ ra bực bội. Công việc nội trợ bao giờ cũng chu đáo, làm mắm, làm tương, muối dưa cà không bao giờ bị biến chất cho đến khi dùng hết. Món canh cua phải đủ các thứ rau mồng tơi, rau đay, rau rút, dá bông, gạch cua phải được phi hành mỡ. Lối sống thể hiện ra như thế nào thì nội tâm được diễn đạt ra bằng tình cảm tế nhị độ lượng. Đối xử với bạn bè bà con chu đáo, luôn luôn khiêm tốn dù người đó ngang hàng. Nếu họ gặp khó khăn thì tìm cách giúp đỡ. Có chị gặp chuyện mắc mớ trong quan hệ mẹ chồng nàng dâu hay chồng con, đến gặp bà tâm sự mong lời khuyên giải, bà nhẹ nhàng phân tích và góp ý. Ai vay mượn thứ gì đòi mãi mà không trả, bà chép miệng thở dài nhưng không bao giờ ầm ĩ. Bà nhìn con người thấu tình đạt lý. Một lần vợ tôi có một đồng bạc Đông Dương cho một bà bác vay về kể lại với mẹ chồng. Bà góp ý:
- Bác ấy nói “vay nóng” ấy là không trả đâu, biếu bác ấy thôi.
Điều nhẫn của mẹ tôi thật tuyệt vời, tránh được va chạm. Bà noi gưong cho chúng tôi qua việc làm bằng cách xử thế, ít khi bằng thuyết pháp, nếu có dùng lời khuyên bảo thường ngắn gọn, không bao giờ nói dai nhắc đi nhắc lại.
Tôi là con út nên hồi niên thiếu được mẹ chăm sóc chu đáo. Tôi hay ốm đau. Đầu tiên bị bệnh hen mất vài năm. Năm 10 tuổi bị bệnh kiết lỵ, chữa thuốc ta không khỏi, người gầy đét còn da bọc xương, không đi được. May có người mua dùm thuốc tây, tiêm hai ống, tôi khỏi bệnh. Bà mừng lắm ôm lấy tôi và nựng:
- Nếu con không khỏi thì mẹ chết thôi. Chị Yên con đầu của mẹ chết rồi, nay lại đến con. Trời Phật phù hộ cho mẹ con ta rồi!
Tôi được mẹ chiều, biết ý đôi khi vòi vĩnh. Có lần đi chùa, đi trẩy hội, bà cho đi theo. Tôi mải chơi và nghịch ngợm bị cha đánh mắng, bà ôm lấy tôi:
- Sao mà khoẻ đánh con thế. Đánh chết nó à!
Mỗi lần đi chợ, thế nào bà cũng mua quà. Khi thì vài cái kẹo bột, khi thì tấm bánh đa. Một lần có chút việc lên tỉnh, bà mua cho cái kèn bằng sắt tây sơn xanh đỏ rất đẹp, có thể thổi thành bài đơn giản. Hồi đó, trẻ con nông thôn có quà mua ở tỉnh về là khoái lắm. Mẹ tôi nhẹ nhàng khuyên bảo nên tôi sẵn sàng nghe. Bà chỉ vẽ cho quét nhà, lau bàn ghế, trồng rau, tôi làm tốt. Bà ngồi quay sợi, tôi đọc Truyện Kiều cho bà nghe những đoạn bà ưng. Bà bình luận những đoạn thuộc lòng nhờ đọc Kiều từ chữ nôm, thường là những đoạn Kiều gặp cảnh éo le trắc trở.
Năm 17 tuổi vào học Trường Kỹ nghệ Hải Phòng, tôi xa mẹ từ đó. Mẹ tôi mừng lắm. Tôi đề ra yêu cầu thông báo của trường, bà chuẩn bị đầy đủ, nhưng không thể thoát khỏi cái ràng buộc của hai chữ “cần kiệm”. Không có vali thì lấy cái hòm sắm từ thời sinh tôi. Lấy vải nhà dệt đem nhuộm màu xanh thẫm và may theo kiểu quần áo ta. Cái đũng quần lùng thùng như quần phụ nữ nông thôn, cái áo may như áo cánh anh nông dân. Học cùng khoá trong trường duy nhất có tôi mặc bộ quần áo kiểu đó. Ra trường tôi đi làm ở Hải Phòng, bà ra thăm ở chơi, tôi nuôi mẹ được hai ngày. Khi ra về tôi biếu mẹ được 2 đồng Đông Dương. Những lần khác, tôi làm ở Gia Lâm, Bắc Ninh mẹ tôi không đến. Năm 1953, đang kháng chiến chống Pháp, tôi đi thẳng từ Việt Bắc sang Liên Xô cũ vào học Trường Đại học Mỏ Moskva. Học đến hè năm thứ III, xin về thăm nhà bằng tiền tàu xe tự túc (từ sức lao động của mình) nhưng Sứ quán nêu ra nhiều lý do không giải quyết. Thế là 7 năm liền không được gặp cha mẹ, vợ con, còn phải chịu đựng 2 năm nữa mới được về. Năm 1957 cha tôi mất, mẹ tôi vào ở với anh tôi. Bà muốn ra sống với gia đình tôi cho thoải mái, nhưng tội nghiệp, nhà tôi ở là nhà cấp IV vừa dột nát vừa chật chội, nên đành chịu. Tôi không biết cách xin nhà cho mẹ tôi theo tiêu chuẩn “gia đình có công với nước”. Đến khi có lương khá, nhà rộng rãi thì không còn mẹ nữa. Tôi hối hận đến mức nó là bài học nhớ đời cho dù có những yếu tố khách quan khác.
Mẹ tôi không phải là đảng viên Cộng sản nhưng bà có ý thức cách mạng ngay từ hồi phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, Hoàng Hoa Thám, bà hiểu dân ta khổ, người Pháp có khai hoá gì cho mình đâu. Nào là thuế thân, thuế điền, dân phải đóng góp vào quỹ này quỹ khác.
Nhân tuần lễ vàng sau cách mạng tháng 8- 1945, đồ trang sức duy nhất còn lại của bà là đôi hoa tai, cũng vui vẻ ủng hộ. Biết anh em tôi tham gia cách mạng, bà không cản, chỉ lo:
- Các con theo cách mạng mưu đồ đuổi Tây cho dân mình đỡ khổ, nhưng gian truân lắm con ơi! Thôi thì mẹ chỉ cầu Trời khấn Phật cho tai qua nạn khỏi.
Tôi học được qua mẹ tôi rất nhiều điều hay. Bà dạy tôi cách làm ăn cẩn thận, cuộc sống ngăn nắp, không thể luộm thuộm, không thể thấp hèn được cho dù ăn khoai ăn cháo. Muốn người ta quý trọng mình thì mình phải tôn trọng người ta. “Một điều nhịn là chín điều lành”. Tiêu chuẩn làm người là nhân cách thể hiện ra bằng tình cảm của mình trước đối tượng là con người và sự việc, có gì không vừa lòng thì tránh nó đi. Tôi học được qua mẹ tôi nhiều bài học về chữ “nhân”. Còn cái đức tính điềm đạm của bà thì tôi không học được.
Mặt trận Bình dân nước Pháp lên cầm quyền, chế độ cai trị của thực dân có nới lỏng đôi chút, anh tôi được tha về, mẹ tôi vui mừng, chăm lo bồi dưỡng sức khoẻ cho anh. Đến khi anh ra đi lên Hà Nội để tiếp tục hoạt động cách mạng, bà không cản trở, chỉ nhắc lại câu nói bất hủ:
- Con đi được bình yên. Cầu Trời khấn Phật phù hộ độ trì cho con.
Năm 1940, anh tôi trốn ở thôn Tả Hành (Vũ Tiên, Thái Bình) chúng đánh hơi biết, tri huyện Vũ Tiên và chánh thanh tra mật thám Nam Định đã về khám nhà. Nếu họ khám ở cuối thôn thì có thể bắt được. Tôi biết chuyện đó và thuyết phục mẹ tôi:
- Mẹ bàn với thầy đi, nhất định phải cho anh ấy đi khỏi Tả Hành vì Tây nó biết rồi. Cứ để anh ấy ở Tả Hành thì chả khác gì gom lại cho họ dễ bắt. Anh ấy đi hoạt động cách mạng đã có dân che chở, nay đây mai đó, khó mà bắt được.
Bà nghe ra và tích cực chuẩn bị cho anh Khu đi khỏi Tả Hành. Anh tiếp tục hoạt động cách mạng an toàn cho đến ngày cách mạng tháng 8- 1945 cho dù địch đã kết án tử hình vắng mặt. Trong thời gian đó mỗi lần có liên lạc về bà chuẩn bị chu đáo và nhận xét:
- Có gửi thứ gì cho anh mày, coi như ủng hộ cho cách mạng, nó chả dùng một mình đâu.
Nhờ có ý thức cách mạng và tinh thần giúp đỡ cách mạng, cha mẹ tôi được nhà nước tặng thưởng bằng “Gia đình có công với nước”.
Những ngày cuối đời, mẹ tôi vào sống với gia đình anh tôi. Về vật chất đầy đủ nhưng về tinh thần thì thiếu thốn. Anh tôi bận suốt ngày, bà sống trong một căn phòng, thỉnh thoảng có người nhà ra vào. Bà điếc nặng không nghe được đài phát thanh, bà con người làng muốn vào thăm cũng khó khăn nên thực tế không thoải mái. Nhiều lần ngỏ ý muốn ra ở với tôi, nhưng tôi có 22 m2 nhà cấp IV ở tập thể Đại học Bách khoa không thể giải quyết được. Tôi lại không biết cách xin nhà nước cấp cho mẹ tôi một căn hộ khang trang hơn để tôi được sống cùng. Mặt khác, cũng có khó khăn, tôi không có hoàn cảnh vật chất như anh tôi... Vì lẽ đó mẹ tôi vẫn phải ở với anh tôi cho đến phút chót. Những ngày cuối đời bà nằm thở, sự hiểu biết không còn nữa, có cảm tưởng như chờ cho con tim ngừng đập.
Mẹ tôi từ biệt cõi đời ngày 22-02-1964 tại Hà Nội trong sự thương tiếc của con cháu, bà con dòng họ và người làng.
C. Chuyển hài cốt cha mẹ tôi từ Yên Kỳ (Bất Bạt) về quê Hành Thiện
Đã lâu tôi chưa dám nghĩ đến việc này bởi lẽ công việc khá phức tạp cần có tiền và công sức. Nếu chuyển về thì để ở đâu? Ở khu mộ chí họ Đặng Xuân có được không? Thế mà toàn bộ nghĩa trang Tiên Sơn của xã thì hầu như phủ kín cả rồi.
Trong hoàn cảnh tôi là con trai thứ hai, tuổi đời đã xế bóng, phải khẩn trương chuyển hài cốt của cha mẹ về quê cho kịp.
Vấn đế nêu ra được mọi người tán thành. Về tiền thì không khó lắm, yêu cầu các con cháu đóng góp tùy theo khả năng chắc có thể đủ. Còn công thì có rất nhiều cháu sẵn sàng tham gia, vì một số người đã nghỉ hưu. Phân công thì đã có người chịu trách nhiệm điều hành mọi việc từ khi khởi công cho đến khi hoàn tất, liên hệ với các cơ quan từ văn phòng Trung ương Đảng, đến tỉnh, huyện, xã. Người thì liên hệ với kiến trúc sư nhờ vẽ kiểu, người chỉ đạo phân công...
Mọi việc không đơn giản bởi lẽ cần làm thế nào cho phải trong trường hợp anh tôi đã từng là Tổng bí thư Đảng, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Quốc hội - một người có công cách mạng. Nếu xây mộ xếp hàng như mộ các chú bác tôi tại khu mộ chí họ Đặng Xuân có thuận không? Chắc chắn nhiều con cháu cha mẹ tôi không đồng ý.
Khi họp bàn đề nghị xây dựng cho “bền vững, trang trọng, khiêm tốn”, cố gắng hòa mình vào khung cảnh chung của toàn bộ nghĩa trang Tiên Sơn. Sau khi xây xong nhìn toàn cảnh thì thấy mộ phần cha mẹ tôi đẹp thật, nhưng bề thế thì không đáng kể. Một khó khăn tiềm ẩn xuất hiện: Mấy năm gần đây người ta nói nhiều đến ngoại cảm, tâm linh, kinh dịch, tướng số, thuyết âm dương. Tiếp đến người ta nói đến mồ mả cha ông phát tích, cúng bái thổ thần thổ địa.
Một lần tôi giới thiệu cho một chị đến mua một căn hộ, chị ta ưng vì nó đầy đủ tiện nghi và hợp túi tiền. Tiếp đó, chị ta đặt cái la bàn xuống thềm nhà và nói:
- Nhà này không đúng hướng Nam, không phù hợp với tuổi chồng cháu, nên không thể mua được. Cháu cần hướng nhà chếch đi một chút sang hướng Đông Nam hay Tây Nam thì mới hợp với tuổi.
Lại có trường hợp cho là thổ cư không phù hợp với tuổi của chủ nhà, thế mà ngôi nhà thì tốt, rất đẹp, rộng rãi, thoáng mát. Chả lẽ lại trả Nhà nước để đi nơi khác, chỉ còn cách mời thầy về cúng để yểm hộ.
Đã nhiều lần một hiệu trưởng trường đại học nọ đến hỏi người xem ngày giờ trước khi xuất hành!
Mấy thầy giáo đại học lưu ý nghiên cứu về tướng số, kinh Dịch khuyên tôi nên chuyển hài cốt ông bà về quê; để trên Yên Kỳ thì không tốt đâu...
Tôi trả lời:
- Cha mẹ tôi có người cháu công tác phấn chấn, tưởng thế phơi phới đi lên thì nay cũng...
Họ giải thích:
- Nhưng còn phải nghĩ đến tương lai hậu duệ sau này nữa chứ!
Những câu chuyện tín ngưỡng ngày nay rất được phổ biến không những ở tầng lớp thường dân mà ngay cả tầng lớp trí thức.
Tôi không ưng con người ta cứ bị ràng buộc vào những thói quen và tục lệ như nói trên, nhưng không đủ lý lẽ vững chắc mà bác bỏ. Hơn nữa, những sự việc đó đã bắt đầu trở thành trào lưu rồi. Nếu tôi bác bỏ một điều gì đó, sau này có chuyện không hay xảy ra trong con cháu cha mẹ tôi thì khó nói quá.
Tôi phải đồng tình những việc như sau:
Chọn ngày giờ lên Yên Kỳ chuyển hài cốt về nhà tang lễ Phùng Hưng (Hà Nội) để 4 giờ sáng hôm sau chuyển về cho kịp trước 8 giờ sáng. Lấy ngày giờ hoàng đạo là tốt nhất.
Sắm tất cả 12 lễ vật để cúng lễ từ Yên Kỳ về Hà Nội, về quê, cúng thổ thần, chùa chiền, tổ tiên nội ngoại đôi bên.
Sau khi xin được đất ở quê thì mời thầy xem mảnh đất đó có thuận không? Chọn hướng đặt cốt như thế nào cho có “hậu” cho con cháu sau này. Dùng xiên xem mảnh đất có tiểu sành, hài cốt vô chủ không? Nếu có thì chuyển đi chỗ khác, xây mộ cho họ cẩn thận.
Sau khi xin giấy tờ của UBND xã chứng nhận chính thức cấp cho mảnh đất đó và đảm bảo rằng bên dưới không có hài cốt vô chủ nào hết. Nếu không làm chặt chẽ như vậy sau này có kẻ nói bừa bên dưới có hài cốt của tổ tiên họ thì rầy rà to.
Mảnh đất chọn gần đường quá (cách mép đường chừng 1,5m) e rằng sau này người ta cho chúng tôi cố phô trương. Nhưng đành phải chấp nhận vì không có mảnh đất nào khác và xem ý ra nhiều người ưng thuận.
Làm bia cho ông bà, trên bia ghi như thế nào cho ngắn ngọn với những điểm mà người đời có thể chấp nhận được.
Về ông ghi như sau:
“Dòng dõi nhà nho yêu nước, tham gia phong trào Đông kinh nghĩa thục chống thực dân Pháp. Là tác giả nửa đầu thế kỷ XX có nhiều tác phẩm về sử học, văn học”. Không cần ghi tác phẩm có giá trị bởi lẽ có giá trị hay không thì xã hội đã đánh giá rồi.
Về bà thì như sau:
“Chuyên dệt vải, chăn tằm. Bản tính nhân hậu, giàu lòng yêu nước, giúp đỡ chồng con tham gia cách mạng chống thực dân Pháp”. Chúng tôi thảo luận kỹ một từ “nhân hậu” thấy rằng nên để vì thực tế đối với bà con xóm làng thì đức độ của bà có như vậy và chính nó đã có ảnh hưởng đến tính cách của anh tôi và giáo dục chúng tôi.
Có người muốn ghi câu đối vào hai cột của bia. Tôi dùng một lý lẽ để chứng minh là không cần, vì lời ghi trên bia như thế là đủ rồi.
Sau một tháng chuẩn bị và hơn 20 ngày thi công đến đầu tháng 1-1998 thì hoàn tất. Sáng ngày 04-01 làm lễ hạ huyệt thắp hương cho cha mẹ tôi.
Quan khách từ tỉnh đến huyện, xóm thôn đến dự đông đủ. Khi cha mẹ tôi từ trần và cải táng, lúc đó còn anh tôi thì Văn phòng Trung ương Đảng đứng ra lo chu tất. Không rõ vì sao lần này không cử đại diện về dự hay là do chúng tôi có điều gì sơ suất chăng?
Tôi dự lễ thắp hương, vừa vui mừng cảm động, vừa đứng đọc trước mộ chí cha mẹ tôi mấy lời ngắn gọn như sau:
“Thưa các vị Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch UBND, HĐND, MTTQ, Phó giám đốc sở VHTT tỉnh Nam Định”.
Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, chính quyền MTTQ huyện Xuân Trường, xã Xuân Hồng và thôn xóm Hành Thiện.
Thưa các cụ, các bác, bà con và anh chị em.
Lúc sinh thời cha mẹ tôi có dặn nếu có điều kiện thì cho được yên nghỉ ở quê hương. Sau hơn 30 năm nay nhờ được sự nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện của các vị, các bác và bà con, điều ước mong đó đã được thực hiện. Nguyện vọng đó của cha mẹ chúng tôi cũng là nguyện vọng của chúng tôi. Nó càng làm cho chúng tôi gắn bó với quê hương yêu quí, giầu lòng yêu nước, hiếu học và cần cù lao động xưa nay.
Riêng đối với tôi đã hơn 60 năm không sinh sống ở quê, ít có dịp về thăm quê hương, thăm lại ngôi nhà mà cha mẹ tôi đã sinh ra anh chị em tôi, nay đã trở thành nhà lưu niệm anh tôi – Chủ tịch Trường Chinh, viếng thăm nhà thờ ông tôi – Tiến sĩ Hán học Đặng Xuân Bảng. Điều đó làm cho tôi rất phấn khởi.
Công việc mộ phần của cha mẹ tôi đã hoàn tất, tôi xin thay mặt cho các con, cháu, chắt cha mẹ tôi chân thành cám ơn các quý vị và bà con xóm làng. Nếu có điều gì sơ suất xin miễn thứ cho.
Cuối cùng tôi xin phép quý vị và bà con có vài lời thưa chuyện với cha mẹ.
Hôm nay các con cháu chắt của cha mẹ rất lấy làm vui mừng thấy cha mẹ đã được về quê yên nghỉ nơi đây, chúng con xin hứa phấn đấu kế thừa đạo đức và văn hóa của cha ông nội ngoại đôi bên đã để lại cho chúng con”.
Qua lời phát biểu ghi lại ở trên, tôi hoàn toàn không khoe khoang vì đó là sự thật và tình cảm. Xin bạn đọc thông cảm cho, tôi muốn nói gì ẩn ý ở phía sau mà không tiện nói ra được.
Sau khi hoàn tất lễ hạ huyệt, chúng tôi tổ chức một bữa cơm thân mật mời các vị lãnh đạo tỉnh, huyện, xã và bà con thân thuộc. Họ dự đông đủ, riêng các vị trên tỉnh lấy cớ bận, nhưng thực ra hôm ấy là chủ nhật.
D. Câu chuyện nhà cửa của cha mẹ tôi tại xóm 7 Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Thủy tỉnh Nam Hà
I. ĐÔI NÉT VỀ LAI LỊCH
Ông bác tôi (cụ Ba Bỉnh) hồi còn trẻ là một thanh niên cường tráng, rất chịu khó. Dù là con ông nghè nhưng ham lao động chân tay, chính ông đã lên rừng mua tre gỗ đóng bè xuôi về đủ làm ba căn nhà năm gian bằng gỗ lim cho mình và hai người em là cha tôi và chú tôi. Tiền mua tre gỗ và chi trả công xá là của bà tôi nhờ đi buôn tơ vải và buôn bè mà có.
Nhà được xây cất năm 1902. Sau đó cha mẹ tôi làm thêm được một nhà ngang bằng gỗ tạp và lợp rạ (nay lợp ngói) và một bếp lợp rạ nay lợp ngói. Dần dần xây thêm được sân gạch, tường hoa và tường của nhà ngang. Ba gian giữa của nhà chính dùng để đồ thờ, tiếp khách, chỗ nghỉ ngơi và chỗ ngồi làm việc của cha tôi, gian phía tây là phòng cưới anh tôi, gian phía đông là phòng cưới tôi.
Nhà chính đã trải qua quá trình đổi thay. Lúc đầu bên trong là ba gian giữa có một dãy cửa khung bằng gỗ lim. Sau bị tháo đi cho thoáng, cha đem bán để chi tiêu trong những năm kinh tế khó khăn. Hai vì kèo gian giữa trước kia gối thẳng lên tường, bị lún, nên phải làm hai cột xây để đỡ chúng.
Rõ ràng là một kỷ vật mà cha ông để lại cho chúng tôi. Nội thất trong nhà từ đồ gỗ đến hoành phi câu đối cũng là những kỷ vật vô giá mà cha tôi đã để lại cho chúng tôi.
II. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH NHÀ LƯU NIỆM CHỦ TỊCH TRƯỜNG CHINH VÀ NHỮNG TÌNH TIẾT:
Ngay từ những năm đầu của thập kỉ 60, ông Tống Văn Tư, bí thư Đảng ủy xã đã báo cho biết là lãnh đạo tỉnh Nam Hà và huyện Xuân Thủy có ý định chuyển nhà này thành nhà lưu niệm anh tôi.
Điều đó ngày càng trở thành hiện thực. Chính quyền địa phương đã cho ông Đỗ Tất (tức Tre) đến để trông coi và được chi trả công hàng tháng (bằng thóc).
Trước năm 1980, anh tôi có báo cho biết ý định của địa phương. Tôi đề nghị có sự bàn bạc giữa địa phương và chúng tôi (các em). Anh tôi đồng ý, nhưng chẳng thấy động tĩnh gì. Tiếp đó, địa phương mua lại nhà của các con cháu cụ Ba Bỉnh liền bên cạnh để làm nhà khách. Có mấy người cháu bác tôi không đồng ý bán hay đổi nhà. Gia đình anh Tô (con ông Lộc) đang ở hai gian phía tây bị mời khéo, chuyển đến ở xóm 8 (nhà con ông Hai Cương bán cho xã) bằng cách nói bừa là các anh chị em anh Tô sinh sống ở Hà Nội đã đồng ý đổi nhà. Từ đó anh Tô buồn lắm. Có lần thăm vợ con, anh không về nhà mới, đi qua nhà cũ của ông cha để lại, anh chỉ ngó nhìn mà không vào. Trong hoàn cảnh đó, anh Tô bán nhà ở xóm 8 và di chuyển toàn gia đình lên Phổ Yên (Bắc Thái) sinh sống.
Sang năm 1981, địa phương cử anh Nguyễn Thế Hiệp thay ông Tất chuyên quản lý Nhà lưu niệm cho đến nay, đồng thời giao nhiệm vụ tiếp đón và giới thiệu với khách địa phương đến thăm. Tiếc rằng, nội dung giới thiệu về cha ông và nguồn gốc họ tộc chúng tôi như thế nào, chúng tôi không được tham gia.
Địa phương làm cho ông Tất một cơ ngơi nhà gồm một nhà ngói ba gian và một bếp xây, có vườn sân đàng hoàng, cũng ở xóm 7 coi như quà tặng cho ông. Tự nhiên ông được món bở mà nhiều bà con thôn xóm thấy lạ, bởi lẽ ai cũng biết ông Tất không có công lao gì giúp đỡ gia đình chúng tôi, lại càng không có công lao gì với anh tôi.
Sau đó, nhà cha mẹ tôi và nhà bác tôi được sửa chữa lại, cả bên trong và bên ngoài. Sau khi anh tôi qua đời (1988), tại đầu giong xóm 7 được treo biển đề chữ: “Nhà lưu niệm cố Chủ tịch Trường Chinh”, đến đầu năm 1992, Đài truyền hình Nam Hà đưa tin lễ khởi công tôn tạo nhà lưu niệm. Đường ô tô đi từ dốc Xuân Bảng về đến làng và đường xung quanh làng được sửa chữa tốt, trong làng đã có điện; nghe nói chi phí về hai vấn đề trên tốn mấy tỷ đồng.
Có tin địa phương muốn biến hai cơ ngơi nhà nói trên và nhà thờ ông tôi (cụ Đặng Xuân Bảng) gần đó thành một quần thể di tích lịch sử cách mạng, vì nhà thờ này đã là nơi in và phát hành được dăm số báo Dân cày trong năm 1930. Ý định đó chưa thực hiện được vì cháu chắt ông tôi và người trong họ chưa đồng ý.
Đến tháng 7 năm 1992, tỉnh Nam Hà có tờ trình lên Chính phủ và Bộ Văn hóa Thông tin đề nghị ra quyết định xếp hạng di tích lịch sử cách mạng nhà cha mẹ tôi dùng để làm Nhà lưu niệm anh tôi. Ngày 7-12-1992, Bí thư tỉnh ủy lại ký công văn gửi lên Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng và Chính phủ (không thấy đề gửi cho Bộ Văn hóa Thông tin) nhắc lại đề nghị nói trên. Nhân họp Quốc hội, ông chủ tịch Đặng Khôi cử người đến nhà đưa cho tôi đọc. Tôi đề nghị xin gặp ông ở Hà Nội, nhưng ông khước từ với lý do khá khiêm tốn.
Như vậy trong suốt thời gian từ 1960 đến năm 1992 địa phương không biết gì đến chúng tôi (các em đồng chí Trường Chinh), không được hỏi han bàn bạc gì, coi như mặc nhiên nhà cha mẹ tôi thuộc về anh tôi, trong khi các vị lãnh đạo cấp tỉnh và huyện phải biết hơn ai hết về hiến pháp và luật pháp. Thật khó hiểu!
Chúng tôi rất biết ơn địa phương đã quan tâm quản lý nhà nói trên từ 1951 đến năm 1960, nhưng không thể vì thế mà mất quyền công dân về thừa kế. Nó là quyền bất khả xâm phạm, được các bản hiến pháp ghi nhận từ khi thành lập nước VNDCCH cho đến bản mới nhất mà Quốc hội khóa IX nước CHXHCNVN đã thông qua. Tại bản Hiến pháp mà Chủ tịch Trường Chinh đã ký năm 1980 cũng có ghi nhận quyền này. Thật trớ trêu! Ngày 30- 8- 1990, Chủ tịch Võ Chí Công lại ký Pháp lệnh về thừa kế chi tiết hóa rõ thêm. Tại các văn bản khác Chính phủ và Bộ Văn hoá đã ban hành về bảo tồn bảo tàng và di tích lịch sử thì không có văn bản nào ghi nhận là nếu trong gia đình có vị nào đã từng là Chủ tịch nước hay Tổng Bí thư Đảng hay là một danh nhân của cả nước thì cơ ngơi nhà cửa cha mẹ họ mặc nhiên trở thành Nhà lưu niệm cho vị đó. Thế thì cơ ngơi nhà này vẫn là của chung anh chị em tôi. Đã nói đến quyền thừa kế tài sản thì tất cả các con của chủ nhân nó để lại đều có quyền ngang nhau (không kể chức vụ như thế nào).
Có người nói: “Nếu không có đồng chí Trường Chinh thì cơ ngơi nhà này cũng bị tịch thu hay xung công” vì cha mẹ tôi cũng là địa chủ nhỏ có 5 mẫu ruộng ở Tả Hành (Vũ Thư, Thái Bình). Giả thiết như trong cải cách ruộng đất có bị tịch thu thì sau “sửa sai” cũng phải hoàn lại, nhất là đối với một gia đình cách mạng. Ông tôi là một nhân sĩ yêu nước, cha tôi tham gia phong trào Đông kinh nghĩa thục, tất cả anh chị em chúng tôi đều tham gia cách mạng đã đóng góp mồ hôi, nước mắt và xương máu cho cách mạng thì không thể nào xử sự như thế được.
Có người vặn bẻ: - Nếu nói thừa kế thì giấy tờ đâu?
Trả lời: - Tất cả nhân dân Hành Thiện và bà con trong họ Đặng Xuân là giấy tờ đảm bảo vững chắc nhất.
Có người gợi ý: - Vinh dự và tự hào về ông anh lắm rồi, các ông các bà ơi!
Trả lời: - Chúng tôi là đồng hương, đồng tộc, lại là anh em ruột đồng chí Trường Chinh nên hiển nhiên là có vinh dự và tự hào, có lẽ hơn ai hết. Nhưng không thể vì thế mà mất quyền công dân mà chính Nhà nước ban cho. Đáng lẽ nó phải được tôn trọng hơn bất cứ trường hợp nào.
Năm 1949, có khả năng quân Pháp về chiếm đóng quê tôi, chính quyền địa phương yêu cầu cha mẹ tôi tản cư vào Nông Cống (Thanh Hóa). Chị ruột tôi là Nhường (tức Quý) từ Giao Thủy đưa gia đình về ở tại nhà đó cho đến 1951 thì cũng tản cư vào Nông Cống. Như vậy là chính quyền hai mang ở quê đã quản lý nó từ năm 1951 đến 1954, sau đó chính quyền cách mạng quản lý tiếp đến năm 1960. Bà Lâu, chị họ tôi (con dâu cụ Ba Bỉnh) kể lại trong thời kỳ địch chiếm đóng quê (trước 1954) quân Pháp bắt ông Tổng Cờ hồi đó làm xã đội trưởng ngụy dẫn chúng vào nhà và yêu cầu đốt nhà, lấy cớ là nhà của ông Trường Chinh. Ông này trả lời: “Đây là nhà của anh chị tôi gửi trông nom trước khi đi tản cư, nếu các ông đòi đốt nó đi, khi nào anh chị tôi về thì tôi lấy đâu ra nhà mà đền được”. Thế là chúng ngừng tay.
Có người nói: “Địa phương đã có công quản lý nhà thì còn đòi làm gì”. Đã nói đến công thì sẽ xem xét khi đặt vấn đề, nhưng không thể phớt lờ quyền công dân được.
Trong các văn bản về bảo tồn bảo tàng có mục từ chuyển nhượng và đền bù. Lại có ý kiến dù là đền bù tượng trưng (bằng tiền hay bằng hiện vật) cũng là mua và bán.
Lại có tin nói: Mua nhà cụ Ba Bỉnh là để chúng tôi làm chỗ nghỉ ngơi khi về thăm quê. Chúng tôi chưa hề được địa phương thông báo về ý định này. Thực ra cái nhà này dùng làm phòng khách thập phương, không phải dành riêng cho chúng tôi.
Tháng 11-1993, một vị phó Thủ tướng về thăm Nhà lưu niệm. Nghe nói ông góp ý với lãnh đạo tỉnh và huyện rằng, cha mẹ tôi gửi lại địa phương trước khi tản cư thì nay cứ tiếp tục quản lý. Đơn giản thế thôi các hiện vật nội thất trong nhà thì cứ giữ nguyên như cũ, còn những cái gì thuộc về đồng chí Trường Chinh thì đưa sang nhà cụ Ba Bỉnh. Thực ra, trong nhà không có hiện vật gì của anh tôi, trừ cái giường mà cha mẹ tôi sắm cho khi cưới vợ. Lại có tin sẽ lấy nhà ông Hội Như (chủ nhà bỏ đi Nam) làm Nhà lưu niệm cho đồng chí Trường Chinh. Dù ý đồ sau này có thành hiện thực thì nhà cha mẹ tôi hiển nhiên vẫn đã là Nhà lưu niệm đồng chí Trường Chinh.
Nhân ngày hội Hành Thiện (15-9-1992 âm lịch), một cán bộ phụ trách bảo tồn bảo tàng thuộc sở Văn hoá thông tin Nam Hà nói: “Mời ông Đĩnh về nhận lại nhà!”. Sao mà chuyện trẻ con đến thế! Chúng tôi đâu có đòi lại nhà, mà chỉ yêu cầu đảm bảo quyền công dân của chúng tôi, chớ có nhập nhằng giữa “vinh và quyền”.
(còn tiếp)
Nguồn: Thân thương cuộc đời. Tập Ký chọn lọc của Đặng Xuân Đĩnh. NXB Văn học, 2012.
www.trieuxuan.info
|