17.01.2013
Đặng Xuân Đĩnh
Thân thương cuộc đời (7)

III. QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VÀ DIỄN BIẾN SỰ VIỆC


Tháng 9-1992 tôi có đơn thư gửi lên Bộ Văn hoá Thông tin và các ông Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch UBND, Chủ tịch HĐND, Giám đốc sở VHTT Nam Hà về chuyện nói trên. Bộ VHTT đã trả lời Nam Hà cần làm việc với gia đình (tức chúng tôi) để nhất trí giải quyết, sau đó Bộ mới có thể ra quyết định là di tích lịch sử cách mạng được. Nghe nói Văn phòng Thủ tướng cũng có ý như vậy.


Mãi đến tháng 1-1993, tỉnh cử các ông Bí thư và Chủ tịch huyện Xuân Thủy đến gặp tôi (nói là được tỉnh ủy quyền). Kể từ lần gặp đó cho đến tháng 8-1993, chúng tôi gặp nhau tất cả 4 lần mà chưa giải quyết xong.


Lần thứ 1:


Tôi nói hết suy nghĩ của mình như đã viết ở trên, và đề nghị giải quyết như mọi trường hợp lấy nhà của nhân dân hay dòng họ làm nhà lưu niệm cách mạng, tức là đền bù cho một số tiền tương đương với giá của cơ ngơi nhà, còn về động sản (hiện vật trong nhà) coi như vô giá thì xin tặng lại hết làm kỷ vật lưu niệm cho anh tôi chứng minh từ xuất xứ.


Lần thứ 2:


Chủ tịch huyện Nguyễn Viết Quý lên gặp. Ông đã cho cán bộ khoa học kỹ thuật về đánh giá chi tiết tất cả bất động sản và động sản từ cái nhà, sân, bếp đến đồ gỗ, hoành phi câu đối... tổng cộng là 17.383.400 đồng. Chính xác đến từng đồng! Sau đó lại nói quỹ địa phương có hạn. Qua trao đổi nhất trí đền bù tượng trưng là 30 triệu đồng.


Lần thứ 3:


Các ông gặp tôi có nói địa phương chưa có tiền. Lại có dư luận không tốt về chúng tôi. Thấy vậy, tháng 6-1993 chúng tôi họp nhau lại và quyết định không nhận tiền nữa, yêu cầu đền bù cho một căn hộ ở Nam Định hay ở Hà Nội dùng làm nơi họp mặt và thờ cúng cha mẹ tôi hay để cho cô em tàn tật không gia đình sử dụng.


Lần thứ 4:


Tháng 8-1993, các ông lãnh đạo huyện lên gặp và đem tiền lên, tôi không thể nhận được nữa mà nói rõ đề nghị của chúng tôi.


Sau đó, chúng tôi thấy yêu cầu đền bù một căn hộ có thể gặp khó khăn và phiền phức cho cả đôi bên. Vì thế, tôi đã chấp nhận phương án đền bù tượng trưng bằng tiền như đã nói trên. Đã báo cho lãnh đạo huyện từ cuối tháng 3-1994 nhưng chưa thấy hồi âm.


Đến ngày 23-09-1994, ông Bí thư huyện Xuân Thủy (được tỉnh Nam Hà ủy quyền) lên Hà Nội gặp tôi làm giấy tờ chuyển giao và đền bù tượng trưng (tượng trưng có nghĩa là để chứng nhận nhà đó thuộc quyền sở hữu của chúng tôi). Trong các giấy tờ có ghi:


“Yêu cầu chính quyền địa phương bảo quản và sử dụng tốt (cơ ngơi nhà) đúng mục đích đã đề ra (tức là làm Nhà lưu niệm đồng chí Trường Chinh) không làm thay đổi vị trí hiện trạng của động sản và bất động sản. Mỗi khi con cháu cụ Viện về thăm nhà và quê hương, chính quyền đảm bảo cho các điều kiện thuận tiện về chỗ nghỉ ngơi, viếng thăm ngôi nhà và nội thất.


Về việc đền bù tượng trưng 30 triệu đồng có ghi số tiền nói trên trích từ ngân sách của huyện. Việc đền bù này hợp pháp, có lý có tình. Mọi ý kiến khác đều không có giá trị”.


Sở dĩ phải ghi sự thỏa thuận nói trên để tránh tình trạng nói là “mua và bán”. Nếu là mua và bán thì sao nó rẻ thế (có 30 triệu đồng), thẳng thừng là vô giá hay hàng tỉ đồng. Thế là từ nay tôi được thoải mái và rất phấn khởi là đã được tôn trọng quyền công dân và thừa kế, đến mức tôi có thể yên lòng mà vĩnh biệt cõi đời, phấn khởi vì đã vượt qua nhiều khó khăn trở ngại và lắt léo, phấn khởi vì đã đảm bảo được thanh danh của cha ông không bị mang tiếng là nhà bị xung công.


Trong tâm trạng đó, ngày 10-10-1994, tôi về thăm quê nhân ngày hội làng 15-9 âm lịch, đi thăm bà con, lên chùa, xem hội. Trước khi ra về Hà Nội, tôi ghi vào sổ lưu niệm cố Chủ tịch Trường Chinh như sau:


“Đã hơn chục năm qua, hôm nay tôi có dịp về thăm quê hương thân yêu, thăm ngôi nhà mà cha mẹ tôi đã sinh ra anh chị em chúng tôi và giáo dục chúng tôi nên người.


Ngôi nhà đã trở thành Nhà lưu niện anh tôi (Trường Chinh) với những kỷ vật từ xa xưa còn lưu giữ làm cho tôi nhớ lại những kỷ niệm từ thời niên thiếu của chúng tôi.


Nhân đây tôi lại được viếng thăm nhà thờ họ, nhà thờ ông bà tôi”.


Tất cả đã gợi lên cho tôi lòng biết ơn sâu sắc tới quê hương, tới cội nguồn qua mấy dòng thơ dưới đây:


                        Giở trang di bản thấy cha ông


                        Chừng trăm năm trước thời xưa cũ


                        Bãi cát mênh mông thiếu hạt vàng...


                        Âm thầm nhắn nhủ tình non nước


                        Lớp lớp ngàn năm chống ngoại xâm.


                        Đem luận điểm thời nay thử xem xét


                        Mà sao thấy cả một vừng đông


                        Trân trọng người xưa lòng chính trực


                        Bản sắc sâu xa tính hòa đồng.


                                                   Đặng Xuân Đĩnh


E. Một số bài báo viết về ông nội và cha mẹ tôi


Trích trong “ TRƯỜNG CHINH TIỂU SỬ”


Gia đình ông Đặng Xuân Viện[1] là một mẫu hình gia phong nề nếp, nhân hậu, có truyền thống giáo dục, học hành, sống có kỉ cương. Ông tham gia Đông Kinh nghĩa thục, tuy không bị tù đày nhưng bị thực dân Pháp ghi vào sổ đen, bị theo dõi suốt đời. Ông là cây bút xuất sắc trong nhóm “Nam Việt đồng thiện hội”. Cũng như cha mình, lĩnh vực nghiên cứu của ông rất rộng, phong phú. Ngoài những sách viết về phong tục địa lý... ông dành nhiều thời gian nghiên cứu và viết những tác phẩm về lịch sử, đề cao tinh thần dân tộc. Ông là người khảng khái, nhân ái, phong độ thư thái, ung dung, bạn bè xa gần đều ca ngợi:


              Khảng khái bi ca dòng hào sĩ


              Phong lưu văn sắc bậc đại nhân


  (Câu đối của bạn bè tặng ông vào dịp xuân Kỷ Mùi, 1919)


Nét đặc sắc nhất trong ông là tinh thần yêu nước, không chịu ràng buộc bởi lễ giáo phong kiến.


Vợ ông là bà Nguyễn Thị Từ con cụ cử nhân Nguyễn Đức Ban. Họ Nguyễn là một họ lớn ở làng Hành Thiện, có truyền thống học hành khoa bảng, nổi tiếng với những hành động thẳng thắn, không chịu khuất phục trước cường quyền. Cụ Ban đã từng làm quan huấn đạo, song vì không chịu được nghịch cảnh ở chốn quan trường, cụ bỏ về làm thuốc chữa bệnh với mục đích cứu người, tích phúc nổi tiếng.


Tiếp thu truyền thống khoa bảng nhân đức, có nền nếp gia phong khi về nhà chồng bà Nguyễn Thị Từ là người vợ chung thủy, người mẹ hiền, công dung ngôn hạnh vẹn toàn, hết lòng chăm sóc chồng con. Bà vừa là người sinh thành nuôi dưỡng vừa là người thầy giáo đầu tiên của các con mình. Suốt đời bà tần tảo cấy lúa, trồng khoai, trồng dâu nuôi tằm, quay tơ dệt vải để chu cấp cho gia đình, cho các con ăn học và rèn dạy các con theo truyền thống quê hương dòng họ. Là người có tinh thần yêu nước, bà đã góp phần nhóm lên ngọn lửa ấy trong lòng các con và ủng hộ con mình đi làm cách mạng.


II.       Niềm tự hào quê hương. Một nhân vật kiệt xuất làng Hành Thiện- Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng của Lê Vũ Hoàng (báo Nam Hà, ngày 9-12-1993).


III.      Bước đầu kiểm kê lại những tác phẩm của Đặng Xuân Bảng trong kho sách Hán Nôm, của Hoàng Văn Lâu (tạp chí Hán Nôm- Hà Nội số 4, 25- 1995). Tác giả giới thiệu gần 20 tác phẩm.


IV.      Nhà văn hóa lớn của Hành Thiện- Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng (1828- 1910) của giáo sư Đặng Đức Anh (Hành Thiện lịch sử và văn hóa- Tập I). Đồng hương Hành Thiện tại Hà Nội, 1995.


V.      Một phát hiện mới: Thơ Đặng Xuân Viện của Hoàng Văn Lâu (báo Nhân dân chủ nhật ngày 28-8-1993).


VI.      Nhà nho Đặng Xuân Viện, ông là thân phụ đồng chí Trường Chinh, một dòng họ khoa bảng yêu nước. Theo Hoàng Văn Lâu (Báo Khoa học và Tổ quốc số 10- 1995- LH hội KHKTVN xuất bản)- và nhiều bài báo khác của Trung ương và địa phương. Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập I- 1996) có mục từ tên ông tôi và tên cha tôi. Tôi rất phấn khởi, xã hội đã đánh giá đúng hai vị đều là tác gia được ghi vào Từ điển Bách khoa Việt Nam đầu tiên của ta.


VII. Ngày 22-11-1995 Viện Sử học (thuộc Trung tâm KH và NVQG) giới thiệu PTS Tạ Ngọc Liễn đến gặp tôi xin mượn sách “Sử học bị khảo” (2 tập) của ông tôi để photocopy nguyên bản. Nay Viện đã dịch và xuất bản sách này. Năm 2000, Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã cho xuất bản quyển sách Việt sử cương mục tiết yếu của ông tôi. Sách dày 670 trang chữ quốc ngữ và 672 trang chữ nho nguyên bản.


Những tác phẩm nói trên xuất hiện vào cuối thế kỷ 19, nhưng có lẽ vẫn còn có bổ ích cho ngày nay.


Thời thế đã đổi thay. Không phải chỉ có một luồng gió, mà gió bốn phương đã thổi vào làm cho ta có điều kiện so sánh chắt lọc lấy những điều hay mà học, mà noi theo. Đồng thời có thể qua đó thẩm định lại những điều mình suy ngẫm bấy lâu nay có chỗ nào là bảo thủ, là thành kiến, là duy ý chí thì tiếc gì mà không loại trừ!


                                                    


CHƯƠNG V.
NHỚ VỀ ANH TRƯỜNG CHINH
(ĐẶNG XUÂN KHU: 1907 – 1988)


 


A. Thời thơ ấu của anh Trường Chinh


Anh em tôi sinh ra tại làng Hành Thiện, nay là thôn Hành Thiện thuộc xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.


Thời thơ ấu anh tôi sống với gia đình ở làng, học hết cấp I trường huyện, có học chữ nho do cha dạy. Anh hơn tôi 12 tuổi nên tôi không biết rõ anh về thời kỳ này. Những mẩu chuyện dưới đây là do anh hay người thân kể cho nghe.


Năm lên 3 tuổi, ông tôi mất, mẹ tôi mặc áo tang và quấn khăn tang cho anh, đặt anh ngồi trên giường và dặn:


- Con ngồi yên đây, chờ mẹ, lát nữa mẹ cho đi chơi- Thế là anh ngồi yên chờ mẹ.


Anh chăm học, có ý sáng dạ, học đâu nhớ đấy, thấy hiện tượng lạ thì hỏi ngay, vui đùa vừa phải, biết vâng lời cha mẹ, tỏ ra lễ phép với cha chú. Trên anh còn có một người chị là chị Yên. Nghe kể chị Yên cũng sáng dạ, thuộc lòng các tác phẩm văn học như: Truyện Kiều, Nhị Độ Mai, Cung oán ngâm khúc… Ai cũng khen chị chăm làm, chăm học, nết na. Chẳng may cho chị, năm 15 tuổi bị bệnh thương hàn mà chết. Trước khi tắt thở, chị gọi anh Khu vào và dặn:


- Chị không sống được nữa đâu, em cố học hành để đền đáp công ơn thầy mẹ, mở mày mở mặt với người.


Một hôm, Tây mật thám sắp vào khám nhà, cha tôi đưa cho mẹ tôi quyển sách chữ Hán nói về chế tạo lựu đạn đem giấu đi. Mẹ tôi giúi quyển sách đó vào bếp tro nguội, vờ thổi lửa bên trên. Chúng xuống bếp lấy ba toong đập đập vào lưng bà và hỏi:


- Mụ làm gì ở bếp?


Bà từ tốn trả lời:


- Tôi thấy các quan vào, vội xuống bếp nấu nước, mời các quan xơi.


Khi ra về chúng sai lính xúc một thúng ngô nói là “quan xin”. Hồi ấy, anh chừng 8 – 9 tuổi lẽo đẽo theo chúng, cuối cùng hỏi mẹ:


- Mẹ ơi! Sao họ lại lấy ngô nhà ta?


- Nó ăn cướp của nhà đấy!


Lần khác, tuần phủ Thái Bình là Nguyễn Duy Hàn bị tổ chức yêu nước chống Pháp ném bom chết. Đám tang được tiến hành rất linh đình. Có cả quan Tây, lính Tây, đội kèn tây trống tây về đưa đám. Anh mải đi xem, ra đến tận huyệt đến tối mới về, bèn hỏi cha:


- Bẩm thầy, ông này làm gì mà sao đám tang to thế, có cả quan Tây về.


- Ông ấy theo Tây giết hại và bắt những người không theo Tây nên họ ném bom giết đấy.


B. Sang tuoåi tröôûng thaønh


Học hết tiểu học, anh lên Nam Định theo học Cao đẳng tiểu học (tức thành chung). Anh trọ học nhà ông Đặng Văn Cổn (tức Nhiếp) chú họ tôi làm nghề lái xe lửa. Qua vài người làng làm công nhân nhà máy dệt (trong đó có Đặng Huy Động, là con dì tôi làm thợ dệt, bị tai nạn lao động cụt một ngón tay), anh tìm hiểu đời sống và công việc làm ăn của họ. Trong khi học, anh tham gia công tác xã hội như quyên tiền giúp người nghèo, đóng kịch lấy tiền ủng hộ đồng bào bị lũ lụt. Vì da trắng, người nhỏ bé, nên đóng vai nữ. Đang học trường thành chung, anh bắt đầu giác ngộ cách mạng. Năm 1925 tham gia vận động đòi thả tự do cụ Phan Bội Châu. Năm sau lãnh đạo cuộc bãi khoá để truy điệu cụ Phan Chu Trinh nên bị đuổi học một thời gian, sau lại được tiếp tục học.


Anh vào tổ chức cách mạng tiền thân của Đảng Cộng sản từ hồi đó.


Học xong bậc thành chung, lên Hà Nội học tư giáo sư Lê Văn Kim, chuẩn bị thi vào Trường Cao đẳng Thương mại. Anh thi đậu được học bổng mỗi tháng 20 đồng Đông Dương. Số tiền này có giá trị, bình thường hồi đó có thể nuôi được 3- 4 người. Thỉnh thoảng nhà trường tổ chức dạ hội khiêu vũ, anh ít tham gia để thời gian vào việc học và đọc sách văn học của ta và của Pháp. Anh tiếp tục hoạt động cách mạng, anh chơi thân với Nguyễn Văn Phúc bạn cùng học trường thành chung Nam Định, Khuất Duy Tiến bạn cùng học Cao đẳng Thương mại.


Đang học năm cuối cùng (năm thứ ba), anh xin thôi học để tiện hoạt động cách mạng.


Năm 22 tuổi, anh cưới vợ là chị Nguyễn Thị Minh (người làng). Lúc đầu anh từ chối, ý đồ muốn xuất dương vừa học vừa hoạt động cách mạng. Cha mẹ tôi bảo nhà không có tiền vạn cho du học. Chuyện đó sau này không thấy nhắc tới nữa. Cùng thới gian ấy, anh cùng một số người trong họ như Đặng Xuân Thiều, Đặng Xuân Quyền, Đặng Tuần Bàng và hai người làng ra tờ báo Dân cày in thạch ở nhà thờ ông tôi, phát hành được 5- 6 số xuống tới Hải Hậu, Giao Thuỷ và sang Thái Bình.


Sau đó thôi học, anh thuê nhà ở Hậu Giám gần sân vận động Hàng Đẫy bây giờ. Nhân nghỉ hè tôi lên với anh chừng một tháng để học thêm. Ngoài hoạt động cách mạng, anh dạy học ở các trường tư, tôi nhớ có Trường Tiến Minh.


Đầu năm 1930 và trước đó, anh có quan hệ với Nguyễn Thế Vinh vừa là người làng vừa là người họ ngoại. Vinh du học bên Pháp, sau sang Moskva một thời gian nghe nói học Trường Đông Phương, rồi về nước. Tên này ngấm ngầm tìm hiểu hoạt động cách mạng của ta[2].


Vào quãng mùa thu năm 1930, anh Trường Chinh bị bắt giam ở Hỏa Lò (Hà Nội), bị tra tấn. Xem ý chúng cứ moi những điều gì mà có thể Vinh đã tố cáo. Anh chịu đòn rất tốt, không nhận gì hết. Cuối cùng thực dân Pháp vẫn kết án 12 năm tù cầm cố. Vì không có chứng cứ gì, chúng đổ bừa cho anh cái tội đốt cổng chào đón Toàn quyền Nam Dương (Inđônêxia) và đưa tin trên báo. Sau này tôi có dịp hỏi anh về chuyện đó thì được trả lời:


- Đoàn thể không bao giờ chủ trương làm việc đó.


Một lần tôi, mẹ tôi và chị Minh bế con được 7- 8 tháng tuổi lên thăm ở Hỏa Lò. Tôi ngoan ngoãn đứng tựa vào cột cổng nhà giam, tay cầm cái mũ cát úp trước bụng. Không ngờ trước thái độ đó, tên lính Tây làm nhiệm vụ gọi tên tù, bảo thông ngôn hỏi xem tôi xin vào thăm ai. Tôi trả lời. Thế là nó cho vào ngay. Chúng tôi vào thấy anh sau lưới sắt. Mọi người đều khóc, còn anh thì vui cười, người gầy gò nhưng quần áo tù sạch sẽ. Lưới sắt có khoét một cửa như cửa bán vé xe lửa đủ để đưa rổ quà vào. Tất cả quà bánh đều bị cắt đôi hay bẻ ra để khám. Chúng cho đưa cháu bé lọt qua cửa, anh được bế cháu vài phút.


Một thời gian sau anh bị đày lên Sơn La, bị bệnh sốt rét cơn nhưng qua khỏi. Trong thời gian ở tù làm y tá, anh biết tiêm thuốc và cho thuốc chữa những bệnh thông thường, biết làm thợ mộc đóng những đồ lặt vặt.


Tất cả những cuộc đấu tranh chống lại chế độ hà khắc nhà tù anh đều tham gia, có lần tuyệt thực được một tuần. Còn tham gia viết báo chí mật chuyền tay nhau trong nhà tù đấu tranh với chúa ngục và tranh luận đường lối đấu tranh cách mạng với tù Quốc dân Đảng.


Trong thời gian đó, Nha học chính Đông Dương viết công văn gửi cho cha tôi yêu cầu bồi thường học bổng đã cấp cho anh. Số tiền khá lớn, có đến 500 đồng Đông Dương. Họ dọa nếu không bồi thường thì tịch thu gia sản. Cha tôi viết đơn với lý lẽ: “Tôi không vay nợ các ngài, đề nghị các ngài thả con tôi ra để nó đi làm trả nợ các ngài”. Sau rồi chuyện đó cũng thôi.


C. Dưới chính quyền thực dân Pháp


Nhân Mặt trận Bình dân Pháp lên cầm quyền, năm 1936 anh được ân xá từ Sơn La, bị giải về huyện. Người nhà sang đón, đưa cho một bộ quần áo để thay. Anh nói:


- Người bẩn như thế này thì thay làm gì.


Và cứ như thế mặc bộ quần áo số tù đi về mặc cho người làng dòm ngó.


Anh bị quản thúc ở làng, hàng tháng phải sang trình diện quan huyện. Tôi đang học Trường Kỹ nghệ Hải Phòng. Được tin, tôi xin nghỉ vài hôm về thăm. Sau anh cùng tôi lên Hà Nội. Hai anh em chia tay nhau ở ga Hàng Cỏ.


Anh gặp Thống sứ Bắc Kỳ đề nghị:


- Các ông quản thúc ở quê, tôi không biết lấy gì để sống. Tôi không biết làm ruộng, mà không có ruộng. Đề nghị các ông cho tôi lên Hà Nội đi dạy học tư kiếm tiền sống hay tìm một việc gì để làm.


Chúng bất đắc dĩ đồng ý. Anh dạy tại các trường tư thục và tất nhiên tiếp tục hoạt động cách mạng.


Anh được Xứ uỷ Bắc Kỳ phân công phụ trách tuyên truyền báo chí công khai của Đảng. Đầu tiên là báo Tin tức, tiếp đến là báo Đời nay, Thời thế… Chính quyền bảo hộ kiểm duyệt chặt, thỉnh thoảng cột báo bị xóa trắng một đoạn. Bị đóng cửa tờ báo này, lại ra tờ báo khác, bên cạnh các tờ báo tiếng Việt, lần lượt ra đời các tờ báo tiếng Pháp như tờ Le travail, Notre voix, Rassemblement… Sở dĩ có tờ báo tiếng Pháp vì tiếng Pháp ít bị kiểm duyệt hơn, ra báo dễ dàng hơn, còn có nhiệm vụ tuyên truyền cách mạng trong hàng ngũ trí thức, dân chủ, hợp tác với Chi hội Đảng Xã hội Pháp ở Đông Dương về một số mặt nào đó. Trong thời gian này, anh cùng đồng chí Võ Nguyên Giáp viết cuốn “Vấn đề dân cày” với bút danh Qua Ninh và Vân Đình.


Năm 1938, Nguyễn Thế Rục mắc bệnh lao mất. Anh Rục- một chiến sĩ cộng sản là người cùng làng. Hai người thường gặp nhau. Lấy danh nghĩa Mặt trận Bình dân, đám tang anh Rục được tổ chức ở Hà Nội. Có hàng trăm người đi đưa, gồm đủ mọi thành phần công nông trí thức. Chính quyền thực dân cho lính đi kèm, vô tình đám tang trở nên trọng thể như đám tang một danh nhân đương thời vậy. Anh Khu đọc bài điếu văn đề cập rất khéo đến tinh thần cách mạng của anh Rục. Ngày mồng 1- 5 năm ấy đoàn thể tổ chức một cuộc mít tinh chừng hai vạn người trước cửa Đấu Xảo (nay là Quảng trường mồng 1- 5), nêu khẩu hiệu: “Cơm áo, tự do, hòa bình”, rất có khí thế và trật tự. Cảnh sát, sen đầm, binh lính sẵn sàng kiếm cớ để phá, nhưng không được. Trong mít tinh hát bài Quốc ca Pháp và Quốc tế ca. Chúng vừa bực tức vừa khoái vì có hát bài La Marseillaise. Anh và vài ba người bị bắt giam, nhưng ngày hôm sau được thả.


Năm 1939, Chính phủ Mặt trận Bình dân Pháp bị đổ, phái hữu lên cầm quyền. Pháp xít Đức phát động chiến tranh. Thực dân Pháp ở Đông Dương ra sức đàn áp cách mạng, lùng bắt chiến sĩ cộng sản và những người yêu nước. Hồi đó, tôi không làm trên tuyến đường sắt Lào Cai - Vân Nam nữa, mà về làm công nhân cơ khí ở Nhà máy Hỏa xa Gia Lâm. Tôi tham gia hoạt động cách mạng trong đoàn Thanh niên Dân chủ của Đảng năm 1937 ở Hải phòng và tiếp tục hoạt động ở Gia Lâm. Tôi trọ nhà một anh đảng viên Đảng Cộng sản phố chợ Gia Lâm. Vào quãng tháng 10-1939, anh tôi đến chơi và ngỏ ý muốn ở lại vài hôm. Anh chủ nhà đồng ý. Một lúc sau chủ nhà báo cho biết là động rồi. Gần đấy có tên ký cẩm (thư ký sở cẩm Gia Lâm) đã đánh hơi biết. Tôi báo cho anh đi khỏi và thoát. Có lẽ sau đó anh về quê. Hôm sau xuống nhà mẹ vợ ăn giỗ. Người làng báo cho biết có Tây dẫn lính vào làng. Họ đoán là vào nhà tôi. Cha tôi liền cấp tốc cho người xuống nhà mẹ vợ anh, đưa cho anh gói tư trang và quần áo bỏ trốn đi ngay, không về nhà nữa. Cứ thế anh đi đò qua sông sang đất Vũ Tiên (Thái Bình) vào thôn Tả Hành là nơi bà Hai cha tôi sinh sống. Bà hết sức giúp đỡ. Lúc đầu anh trốn ở Tả Hành (nhà ông Sơn). Sau thấy động, anh vào ở nhà ông Phan- một giáo dân tốt bụng xã Đức Long. Thời gian sau, anh lại ra nhà ông Sơn. Có lần Thanh tra mật thám Nam Định (tên tây lai Charle Fleutot và Phán Hoạt - Chánh văn phòng của nó) cùng Tri huyện Vũ Tiên dẫn lính vào khám nhà bà Hai. Tên thanh tra cầm cái đèn pin sục sạo khắp nơi. Nó soi cả vào cái chum đựng thóc.


Tôi về thăm quê, gặp anh Tổng T, con rể bác tôi cho biết:


- Nó báo về làng là cậu Khu trốn bên Tả Hành, cậu có biết không? Cậu về nói với ông cho cậu ấy đi ngay, nó cho lính vây bắt thì khốn.


Cùng thời gian ấy bà bác tôi (bà Ba Bỉnh) cho biết:


- Tôi nói nhỏ cho anh rõ, người ta đồn anh Khu trốn bên Tả Hành, anh có biết không?


Tôi cũng có ý tìm anh, đồng thời đoàn thể hỏi tôi, bảo tôi đi tìm. Thế là rõ có nhiều khả năng anh trốn ở Tả Hành. Tôi thuyết phục mẹ tôi và nói:


- Thầy mẹ phải cho anh Khu đi khỏi, động rồi. Nó cho lính vây ráp từ đầu xóm đến cuối xóm thì chắc chắn nó bắt được. Mẹ cho con gặp anh ấy xem sao.


Thế là anh cho gặp. Vào quãng đầu hè năm 1940, tôi về Tả Hành. Biết tính anh cẩn thận, để cho anh tin tôi đã ở trong đoàn thể, tôi cầm sách báo bí mật của Đảng đem về. Anh ở gian đầu hồi tối om nhà ông Sơn. Giường nằm là cái chõng tre, không có bàn ghế, có một lỗ vuông vừa chui lọt khoét vào vách đất. Cái nắp lỗ làm rất khéo, nếu không có tinh ý thì không thể phát hiện ra được. Nếu động thì chui ra phía ao. Trong thời gian bị bao vây ở Tả Hành, anh hoàn thành tập II “Vấn đề dân cày”. Đang có ý định viết truyền đơn vận động chống Pháp Nhật thì chuẩn bị đi khỏi Tả Hành. Anh hỏi thăm tình hình chúng khủng bố bên ngoài, tình hình Nhà máy Xe lửa Gia Lâm sau vụ đình công. Tôi nói:


- Các anh ở Hà Nội đang tìm anh. Ở đây động rồi. Anh có muốn đi không?


- Mình muốn đi lắm, nhưng bắt không được liên lạc, mà các anh ở Thái Bình bị bắt hết rồi.


- Em sẽ bắt liên lạc cho.


- Liệu có chắc không?


- Không chắc thì em cũng chết. Em đã vào Đoàn Thanh niên Dân chủ.


Tôi kể ra một số đồng chí có quan hệ như: Ngô Gia Khảm, Lương Văn Nhân, Lương Khánh Thiện, Nguyễn Văn Đệ (tức Khang) là những người anh cũng biết.


- Hay là tìm cho anh một việc thợ mộc, anh biết làm mộc hồi ở Sơn La.


Tôi đưa tay anh nắm.


- Nhưng da anh trắng như trứng gà bóc, tay mềm như tay con gái thì là thợ mộc làm sao được! Muốn có tay chai như em đây phải mất 4- 5 tháng. Anh yên tâm.


- Hai tuần nữa về đây, anh trả lời.


Đúng hai tuần tôi về. Anh viết một lá thư cuộn lại to hơn cái tăm đưa tôi đem đi.


Thế là đường dây liên lạc với Xứ uỷ Bắc Kỳ (qua thành uỷ Hà Nội) đã được nối thông. Chừng một tuần sau thì Xứ uỷ đưa cho tôi một lá thư trả lời cũng cuộn lại như nói trên. Tôi đem về cho anh. Sau đó Xứ uỷ cử chị Trương Thị Mỹ về đón, đóng vai cháu bà Hai ở Hưng Yên về thăm cô. Hôm đầu anh chưa cho gặp, chừng còn thử thách chăng, hôm sau cho gặp.


Để chuẩn bị đi, anh lấy nước củ nâu xát vào mặt, vào cổ, bàn tay, bàn chân, các chỗ nào có thể thò ra ngoài, cho da đen đi và tập đi bộ. Ông Sơn tiễn anh đi một quãng ven sông Hồng, sau đi đò sang đất Hưng Yên. Anh đóng vai đồ nho, áo the khăn xếp, ô đen cắp nách. Đi bộ mất 3- 4 ngày tìm đường lên Bắc Ninh. Chị Mỹ kể cho nghe: Cũng gian truân lắm… Đến thị xã Hưng Yên bất ngờ gặp tên mật thám mà trước đó cũng làm với chị ở Nhà máy tơ Hải Phòng. Nó đon đả chào, hỏi đi đâu. Chị trả lời:


- Đói quá, đi buôn “nước bọt” về kiếm cái nuôi con thôi.


Thực tình lúc ấy chị chưa chồng thì làm sao có con được. Cuối cùng thoát khỏi, kịp vào họp Xứ uỷ.


Từ đó anh em tôi thỉnh thoảng gặp nhau, thuận tiện nhất là thời gian tôi giảng dạy ở Trường học nghề Đáp Cầu, nơi mà anh rể tôi là Đặng Chu Thạch làm kỹ thuật viên. Anh Thạch, đảng viên từ năm 1936 là người tốt thường bố trí cho gặp nhau, nhưng không bao giờ gặp nhau cả ba người. Khi gặp chúng tôi trao đổi tin tức gia đình. Anh Khu góp ý cho tôi kinh nghiệm vận động quần chúng theo từng tầng lớp xã hội khác nhau, nếu bị bắt thì đối phó như thế nào. Chúng tôi rất tâm đắc với nhau nhận xét về chế độ cai trị của thực dân và những tên thực dân Pháp như thế nào. Mỗi lần gặp, tôi đưa cho anh dăm bảy đồng để tiêu, lần nào anh cũng nói:


- Anh sẽ đưa về cho đoàn thể tiêu chung.


Có lần đi qua cầu Đume (cầu Long Biên), thấy hai đầu cầu đều dán ảnh Đặng Xuân Khu và Hạ Bá Cang (tức Hoàng Quốc Việt), treo giải nếu bắt sống hoặc lấy được đầu thì bao nhiêu tiền. Tôi lo ngại vì anh hay đi về Hà Nội, nhất là trong trường hợp toà án của thực dân đã kết án anh tử hình vắng mặt rồi. Nhưng lại nghĩ anh rất cảnh giác, chắc là không đi qua cầu mà đi đò. Bà Cả Tề (tức Đặng Thị Thiềm) người làng, đưa một lá thư nhờ tôi đọc xem có phải chữ anh Khu không. Đúng là chữ anh rồi. Bà là dì anh Nguyễn Thế Rục, người quản lý tài sản của anh Rục do bố mẹ để lại. Trong thư nói đến việc anh Rục trước khi chết, dặn là toàn bộ tài sản gồm vốn đóng góp vào cửa hàng chiếu xuất khẩu Fabrinat ở 116 Hàng Gai - Hà Nội và ruộng đất ở Hải Hậu sẽ ủng hộ cách mạng. Không những bà Thiềm mà nhiều nhà giàu khác thuận theo anh Khu ủng hộ cách mạng và là chốn lui tới che chở đi về.


Anh khéo vận động cách mạng dù là trí thức, tư sản, địa chủ, hào lý, nông dân, công nhân, học sinh... Hiểu tâm lý của mọi tầng lớp, mọi giai cấp, đủ lời lẽ để thâm nhập, làm cho họ cảm thấy anh là người của họ. Thuyết phục cả những ông khá giả trong thôn xóm ra làm hào lý: - Anh ra làm việc làng để giúp đỡ cách mạng, làm chỗ dựa cho chúng tôi hoạt động, nhờ đó thoát được nhiều trường hợp hiểm nghèo. Tại làng Hồng Vân (Bắc Giang) các anh đang họp thì địch đến vây bắt. Anh chạy ra bờ sông qua Sỏi Quýt, thuyết phục bố con ông thuyền chài chở qua sông. Lần khác, họp trên tầng gác hai một cơ sở cách mạng, được báo tin địch đến vây bắt, anh chuồn sang nóc nhà bên cạnh và tuột xuống đất chạy thoát, mặc cho chúng hô: Đứng lại!


Trong suốt thời gian, hoạt động cách mạng trước 8- 1945 cũng như sau này, anh luôn nắm chắc quan điểm quần chúng của Đảng, lấy dân làm gốc, dựa vào dân, do dân, vì dân. Anh từng nói: “Rừng cây chưa chắc đã bằng rừng người, núi đá chưa chắc đã vững bằng núi người”.


Trước cách mạng tháng 8- 1945, anh làm công tác binh vận, vận động cả lính Tây, lính ta. Trong số lính Tây hành binh có anh người Đức lên là Chiến Sĩ theo ta suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp làm báo binh vận.


Cô X, làm quen được một anh đội hậu cần. Mỗi lần gặp cô, anh ta say sưa đọc thơ tình đăng trên báo Tiểu thuyết thứ năm, Tiểu thuyết thứ bẩy và tán tỉnh. Anh bảo cô đọc cho nghe thơ của anh đội nọ. Nghe xong, thấy trong thơ không phải chỉ có âm hưởng của kẻ si tình trước cặp tuyết lê, đôi mắt thơ mộng, mà còn toát lên tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước. Anh nói:


- Được rồi, tôi giúp cô. Tôi sẽ làm một bài thơ, ba hôm nữa cô đến địa điểm nọ, đem về học thuộc lòng, sau đọc cho anh đội nghe.


Đó là bài “Là thi sĩ” của Sóng Hồng. Bài này có tác dụng làm cho anh đội quyết tâm đi theo cách mạng. Chẳng may trong cuộc họp có anh đội và cô X bị lộ, cả hai đều bị bắt và bị đầy ra Côn Đảo. Sau cách mạng tháng 8- 1945, hai người được tha về. Anh đội ở lại miền Nam tham gia chiến đấu, được phong hàm thiếu tướng, còn cô về Bắc công tác. Anh đội ra Bắc họp, gặp anh và nói:


- Cảm ơn đồng chí đã giác ngộ tôi bằng một bài thơ. Nó có sức mạnh dẫn dắt tôi đi theo Đảng làm cách mạng.


Có người nói bài thơ đó anh viết nhân đọc những bài thơ tình trong dòng thơ mới. Nhưng đó không phải là nguyên nhân chính.


LÀ THI SĨ


                             Tặng các nhà thơ Việt Nam


Nếu “thi sĩ nghĩa là ru với gió


Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”


Để tâm hồn treo ngược trên cành cây


Hay là lướt đìu hiu cùng ngọn liễu


Nếu thi sĩ nghĩa là nhăn với mếu


Nghĩa là van Thượng đế rủ lòng thương


Hồn bơ vơ lạc lõng ở muôn phương


Khóc rả rích như ve sầu tháng hạ


Nếu thi sĩ vùi đầu mải miết tả


Cặp tuyết lê hồi hộp trước tình yêu


Cho cuộc đời là mộng ái cao siêu


Chìm đắm ở thương hoa và tiếc ngọc


Nếu thi sĩ nghĩa là đem gấm vóc


Phủ lên trên xã hội đã điêu tàn


Véo von ca cho át tiếng kêu than


Của nhân loại cần lao động giẫy giụa


Thì bạn hỡi, một nhà thơ như rứa   


Là tai ương chướng họa của nhân quần.


Nhọc tơ lòng mà phí cả ngày xuân


Để ca ngợi bất công và tàn ngược


Uốn gối trước cường quyền và mong được


Lượm hương thừa, phấn thải để qua ngày


Khiến loài người đắm đuối và mê say


Sống thoi thóp dưới gông xiềng nô lệ.


Không! Không được! Hỡi các nhà văn nghệ


Các nhà thơ yêu dấu của đồng bào


Các nhà thơ trong sạch và thanh tao


Hoa thơm ngát trong vườn xuân đất Việt.


Là thi sĩ phải là hồn cao khiết


Chí kiên cường và sứ mệnh cao siêu


Ca tự do, tiến bộ với tình yêu


Yêu nhân loại, hoà bình và công lý


Cao giọng hát những bài ca chí khí


Của anh hùng đã vì nước quên mình


Sống quang vinh và chết cũng quang vinh


Của Bãi sậy, Thái Nguyên và Yên Bái...


Là thi sĩ nghĩa là theo gió mới


Tìm ý thơ trên ngọn sóng Bạch Đằng


Để tâm hồn dào dạt với Chi Lăng


Làm bất tử trận Đống Đa oanh liệt


Dốc cho hết cả bầu nhiệt huyết


Tưới tâm can đồng loại lúc tàn đồng


Thả trái tim hoà nhịp với Đô Lương


Với Lục tỉnh, Bắc Sơn và Đình Cả.


Là thi sĩ nghĩa là cao khúc họa


Cuộc đấu tranh vĩ đại của toàn cầu


Chống hung tàn xâm lược khắp năm châu


Trên trái đất dựng cao cờ dân chủ.


Dùng bút làm đòn chuyển xoay chế độ


Mỗi vần thơ: bom đạn phá cường quyền


Và lúc cần quẳng bút lấy long tuyền.


Hỡi thi sĩ! Hãy vươn mình đứng dậy


Thời rượu nồng, đệm ấm đã qua rồi.


Thôi đừng khóc gió với than mây


Hãy nhịp bước trên con đường tiến bộ


Dùng thi khúc mà lạnh lùng soi tỏ


Những bệnh căn xã hội đã tràn đầy


Cùng công nông vun xới cuộc tương lai


Đã chớm nở từ Liên Xô hùng vĩ.


                             Ngoại thành Hà Nội, tháng 6- 1942


(còn tiếp)


Nguồn: Thân thương cuộc đời. Tập Ký chọn lọc của Đặng Xuân Đĩnh. NXB Văn học, 2012.


www.trieuxuan.info








[1] Xem “Trường Chinh tiểu sử” Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội 2007, chủ biên Phạm Hồng Chương, trang 32- 35.




[2] Trong những năm Mặt trận bình dân, trên báo Tin tức của Mặt trận có bài của Nguyễn Thế Rục “nói về Nguyễn Thế Vinh phản động”.



trieuxuan.info