Tản văn
12.05.2015
Hữu Đạt
Trích Trường ca: Cuộc chiến mười ngàn ngày


Lời nói đầu: Sau khi đọc tập thơ Lữ hành (NXB Văn học, 2014), một số bạn đọc, chẳng hạn, PGS.TS Đinh Thị Minh Hằng (Viện Văn học) đã gặp tôi đề nghị “Anh nên có một tuyên ngôn cho kiểu thơ mới, thơ hình họa”. Tôi cứ suy nghĩ mãi. Nói “tuyên ngôn” thì to tát quá. Nhưng không có lời nào “phi lộ” trước bạn đọc thì sẽ là không phải. Vì vậy, trước khi bạn đọc cầm trên tay cuốn trường ca này, tôi xin có vài lời bộc bạch như sau:



Trong khoảng một hoặc hơn thập niên gần đây, bạn đọc đã bắt đầu xa lánh thơ. Có người chỉ nghe nói đến thơ đã có những phản ứng dè bỉu, thậm chí giễu cợt, châm biếm. Bởi trên thực tế, thơ giai đoạn sau chiến tranh ít có cái mới, đó là chưa nói, phần nhiều thơ có sự lặp lại, nhàm chán hoặc rất non yếu về nội dung. Thơ không còn là tiếng lòng để người đọc tri âm. Nó như là một cái gì quá phù phiếm tồn tại trên cõi đời này.



Để khắc phục tình trạng đó, một số nhà thơ đã thay đổi phương pháp sáng tác, trăn trở tìm con đường đổi mới thơ ca. Một số đã chuyển hướng sáng tác theo hướng Hậu hiện đại. Chủ nghĩa hay khuynh hướng nào cũng đều không quan trọng. Quan trọng là bạn đọc có đồng cảm và chia sẽ với nhà thơ hay không?



Cũng may, trong tập Lữ hành của tôi (Nxb Văn học 2014)có nhiều bài được viết theo kiểu hình họa (hình đồng hồ cát, hình cái ly, hình cái nơ, hình tháp chồng, hình mũi tên…) lại được rất nhiều bạn đọc yêu thích. Có nhà phê bình còn cho rằng “Lữ hành là cuộc cách tân thơ  tân hình thức và khai sinh ra dòng thơ hình họa”(*).



Thơ hình họa là loại thơ khác hẳn với thứ thơ mô phỏng/hay thơ hình thức một thời đã xuất hiện ở Việt Nam (với các tác giả như Nguyễn Vĩ, Lê Ta, Trần Huấn Chương). Loại thơ này thường cấu trúc bài thơ phỏng theo một hiện tượng thiên nhiên nào đó. Thơ hình họa (còn gọi là thơ hình vẽ) muốn đạt tới sự truyền cảm bằng cả hai con đường đọc và nhìn. Ở đây những hình họa được “tạo hình” từ những câu thơ không thuần túy chỉ là trò chơi ngôn ngữ mà còn mang một thông báo nghệ thuật ngầm ẩn đằng sau lớp vỏ ngôn từ. Ví dụ, trong trường ca này, tôi sử dụng khá nhiều hình họa khác nhau như: hình mái nhà rông, hình trống đồng, hình cái lư đồng, hình cái bình cổ, hình cái hũ, hình cây rơm… với những biểu tượng và ẩn ý nhằm bộc lộ rằng, cuộc chiến này là cuộc đọ sức của hai nền văn hóa. Trong đó, Việt Nam là một nước có nền văn hóa lâu đời đã chiến thắng nền văn hóa thực dụng với những phương tiện và vũ khí hiện đại kiểu Mỹ. Một số hình vẽ còn bổ sung thêm thông tin hàm ẩn bên cạnh hình tượng thơ. Chẳng hạn, có chỗ tôi dùng hình vẽ là cái hũ nhằm gợi nhớ hình ảnh “hũ gạo nuôi quân” thời kháng Pháp. Có chỗ tôi dùng hình vỏ cát tút đạn để biểu tượng hình ảnh ác liệt của chiến tranh. Có chỗ dùng hình con quay để biểu tượng thái độ tráo trở của Ngô Đình Diệm. Có chỗ dùng hình giọt lệ để nói về sự mất mát, đau thương. Có chỗ dùng hình cây Thánh giá để biểu tượng cho niềm tin và sự thiêng liêng giống như các con chiên hướng về Thiên Chúa. Cuối chương “Trận đánh cuối cùng”, tôi dùng hình bản đồ Việt Nam để biểu tượng cho sự chiến thắng toàn vẹn, sự thống nhất vững bền của giang sơn đất Việt…



Viết một bản trường ca về cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc đã khó, mà thể hiện nó qua hình thức của cấu trúc hình họa lại càng khó hơn. Điều đó đòi hỏi người viết phải có tinh thần làm việc tỉ mỉ, nghiêm túc và phải có sự am hiểu khá tường tận về đặc điểm loại hình của ngôn ngữ dân tộc để phát huy hết tiềm năng của tiếng – một đơn vị độc đáo của tiếng Việt. Đây là đơn vị có khả năng biến hóa linh hoạt trong kết hợp tuyến tính và có khả năng đánh thức trường liên tưởng của người đọc về các nghĩa tiềm tàng của từ. Nếu biết phát huy thế mạnh của nó, chúng ta có thể tạo ra những câu thơ có nhiều tầng bậc ngữ nghĩa, giàu âm hưởng về mặt ngữ âm. Ngược lại, nếu ta tùy tiện áp đặt ý chí chủ quan lên nó thì có thể ta sẽ tạo ra những câu thơ vô nghĩa, đôi khi ngớ ngẩn. Đó là một thách thức không nhỏ đối với chúng tôi, cũng như với những người làm thơ nói chung.



Thơ hình họa thực chất đã phá bỏ một nguyên tắc phổ biến là tính hình tuyến của ngôn ngữ trong quá trình tạo lập văn bản. Đọc thơ hình họa, cùng lúc ta có thể nhận ra nhiều biến thể về cách ngắt nhịp, hòa âm của ngôn ngữ thơ, tùy theo cảm hứng của độc giả. Vừa đọc, vừa xem đó chính là cách tiếp cận thơ hình họa. Hy vọng, trường phái thơ này sẽ tiếp tục nhận được sự cổ vũ nồng nhiệt của độc giả.



____



(*) Nguyễn Trị Trà My “Lữ hành là cuộc cách tân thơ tân hình thức và khai sinh dòng thơ hình họa”, Tạp chí Văn nghệ Thủ đô, số 11 năm 2014.



Hữu Đạt



CUỘC CHIẾN MƯỜI NGÀN NGÀY



Trường ca



NXB Công an Nhân dân, 2015.



(Trích đoạn)



Chương ba: Mãi mãi Điện Biên



Từ thuở ấy anh đi             hình cái bình cổ      



Đã bao mùa lúa trổ



Áo chiến binh sờn bạc mấy lần



Mép ba lô bao lần thay chỉ cũ



Bao con đường



 không nhớ hết



chặng dừng chân



Bao làng xóm anh qua



vẫn một màu lam lũ



Nhưng tình yêu trong sáng đến vô ngần



Không gì đẹp hơn anh được nữa



Hình ảnh người chiến sĩ Vệ quốc quân



Đôi dép cao su đi qua hai thế kỷ



Dân tộc từ đây ngẩng mặt trước toàn cầu



Lịch sử lật thêm trang hùng vĩ



Nguời lính chân trần, vai bạc áo nâu



 



Từ thuở ấy anh đi                              hình lọ hoa



Bên cánh rừng



Trần Hưng đạo



vẫn âm vang tiếng hát



Ba mươi tư người lính đầu tiên



Lớn lên từ núi rừng Việt Bắc



Sức vươn vai như Phù Đổng thần kỳ



Chân đạp núi rừng Gươm mài đá sắc



Tổ quốc cùng theo bước anh đi



Cùng với nước Cộng hòa non trẻ



Ngày hôm nay anh trở lại với rừng



Đêm Việt Bắc bập bùng ánh lửa



Một đoạn suối bên đường



 bao khuôn mặt soi chung



Thương đất nước



 bao đau thương



 tang tóc



 Khắp bốn phương giặc đói vẫn hoành hành



Kháng chiến gian lao, đành thắt lưng buộc bụng



Muốn thắng giặc thù, ta không thể đánh nhanh



Lời Bác dặn phải trường kỳ kháng chiến



Hũ gạo nuôi quân chiu chắt từng ngày



Mẹ nhịn đói dành cho người ra trận



Lời ru buồn theo đôi cánh hạc bay



Ru rằng: Ham đánh giặc Tây



Cha đi từ thuở nhừng ngày tóc xanh



Vườn chiều nở trắng hoa chanh



Nhà ai đêm lạnh mong manh gió lùa



Não lòng tiếng khóc con thơ



Võng đưa kẽo kẹt, ầu ơ tiếng bà



Mẹ đi tiếp vận đường xa



 Mong sao có dịp gặp cha một ngày…



 



Đường kháng chiến dài theo năm tháng



Anh không ngừng nhịp bước hành quân



Hết chiến thắng Sông Lô, Biên giới



 Lại chuyển sangchiến dịch Hòa Bình



Anh lại thắng như bao lần đã thắng



 



Ba mươi tư chiến sĩ năm xưa



nay thành những trung đoàn



Từ rút lui chuyển sang cầm cự



Đợi một ngày sẽ Tổng phản công



Lịch sử chọn nơi đây làm điểm nút



Ai thắng Điện Biên sẽ làm chủ cuộc cờ



Cuộc chiến ba ngàn ngày chưa nói được



Ai là người chiến bại giữa cuộc đua?



Lời thách đố vang lên như tiếng sấm



Tướng Pháp huyênh hoang tuyên bố trước toàn cầu



Vùng Tây Bắc nay đã thành cứ điểm



“Việt Minh có can trường hãy đến thử thách nhau”



Bộ Chính trị họp bàn trong lán trúc



Bàn gỗ thênh thang chỉ có những  tách trà



Không bơ sữa, rượu bia và thịt hộp



Những mái đầu chụm lại dưới người Cha



 



Trên vách nứa treo lá cờ Tổ quốc



Thế trận bày ra trong từng góc bản đồ



Bác đứng dậy với cây chì đỏ



Bước bồi hồi như thể trong mơ



Đêm trăng sáng rạng ngời như cổ tích



Người đứng trầm tư bên góc lán lặng nhìn



Thương chiến sĩ đang giữa mùa chiến dịch



Vó ngựa lưng đèo luôn rộn rã báo tin



Tứ thơ mới hiện về Bác chưa kịp viết



Công điện đường xa tới tấp đưa về



Bộ Chính trị thêm một lần nhóm họp



Sớm mai rày Bác tiễn Anh đi (*)



 



Thầy giáo sử tuổi thanh xuân đứng lớp(**)



Nay là Anh - Tư lệnh những binh đoàn



Bác tin tưởng giao cho Anh trọng trách



Quyết lần này phải thắng trận Điện Biên



 



Phút bịn rịn Anh ôm hôn má Bác



Nẻo đường xa yên ngựa đã sắn sàng



Khắp trận tuyến nghe tiếng gầm đại bác



Chợt bên đường nở mấy nhánh phong lan



 



Đường hỏa tuyến dân công đi tải đạn



Vui như đi mở hội lúc xuân về



Xe đạp cũ cũng hóa thành người lĩnh



Cùng đồng hành theo mỗi bước quân đi



 



Pháo đã kéo, chốt trên đồi chiến dịch



Chì chờ nghe lệnh phát hỏa diệt thù



Nhưng mười một đêm Anh Văn không ngủ



Sương trắng giăng đầy quanh lán chiến khu



 



Một quyết định khó khăn đầy nước mắt



Kéo pháo vào rồi, nay lại kéo pháo ra



Chuyển kế hoạch đánh nhanh thành tiến chắc



Mấy ai tin vì chuyện quá bất ngờ?



 



Nhưng không thể chù chừ được nữa



Tổng hành dinh đã phát lệnh xuống rồi



 Cuộc vận động đã xuống từng đại đội



Thời gian gấp rồi  phải hành động ngay thôi                                                                                              



Lại kéo phéo ra để họp bàn chấn chỉnh               hình chiếc đôn        



Suy tính từng ly những mất những còn



Vì thương tiếc máu xương



của từng người linh



Đại tướng đành lùi



cho  đánh chậm hơn



Từ thuở ấy anh đi



Cuộc kháng chiến



mấy ngàn ngày không nghỉ



Sáng sớm mai là trận đánh cuối cùng



Thư viết vội trên tay người chiến sĩ



Nhắn gửi về người sống ở hậu phương



__



(*),(**) Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp



Bạn ở Quảng Bình, tôi thị xã Sơn Tây…



Đêm chiến dịch vây quanh lửa trại



Những ngày xuân hoa trắng rụng đầy



Tốp lính trẻ vỗ tay líu ríu



Súng dựa hờ trên mỗi bờ vai



Câu Quan họ cô dân công vừa hát



Át cả tiếng gầm của những tốp máy bay



 



Buổi sáng ấy như rất nhiều buổi sáng



Nai vẫn kêu bên suối gọi bạn tình



Quân với dân vừa qua đêm hò hẹn



Lệnh nổ súng đã bắt đầu từ Tổng hành dinh



 



Pháo trút lửa ngay trên đồi A1                  hình chiếc ly lớn



Nóc Him Lam khói đã bốc mịt mù



Những người lính ào lên như thác lũ



Bọn địch co về quyết cố thủ từng khu



Đường quyết chiến mở thêm nhiều lối mới



Những rãnh hào đi chằng chịt áp đồn thù



Mồ hôi sũng lưng, thấm trên từng xẻng đất



Những vòng vây cứ ép chặt từng khu



Địch rối loạn điên cuồng chống trả



Pháo kích liên miên



tăng xuất hiện bất ngờ



Nhưng không thể



 làm gì hơn được nữa



Vòng vây ta cứ



 ép chặt từng giờ



Mưa trút xuống



Những lòng hào nhão nhoét



Bùn với bùn trộn lẫn máu chiến binh



Đêm khắc khoải, nắm cơm rơi chấm đất



Người lính xung phong ăn một cách ngon lành



 



Trận  quyết chiến                     hình chiêc chìa khóa        



máu xương không kể hết



Mỗi góc hào đều đầy ắp thây phơi



Không kịp biết xác bên ta hay địch



Những cuộc chà đi sát lại vẫn liên hồi



Anh lính trẻ vừa xông lên lần cuối



Tayđang cầm khẩu súng bắn bâng quơ



Mắt anh đã không còn nhìn được nữa



Nhưng chân vẫn hiên ngang



xông tới trước mặt thù



Bọn lính Pháp



 ùa nhau



tháo chạy



Pháo ta



 gầm lên



từ những



đỉnh đổi



Sân bay



Mường Thanh



 mịt mù lửa khói



Những đường băng



 bị cắt đứt làm đôi



 



Tập đoàn Điện Biên



không còn đường tiếp viện



Thoi thóp  như cá rãy trên bờ



Không thể để thời gian



kéo dài thêm được nữa



Ta thít chặt vòng vây



Qua từng phút từng giờ



Thế bị kẹt không sở xoay được nữa



Đờ cát đành phát đi tín hiệu đầu hàng



Hơn mưới sáu ngàn quân tinh binh cường quốc



Ủ rũ buồn đi trong một màu tang



 



Cả nước Pháp cúi đầu trong lặng lẽ



Nhìn Điện Biên trong nỗi nhục hạ cờ



Không tin được một đội quân quá trẻ



Lại đánh bại hoàn toàn anh đế quốc già nua



 



Từ thuở ấy anh đi



Áo vai sờn, súng kíp



Một đội quân chỉ có mấy mươi người



Nay đã thành những binh đoàn chủ lực



Thắng Điện Biên rồi hùng dũng tiến về xuôi



 



 Hà Nội hôm nay



ngợp trời trong nắng mới



Năm cửa ô náo nức  đón quân về



Một lời hẹn 9 năm



 không mấy ai tin nổi



Qua thương đau vẫn giừ trọn lời thề



Anh đã viết hai chữ Việt Nam



 lên bản đồ thế giới



Lịch sử in dấu chân anh



những người lính Cụ Hồ



Và tên Anh đã thành trang sử mới



Cho nô lệ khắp thế gian này



Đứng lên giành độc lập tự do



 



Kể từ ngày ấy mùa thu



Anh đi kháng chiến



                          chiến khu trở về



                                                   Lúa vàng  lại chín



 



                                                đồng quê



Lại vui



                        tiếng cối



                                          sớm khuya



                                                                    mẹ già



Dặt dìu ru



                                       tiếng  ầu ơ



Ngang bờ tre



                                        tiếng gió đưa



                                                                     giọng hò



    Trên sông



                                        ngang một



                                                                          con đò



Chèo khua



                          nước vỡ



                                               đôi bờ



                                                                           trăng trong…



 



Chương bảy



Mái trường Đại học



Thời ta đến Mễ Trì xanh màu lúa



Nhưng ao hồ giăng khắp lối ta đi



Những chiến tích đạn bom



còn hằn lên vết đất



Mưa nhiều đêm trắng cả lối ta về



 



Lớp học chung hai ngành Văn Ngữ



Một quầy ăn bát đũa xếp từng khu



Văn với Sử như là bè bạn



Lối ta đi bạn cũng đi nhờ



 



Tuổi trong trắng như trang giấy mới



Mỗi ngày qua hai buổi đến trường



Nghe giáo sư thuyết trình  trên bục giảng



Hồn đứa nào cũng ướt đẫm văn chương



 



Căn phỏng ở kê toàn giường sắt cũ



Bạn nằm giường trên ta ở dưới này



Lương một tháng mười tám ngàn đồng bạc



Nhưng tâm hồn ai cũng ngát hương bay



 



Nào những A Q , nào ông Lỗ Tấn



Nào Đôtxxtoievxki, Sê khov với Mai a



Đây cụ Lev - “Chiến tranh và hòa bình” không cũ



Máu vẫn tuôn trên nửa nước non nhà



 



Lũ sinh viên miệt mài nghe thầy giảng



Mắt ngẩn ngơ nhìn thành phố trong hoa



Mỗi khi Tết hoa đào lại nở



Náo nức làm sao được nghỉ Tết về nhà



 



Một bữa liên hoan cháy dạ dày lép kẹp



Chiếc bánh chưng xanh tiêu chuẩn mỗi người



Không kịp để dành lúc lên tàu chống đói



Ta mở ra ăn tiễn bạn về xuôi



                                                                                   



 Lớp tuy nhỏ nhưng bạn bầu tứ chiếng      



Kẻ miền Nam, miền Bắc miền Trung



Kẻ ở núi cao, người nơi miền biển



Những về đây chỉ một chữ “cùng”



Cùng chí hướng, cùng cả đời lam lũ



Cùng cái nghèo theo suốt cả bốn năm



Cùng đắp chung chăn mỗi đêm giá lạnh



Cùng câu chuyện riêng tư trước mỗi tối đi nằm



 



Cùng thao thức trước mồi đời kiếp bạc



Cùng ưu buồn trước các cuộc chia ly



Cùng vui sướng reo lên khi thấy bạn



Nỗi nhớ xa nhau sau một tháng nghỉ hè



 



Ta hát mãi trong những chiều ký túc



Lá vàng rơi khắp lối ta đi



Tiếng gõ bát chờ cơm chen tiếng hát



Một thời yêu nhau…trong xanh lúa đồng quê



 



 



Mễ Trì ơi! Nay còn đâu thuở ấy



Hàng cây xanh trong vắt nước hồ



Những đêm trăng buồn nghe cá quẫy



Cũng nao lòng cả những răng ô rô



 



Không còn nữa cánh đồng hoang hoải nắng



Mênh mông xa những ụ pháo hoang tàn



Thời chinh chiến phố găm đầy vết đạn



Bom thù rơi, nhà bếp sập, gãy tan



 



Một khóa học phải mấy lần sơ tán



Mấy cuộc chia tay tiễn bạn lên đường



Bao ấp ủ còn vương trên giáo án



Mắt nhìn nhau chan chứa tình thương



 



Không ai nghĩ tuổi đang còn cắp sách



Lại ôm ngang cây súng giữa trận tiền



Dù mấy vạn những trang sách viết



Hết làm sao những người lính không tên



                                                                                               



                                Thương lắm lắm, những bạn bè thuở ấy               hình nút chai



Trong những lớp ra đi có những bạn không về



Đời trai trẻ ngã vào lòng trận mạc



Chết sáng trong như ánh sao khuê



Cho đất nước bình yên



Cho bao nhiêu đôi lứa



Học và yêu



Theo phong cách



 sinh viên



Bao năm tháng qua đi                       hình vỏ cát tút đạn



Bao lớp người nối tiếp



Một bài ca hát mãi chưa thôi



 Vầng trăng tiễn đưa, nửa đi nửa ở



Cuộc chiến trinh dằng dặc khôn nguôi



Trường với lớp về nơi sơ tán cũ



Bạn hành quân đi về phía chân trời



Nơi tiếng súng đang nã vào mặt trận



Nơi khói bom mù mịt pháo đài bay



Nơi xích sắt xe tăng nghiền nát đất



Bạn làm thơ trong hỏa lực pháo bầy



Mỗi trang viết bạn gửi về Hà Nội



Người ở nhà đọc như đắm như say



Rừng Trường Sơn hôm nào bốc khói



Những  Con ma, Thần Sấm rơi đầy



Hai  nửa  nước mình  đầy vết  đạn



Vẫn hiên ngang tư thế làm người



Tiền tuyến gọi hậu phương xốc tới



Dẫu biết rằng máu chảy đầu rơi



 



Bao người mẹ mất con



Bao trẻ thơ khóc mẹ



 biết bao người vợ trẻ



Thức trắng đêm



                                                     



                                                            trong                                     hình ngọn nến



nỗi nhớ



                                                                             chờ chồng



Ông hành quân



Cha hành quân



Cháu cũng hành quân



  Đường tít tắp nối



dài theo chiến dịch



Rừng bốc cháy như



là trong cổ tích



 Khắp lối bom rơi



 Khắp lối bom đào



Những cô gái



 xung phong



đứng chắn



thành rào



Làm cọc



 hoa tiêu



cho đoàn xe vượt tuyến



Cả đất nước đằm mình trong chiến trận



Đến bữa cơm ăn cũng gián đoạn không thành



 



Trang giấy học trò nhàu nát trộn máu tanh



Lớp sơ tán lật nghiêng



 bom tọa độ



Bàn ghế cháy thành than



 bay trong gió



Đề văn thầy ra bạn viết vội chưa thành



 



Dang dở quá, những ước mơ xếp lại



Những mối tình vừa chớm nở hôm qua



Nay đã  lấy khăn tay thêu vội



Những vụng dại ban đầu



giấu trong những nụ hoa



 



Sân trường cũ năm nao còn in mãi



Bóng những người lính chiến tuổi đôi mươi



Dìu dặt cầm tay ai



 trong nước mắt



Câu tiễn đưa như tím cả chân trời



 



Lớp bỗng cứ thưa dần sau mỗi đợt



Lần tuyển quân nào cũng phải tiễn bạn đi



Rừng Thái Nguyên bao chiều u uẩn khóc



Chiến trường xa mộ bạn đã xanh rì



 



Vẫn nhớ mãi mùa mưa năm tháng ấy



Qua Suối Đôi thầy chủ nhiệm cưỡi trâu



Vượt dốc dài Hoàng Hữu Yên rơi kính (*)



Nắng đến như cháy cả tóc trên đầu



 



 



Miệng vẫn hát những bài ca Đất nước



Bụng chỉ toàn mì luộc trộn với rau



       Cùng bạn sẻ chia bát canh toàn quốc(* *)



Mai sớm vượt qua những núi cùng đèo



 



Đi chặt nứa rừng dựng nhà, dựng lớp



Có gì đẹp bằng mắt bạn trong veo



Có gì đẹp bằng nụ cười rạng rỡ



Của người yêu dưới vành mũ tai bèo



 



Bao đôi lứa yêu nhau thời chinh chiến



Đã buồn khi thư lạc lối không về



____



(*) Câu truyền miệng của SV khoa Ngữ văn: vượt dốc dài Hoàng Hữu Yên rơi kính/ Qua Suối Đôi Hoàng Xuân Nhị cưới trâu.



 (*) Cụm từ sinh viên thời đó hay dùng chii loại canh rất ít rau chỉ toàn nước



Nhưng vẫn khắc vào tim mình hai chữ



Dù đi đâu vẫn giữ trọn câu thề.



Người ở lại trang giáo trình vẫn mở



Người ra đi chân đạp đá, gai rừng



Cùng đất nước viết thêm nhiều trang sử



Rất oai hùng và cũng rất đau thương



Thời ta đến                                  hình ngọn đuốc



 Mễ Trì xanh màu lúa



Lửa chiến chinh cháy rực



 khắp cánh đồng



Treo ảm đạm



vầng trăng non



góa bụa



Tiếng



Thần



          Sấm (*)



 gầm



rách nát



 những khoảng không



 



                                                        Đêm                                    hình tháp xuôi



Giấc ngủ



 chập chờn



 cơn ác mộng



Giáo án lật sang trang



Ướt đẫm tấm lưng thầy



Bao con chữ ngổn ngang rơi trên lớp



Giờ học cuối cùng anh nhớ mãi từ đây



Tiền tuyến gọi cuộc hành quân tiếp bước



                               



                                                      Anh                                       hình mũi tên



 xung phong



 vào trận cuối cùng này



Đêm lửa trại cả trường vui náo nức



Trống dập dồn theo bóng lá cờ bay



Không có gì quí hơn Tự do cho Tổ quốc



Chiếc gậy Trường Sơn thành bạn mới những ngày



Vượt núi băng đèo



tiến về phía trước



Không quản hy sinh



gian lao khó nhọc



Chiếc ba lô



trĩu nặng tấm



thân gầy



Mưa gió



Trường Sơn



không át nổi



Tấm lòng



yêu nước



đến mê say



 



Như tất cả sinh viên trường khác



Anh đi trong đội ngũ điệp trùng



Vai khoác ba lô tay mang súng đạn



Mấy bài thơ viết dở giắt bên lưng



Thơ anh viết nhuốm rất nhiều lửa khói



Vẫn không quên những nỗi nhớ bạn bè



Mỗi cuộc hành quân, một trang thơ viết vội



Hành trang suốt đời người lính chẳng có chi



 



Chỉ có những ước mơ



 xanh như màu biển cả



Và tình thương vô tận



 với quê nhà



                                                         Anh không khóc



sao trang thư lại khóc



Để người ở lại buồn



Hóa đá giữa mưa sa?



 



Thời ta đến Mễ trì xanh màu lúa



Tình yêu anh chớm nở lúc đông tàn



Có lẽ nào bạn tôi thành góa bụa



 



 Ngày                                        hình giọt lệ



cái thời tóc



 vẫn còn xanh?



Đèn vẫn sáng trong



những đêm họp lớp



Giọng thầy đọc



 run run



 thư



 tiền



tuyến



 gửi



 về



 



Lớp                                 hình cây nấm



 im lặng



dõi theo từng nét chữ



Bài học lịch sử buồn



trong những phút chia ly



Lá thư nhỏtrang giấy đen gấp vội



Đã đi qua  bao chặng vượt bom thù



Bom làm rách nửa phong bì ám khói



Vẫn rực màu khát vọng mùa thu



Vẫn chứa chất ngàn điều còn chưa nói



vẫn tươi nguyên những lời hẹncâu thề



Nơi tiền tuyến anh đang xốc tới



Chốn quê nhà trăng theo bước anh đi



Lớp không học từng tuần



theo



lịch cũ



Mỗi lối



 trường xưa



 địch oanh kích nhiều lần



 Đêm sơ tán bạnnhớ anh không ngủ



Lớp vắng dần sau mỗi đợt tuyển quân



Ngày ta mới nhập trường



hơn sáu mươi sinh viên một lớp



Nay nhìn quanh chỉ thấy bóng chục người



Cảnh xao xác của một thời đánh giặc



Những nỗi buồn dằng dặc khôn nguôi



 



Một lần nữa lại một người ngã xuống



Lớp thêm một người ở tiền tuyến hy sinh



Giờ truy điệu cờ rủ ngay trước lán



Ai cũng đau như mất ở lòng mình



 



Một chút tuổi xuân



 Đi như không về nữa



Một chút tình yêu



 đắm say trong dang dở



 



   Một                            hình cây thánh giá



chút



ước





vội



 



 chửa



 thành



hình                                              



Ai cũng như thấy mất ở lòng mình



Cái gì đó



 lớn lao



 to tát quá



Phút



 im lặng



bao



 bạn bè



nghẹn thở



khắc



 một



chữ



 “buồn”



nhói



buốt





trong



 tim



Thời ta đến Mễ Trì lúa màu xanh





NXB Công an nhân dân, 2015.


trieuxuan.info