Đếm nắng
Sơn ca chắt nắng
Chuỗi trân châu trút xuống mâm vàng
Tiếng gì dưới ấy
có phải tiếng vang
Tìm tiếng vang mình
Chui vào cửa hẹp
cửa khép
Trách gì ai sáo trúc gây mê
Trách gì ai cặm cụi vót tre
đan lồng vàng tía
ngỡ trời mây trăm sắc ước ao
Chị bỏ Em đi
Cánh nhẹ trên sông
Chiếc lá mơ rừng
hát lừng ngọn gió
khóc đỏ chiều quê
Nhớ về mắt Em
ới thương là thương
Động gót mưa xuân
cưới mặt trời hè
Ới thương là thương
Gà con nhớ mẹ
cỏ vàng rung chân
Ới thương là thương
Đếm giờ
May cho Em tấm áo sồi non
Làng không mở hội
Cất cho Em hương quế nước trầm
thẫm đường má răn
Chim vàng phải tên dưới bụng
giận mình bay quá cao
Bướm ngũ sắc rã rời tay trẻ xé
trách mình quá lộng nắng tàn xuân
Trốn tiếng Chị cười
Nấp mắt Em trông
Trèo ngọn núi Neo đá chởm tai mèo
mát chân rời rợi
Đừng ví thân Em hạt gạo tám xoan
Đừng vẽ hình Em hoa đào hoa lý
Đừng hát tình Em sóng vỗ mưa về
Đừng tạc mặt Em lệch mái thuỳ cung
Đợi sau khi Em qua đời
Sẻ đồng thành phượng núi
Cây đa đường xứ
lớn lên ai hay
Vẫn cơn gió cũ
bao nhiêu chiều vụn đá
Mắt nắng thay mùa mở lộc non
Theo đuổi
Em ơi thử đếm mấy giêng hai
Đêm hội Lim về
đê quai rảo bước
Đuổi tà lụa nhạt
ánh giăng đầm thấm đường sương
Ấy bởi thương Em
vườn khô bỏ ngỏ
gió vào ra bưởi trụi hồng thui
ấy bởi thương Em
mái nhà um cỏ
chim vào ra vách đứng cột ngồi
Em về đồng chiêm đất rạn chân chim
Em đi mưa ngâu nước ngập đồi chè
Hồ nghe đêm hội ới a
lại xót mắt Em mi trường khép bóng
Lòng tay êm mát rừng tơ xa
Lại xót tay Em đêm trường ru võng
Rừng chân mây chưa động sấm quê nhà
Chân Em dài đi không biết mỏi
Má hồng Em lại nổi
đồng mùa nước lụt mông mênh
Lưng thon thon cắm sào Em đợi
Đào giếng sâu rồi
đừng lấp vội ngày xanh
Lý lý ơi khát khô cháy giọng
Tình tình ơi chớ động mành thưa
Chìa vôi quệt gió hững hờ
Bờ ao sáo tắm bao giờ...
... hở Em
*
Nhịp sáu - Điểm trang
Những Hội hè Kinh Bắc
Những hội hè Kinh Bắc
có thi nhau giật giải pháo toàn hồng
Thi sợi bún
Thi sợi bún
khi quất
quấn năm vòng cột đình
không đứt
Giã bột mười đêm
Pháo nổ không nâng hai hàng mi mọng
Mai về vỡ vại long chầy
đứt quãng hoa niên
Mai về lại dựng giường dựng chiếu
lúc dựng giăng
Tóc quấn cột nhà
Con trăn đen thoi thóp
Ơi đêm Đông Hồ
nát nhầu thân tố nữ
Sợi bún ngà vá lại dung nhan
Thi ăn mía thổi cơm
Thi ăn mía thổi cơm
Bụng đâu chứa hết những bãi sông xanh ngắt
Lửa đâu xém cánh tay bột nặn
Cháy phù sa ngọt sắc Yên Viên
Cơm vừa chín tới
Má xuân hồng
lồng khói tím
chợt sang thu
Bãi mía sông Cầu reo đáy bát
Ngửa mặt hứng mưa đồi cỏ ngát
Nguôi dần cơn sốt bỏng môi hoa
Thi đánh đu
Luồn tay ôm say
giấc bay lay đỉnh núi
Tuột hàng khuy lơi yếm tóc buông mành
Đùi chảy búp dài thon nhún vội
Bàng hoàng tia chớp liệng nghiêng xanh
Thi hát đúm
Chiếc pháo xì loay hoay
thềm gạch vỡ Bát Tràng
Chuỗi pháo đùng thèm bay
bùng giấy đỏ liều thân
Lụa xé đôi tay
bến nhức gan tằm
Người bỏ chồng
chệnh choạng đi lối mưa
nón quai thao úp bụng
Người chồng bỏ
gót chân bùn ngõ tối
tuổi lầy đường sống trâu
Trăng khuya các bờ sông
Thường soi đôi mái đầu
Thi dệt vải
Lòng Em phau phau
tìm đâu mấu sợi
Một tấm trường giang
đèn rọi võ vàng
Thoi chim khách đếm năm đi vút
Vải gột hồ hai má gột môi hoang
Thi thêu gấm
Từ thuở bé biết đâu
chim uyên chim thuý
Kim se dây mà rẽ thuý chia uyên
Một mái rạ vàng ấm Châu Long Dương Lễ
Ngơ ngẩn đường khâu áo lạnh Lưu Bình
Dừng mũi kim giải áo buộc đêm mơ
Chàng Lưu ứa nước mắt
bước ra thềm hong mưa
Hội chen Nga Hoàng
Chen Nga Hoàng hội chen nguyệt tận
Đúng nửa đêm đèn tắt
trong ba hồi trống dầm dề
Nhẩn nha thôi ôi tiếng cuối vang âm
Tay không rời tay người chưa nguôi tê mê thầm
Chợt bừng nghìn cây nến đỏ
Sững sờ nghìn tội nắm tay đau
Thì trói cả đôi
Xin trói cả đời
Cột lim gãy rồi
Giường nhung sóng đôi
Theo bản in trong Hoàng Cầm-Tác phẩm-Thơ (NXB Hội Nhà văn, 2002), thì bài thơ này như sau:
Chen Nga Hoàng
len chèn nguyệt tận
Phụt nửa đêm đèn nến lặn
Ba hồi trống giãi dầm dề
lim dim bao dong ba nghìn mắt Phật
Tóc tung tình bờ xôi ruộng mật
Quanh co toả bốn hướng đình
Từng ngôi sao mắt người lung linh
Ai gọi... im lìm
Í ới... sao chìm
Đôi đôi ú tim... tìm
Oà ập... cánh chim... e ấp
Hỗn mang mê vô cùng
Địa đàng say tới tấp
Không giờ không
Thăm thẳm nguyện cầu hơi em nồng
Nhẩn nha thôi
Ôi dùi nhẹ buông tênh... tang vờ câm
Ai nện xin thương ngầm
gõ hờ đôi ba tiếng cuối buồn vang âm
Vì tay ải tay ai
chưa nguôi tê mê thầm
Chợt bừng nghìn cây nến đỏ
như sững sờ nghìn tội
biết lội về đâu
cho qua cơn thịnh nộ sầu
cụ Tiên chỉ già tuổi tình cạn kiệt
tóc héo bưng đầu
lùi lũi tiếc thời xa
khua gậy cùn rập mấy thời sau
Tơ xanh ngây ngây đêm sông Cầu
Em anh giờ lẩn trốn bụi bờ đâu
Thì trói cả đôi
Xin trói cả đời
Cột lim ư gãy rồi
Giường nhung ừ sóng đôi
Sân đình
lại Thị Mầu í a tung tình
rung rinh
chờ
Hội Gióng
Mùng Tám tháng Tư
Không về hội Gióng
cũng hư mất đời
(Ca dao)
Trăm đôi gái trai anh tú
Ngựa lồng bãi rộng
Gươm thần phun lửa đốt môi
Chú bé lên ba là tướng võ nhà Giời
Ai ngờ đã bốn nghìn năm manh mối
Xuân đến lụa the
Cầm gậy tre đi se duyên cô Tấm ông Hoàng
Vớt Trương Chi về gấm đỏ lầu Tây
Hội Long Khám
Hội Long Khám đêm sao chi chít
Bồ đề mở lá thả ni cô
Thiện nam vin khói đi quanh chùa
Mơ Từ Thức
Thấy ngay quan huyện khác
Mẫu đơn một nhành rơi
Ngọc lan mười búp chắp
Nến tắt sao không tắt
Giải Ngân hà giải chiếu nâng hoa
Hội vãn rồi quan huyện về nhà
Quan-huyện-khác lại làm Từ Thức
Ni cô ơi
Hội Vân Hà
Lợn ba trăm cân
kềnh xuân lún ngõ
Khói bếp lun phun mưa
Mép chàng trai lún phún đương thì
Tết Vân Hà làng mở hội thi
Núc ních từng đôi chật đường nghẽn lối
Cỗ ba tầng
Giò lụa nổi
Giò mỡ chìm
Nem bối rối
Lá sung bay rụng đầy nong
Vại bỗng ngất ngư cười cải mả
Bát bỗng lim dim
tìm mắt gái muộn chồng
Sân một sào xôn xao
vàng lụa thưởng
Mười lợn thi đi chật cổng đình cong
Đêm phường chèo trống giục
vùi lấp điệu nồi niêu
Hồi tiếu cùng eng éc
Khúc giáo đầu bi tráng lợn nhà kêu
Ba ngày tiếng dao phay liếc nhanh thành vại
Ba đêm chim lợn toác sương gieo
Chai đại lăn kềnh giữa chiếu
Chai bố chéo khoeo
vật vã góc ban thờ
Chai con gậm giường rụt cổ
Tuý luý mềm soải tóc khóc ngu ngơ
Hội tàn men
quẩn quanh nghiêng ngửa
Giật yếm đào túm vội đôi bầu
Bỗng đốp chát mắt đom đóm nổ
Mịt mù hơi rượu miếu cô Mau.
(còn tiếp)
Nguồn: Về Kinh Bắc. Tập thơ của Hoàng Cầm. NXB Văn học, 1994.
|