Tản văn
07.12.2009
Lê Quang Trang
Thơ Lê Quang Trang (4)

CÁI NGANG NỐI THÂN YÊU


Tặng Nguyễn Văn Long


 


Sao anh vội ra đi


Cho bạn bè trống trải


Bước chân anh sững lại


Cánh rừng này mênh mông.


 


Mây và núi Trường Sơn


Làm thành cây ngang nối


Gắn hai miền vời vợi


Gắn bạn bè gần xa.


 


Những gian khổ ta qua


Núi cao và đèo dốc


Những trưa hè chống giặc


Lại nhớ về bạn xưa.


Tôi đi trong vần thơ


Ngọt ngào hương đồng nội


Tâm hồn anh hiền dịu


Hoa nhài thoang thoảng bay.


 


Dù thiếu nắng, thiếu mây


Cây vẫn đơm tròn nụ


Gian lao đang ấp ủ


Hạnh phúc xòe cánh ô.


 


Đất nước là bài ca


Trường Sơn là khuông nhạc


Cái ngang nối thân yêu


Kết liền bao khúc hát.


 


Ôi Trường Sơn bát ngát


Gửi lại bao con người


Những con tim trăn trở


Không một ngày buông xuôi.


 


Bây giờ tháng năm rồi


Tháng của mùa gặt hái


Cái ngang nối thân yêu


Trong lòng tôi sáng mãi !


 


CÂY TÍN HIỆU


Cây bù cua trước làng


Có từ thuở nội anh còn nhỏ


Tán lá rộng xòe che vạt cỏ


Làm vui nhiều lớp trẻ chăn trâu.


 


Những người già truyền lại đời sau


Con chim thần mang hạt từ phương Bắc


Nên cây chịu bao nhiêu mùa gió rét


Lá cây bù cua chẳng rụng bao giờ.


 


Những đứa trẻ của làng khi hết tuổi thơ


Ngợi ca mãi cây mang nhiều kỷ niệm


Cho rằng cây bám vào lòng đất


Nên chẳng bao giờ tắt được mầu xanh.


 


Những cánh đồng thay đổi cùng tháng năm


Riêng cây bù cua vẫn một mầu chung thuỷ


Không đếm hết những tâm tình thủ thỉ


Trai gái yêu nhau


Và mùa khô đất trắng xác một màu


Cây là tàn xanh mát mắt


Ở những năm mõ dồn, trống thúc


Cây cũng reo lên cơn bão đầu mùa.


 


Mùa mưa


Mùa khô


Theo dấu giầy đinh xâm lược


Xe tăng rú và pháo bầy “dạo nhạc”


Bụi tầm vông bao quanh làng xơ xác


Ở đô thành khúc hát xưa cũng lạc điệu đi


Cây bù cua vẫn là nơi hẹn điểm trở về


Hàng năm, hàng năm vẫn búp non đỏ ối


Báo hiệu mùa cấy cày, mùa vui…


 


Chúng nó đem dây xích xe tăng


Chúng nó giật, nhưng cây chẳng đổ


Pháo chụp chém, lá rơi đầy mặt cỏ


Và bom xăng thiêu cây đen thui


Cây vẫn trơ đứng trụ giữa trời.


 


Bây giờ cây chết rồi


Vẫn cây bù cua hai người ôm không xuể


Những cánh tay đen đúa giơ lên


Như muốn nói tội ác của kẻ thù man rợ


Những năm “chiến tranh cục bộ”


Những năm “Việt Nam hóa chiến tranh”


 


Chứng tích đau thương


Chất chồng từ Phú Lợi, Duy Xuyên, Hướng Điền, Sơn Mỹ


Vẫn chẳng bắt được ta làm nô lệ


Cả cây cối chết rồi vẫn là hướng chỉ


Cho những ai tìm lại xóm làng


Cây bù cua là tín hiệu tìm đường.                          


 Tháng 7-1974.


 


THƠ TÌNH
VIẾT Ở VÙNG TRẢNG NẮNG


Anh không viết được thơ tình cho em


Như cánh đồng khô cần dòng nước mát


Mà anh viết hoài về đớn đau, ác liệt


Điều thừa trong mọi tình yêu.


 


Có gì đâu, khi ở đây bom sớm pháo chiều


Xe bọc thép ủi tróc hầm bí mật


Thuốc độc cháy những cánh đồng bát ngát


Trẻ thơ ngây vắng mẹ khóc hoài.


 


Anh lại đành hẹn với em ngày mai


Khi tiếng súng im và trẻ thơ no sữa


Anh được hôn em cái hôn đoàn tụ


Anh lại nói cùng em về tình yêu cái thuở ban đầu.


 


LẰN CỜ


Lằn cờ phân ranh giới


Chạy ngoằn theo đường mương.


Bên kia là đồn giặc


Bên này là bình minh.


 


Vạt cỏ bấc nằm chung


Rách tươm vào tận nõn.


 


Dè dặt con cá quẫy


Nhoáng nước hố bom sâu.


 


Một vầng sáng trên đầu


Mà xanh hai vạt cỏ.


 


Lòng ta như nghẹt thở


Về lằn cờ phân chia.


Suối Cụt, 1974.


BÔNG CỎ MAY


Gặp lại bông cỏ may


Giữa một vùng hố pháo hố bom loang lổ


Bông cỏ may bạc phơ


Như cọng rơm nắng nỏ


Thanh khiết quá ôi hương cây hương cỏ


Hương vị đồng quê.


 


Thuở chăn trâu cắt cỏ ven đê


Bông cỏ may chen chúc bên lề đường chuột chạy


Điều thân thiết năm xưa giờ gặp lại


Báo hiệu cho ta những cánh đồng làng.


 


Trên kia ruộng cao đã trắng lốp hoa vừng


Đậu phộng vàng đang trầm mình xuống đất


Chỗ đất gầy xơ xác nhất


Cỏ may lên.


Mẹ kể ngày xưa cái năm đói bốn lăm (1945)


Giặc bất nhân chạy tàu đốt thóc


Bông cỏ đồng ta mang hơi ngũ cốc


Ấm lòng người những bữa cháo củ môn.


 


Bây giờ kẻ thù lại quăng xuống đồng hàng triệu tấn bom


Rải xuống bạt ngàn cỏ Mỹ


Nhưng những mái nhà tranh giản dị


Vẫn cứ còn với mầu xanh mầu bạc cỏ may


 


Ôi yêu thương cây cỏ đất này


Một bông hoa vàng cô đơn nở ngoài bìa xóm


Một bông cỏ may mọc lên giữa gò đất khô giòn


Một tiếng thá ví giục trâu đi


Và tiếng trẻ học bài nghe như nghẹn lại.


Hai mươi năm rồi ta mới có hôm nay


Bao máu đổ rồi ta mới có cánh đồng có cây có cỏ


Đường ta đi nghe hương đồng nội tỏa


Thấy vững lòng khi tiếp bước đi lên.


 


Bữa cơm vắt ăn trên đường hành quân


Bông cỏ may nói hộ lòng ta với mẹ.


Trảng Bàng, 7-1974.


 


 


 


ĐẾN LÀNG HUỶ DIỆT


Lếch thếch mang đồ đội nắng đi


Tôi đến với những làng huỷ diệt


Nghe vần thơ vang trong nắng khét


Ngọt ngào như một đám mây che.


Lộc Hưng, 1974.


 


MỘT KHÚC DÂN CA


Cứ ngỡ em là người đồng hương


Khi em hát bài dân ca quan họ


Những cái tên Cầu Lim, Nội Duệ


Trong lời em sao rộn rã tâm tình.


 


Câu hát đố, ai buông trên đồng


Để lòng ai bâng khuâng, lưu luyến


Cha mẹ ngày xưa nói với nhau như thế


Cho hôm nay ta thấy yêu hơn.


 


Nước sông Cầu ai mang lên Trường Sơn


Tắm mát những tâm hồn chiến sĩ


Đi với chúng mình những ngày đánh Mỹ


Có bao tâm tình trai gái yêu nhau.


 


Bãi bồi xanh từ phù sa sông sâu


Điệu dân ca gợi lên hồn dân tộc


Đất nước trải mấy ngàn năm đánh giặc


Vẫn ngọt ngào những khúc ca tình yêu.


 


Đường ta đi có nắng sớm mưa chiều


Những cánh đồng đã hoang mấy vụ


Câu căn dặn người ơi, người ở


Tâm tình xưa hôm nay lại vang lên.


 


Những câu hát đi từ bình yên


Âm vang suốt chiến trường khói lửa


Đất nước thân yêu có nhiều máu đổ


Và ngọt ngào bao làn điệu dân ca.


 


Người về làng hát khúc hát ngày xưa


Tiếng hát hôm nay rộng dài vô tận


Tiếng hát vui say chan hòa sắc nắng


Làm phù sa cho sông lại chở đi…


1974.


 


NGƯỜI NỮ CÁN BỘ TRẺ
Ở VÙNG VEN


Tặng Nguyễn Thị Hồng


Mùa lũ về con nước lên to


Em vượt sông ướt đầm mái tóc


Nhưng tiếng gọi của khoảng trời phía trước


Thiết tha, da diết gọi em về.


 


Bám dài những bước em đi


Ngày hành quân có khi đói lả


Đêm đột ấp bao điều mới lạ


Nút mìn chờ và con mắt săm soi.


 


Khi em là cô giáo giảng bài


Khi thợ cấy ngày mùa bận rộn


Bữa cơm chiều hôm nào cũng vội


Đội khăn theo du kích lên đường.


 


Em xôn xao với hơi thở chiến trường


Trăn trở tìm hồi sinh cho đất


Em bé nhỏ trong cái nhìn cô bác


Đột lớn lên sau trận san đồn.


 


Đôi mắt quầng thâm những đêm thức tròn


Bàn tay mảnh thêm vết sần chai sạn


Nơi bom thả ban ngày, ban đêm pháo sáng


Em nói với mọi người về lòng tin.


 


Những mái tranh gầy nhỏ mọc lên


Đám khói lam nhắc tên làng ngỡ mất


Trong âm thanh đất nước mình đánh giặc


Có tiếng vùng ven của em.


 


Như đống than âm ỉ trong đêm


Nhen lửa cho ngày mai đồng khởi!


 12-1974.


Nguồn: Gió vẫn thổi về từ biển. Thơ chọn lọc của Lê Quang Trang. NXB Văn học, 2009.


 

trieuxuan.info