LỜI TÁC GIẢ
Là người làm thơ nhiều năm, tôi nhận thấy ngày nay số thi nhân đã nhiều hẳn lên, tuy nhiên người đọc thơ cũng ít dần đi. Đó là một tương quan khá lạ lùng làm không ít người ray rứt. Trong đó có tôi. Chẳng hạn, năm 1990, tập “Thơ Nguyễn Khoa Điềm” do Thuận Hóa xuất bản, đã in tới 3.000 bản. Đó là con số hôm nay nhìn lại, không khỏi bỡ ngỡ.
Vì vậy, để có tập “Thơ Nguyễn Khoa Điềm” sau 40 năm cầm bút này, tôi đã đề xuất được lựa chọn rất chừng mực, những gì thật cần trình bày với độc giả, những gì mà người yêu thơ từng quen biết hoặc lần đầu quen biết có thể đón nhận và chia sẻ trong khung cảnh mới mẻ của đời sống thực tại. Tôi không muốn Tuyển thơ là một bảo tàng cũ kỹ của chữ nghĩa.
Tôi có ba mùa viết: mùa kháng chiến, mùa hòa bình và mùa trở lại vườn cũ trong tư cách một người nghỉ hưu. Tuy nhiên Tập thơ mà bạn cầm trong tay sẽ lướt trên các mùa sống và viết của ngày qua, để chỉ còn trang trải với người đọc hôm nay một tấm lòng luôn gắn bó và hy vọng.
Vỹ Dạ, tháng 7 năm 2011
Nguyễn Khoa Điềm
KHÚC HÁT RU NHỮNG EM BÉ LỚN TRÊN LƯNG MẸ
Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi,
Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ.
Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội,
Nhịp chày nghiêng, giấc ngủ em nghiêng.
Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi,
Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối,
Lưng đưa nôi và tim hát thành lời:
- Ngủ ngoan a kay * ơi, ngủ ngoan a - kay hỡi,
Mẹ thương a kay, mẹ thương bộ đội
Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần,
Mai sau con lớn vung chày lún sân…
Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi,
Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ.
Mẹ đang trỉa bắp trên núi Ka – lưi
Lưng núi thì to, mà lưng mẹ nhỏ,
Em ngủ ngoan em, đừng làm mẹ mỏi.
Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi,
Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng.
- Ngủ ngoan a kay ơi, ngủ ngoan a kay hỡi,
Mẹ thương a – kay, mẹ thương làng đói.
Con mơ cho mẹ hạt bắp lên đều
Mai sau con lớn phát mười Ka – lưi…
Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi,
Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ.
Mẹ đang chuyển lán, mẹ đi đạp rừng.
Thằng Mỹ đuổi ta phải rời con suối
Anh trai cầm súng, chị gái cầm chông,
Mẹ địu em đi để dành trận cuối.
Từ trên lưng mẹ em đến chiến trường,
Từ trong đói khổ em vào Trường Sơn.
- Ngủ ngoan a kay ơi, ngủ ngoan a kay hỡi,
Mẹ thương a kay , mẹ thương đất nước.
Con mơ cho mẹ được thấy Bác Hồ,
Mai sau con lớn làm người Tự Do…
25.3.1971
_______
* A kay: con (tiếng Tà ôi )
HÌNH DUNG VỀ CHÊ GHÊVARA
Tôi hình dung Chê đi trong rừng
Với khẩu AK.
Những viên đạn cài trong băng
Như hàm răng nghiến chặt.
Tôi hình dung Chê đi trong đêm
Đầu hơi cúi để nhận hướng từ mặt đất.
Những đống lửa rừng và ngôi sao không tên
Đều cháy lên từ tình yêu Tổ quốc.
Tôi hình dung Chê cuộn mình trong cơn sốt rừng
Thèm một bàn tay vuốt lên vầng trán.
Ôi, khi bàn tay người yêu ta bị mười cái đinh nhọn cắm
Kẻ thù! Nhăn buốt trán, Chê vùng đi!
Tôi hình dung mắt Chê lấp lánh điều chi,
Chê rũ đất sau trận bom rải thảm.
Ôi đôi mắt có tận cùng ánh sáng
Của tình yêu và trang sách Mác xanh tươi!
Tôi hình dung Chê đứng trước cuộc đời
Mười họng súng kẻ thù giương tận ngực,
Tỳ tay lên cái chết làm diễn đàn:
“ Hãy nhớ lấy lời tôi!” – Chê kêu gọi,
“ Nhân loại cần nhiều Việt Nam cho nhân loại!”
Tôi đi hoài với những hình dung
Về Chê Ghêvara – người nghĩa quân
Như mang một chiếc Tây ban cầm trước ngực...
Từ mặt đất và trong lòng đất
Nơi in sâu những dấu chân du kích
Quê hương tôi, Việt Nam
Tôi bỗng nhận ra trong những dấu chân
Trọn vẹn trang nhật ký đời Chê
Đã được viết lên
Trên mỗi thước đất của loài người đi tới...
11.12.1972
ĐẤT NGOẠI Ô
Khu phố ngoại ô
Tấm tã rụng bên dòng sông
Những người dân nghèo về đây
Như vỏ hến chiều chiều tấp lên các bến.
Khu phố ngoại ô
Chân đất, đội áo nối vai
Le te chợ Hôm, chợ Mai
Đầu tắt mặt tối.
Khu phố ngoại ô nằm nghe mưa nguồn và chớp bể
Đêm thầm tính những chuyến đò về trong giấc ngủ
Trăn trở trôi đi những năm nào
Vỗ về một ngày lam lũ
Trong tiếng nấc dài cuối ngã ba sâu.
Tôi lớn lên trên khu phố buồn đau
Không còn gặp cụ Trâu * và những lâu đài cũng chìm dần trong lá xanh
trùm kín cửa,
Vườn thơ xưa không còn gã áo trắng đi về
Ngơ ngẩn đọc thơ buồn trong tiếng guốc cạo râu
Chỉ còn người phu xe cũ
Nghiêng cốc rượu chiều nhòe những mái tôn
Chỉ có nắng rát mặt những quán nghèo bám bờ đường nhựa
Chỉ còn mẹ tôi ngồi bán hàng suốt mùa mưa
Nước mắt thương chồng lạnh như giọt nước đọng qua cửa thùng gương
Ôi những cuộc đời sụt lở dần theo con nước mỗi năm lùa vô Đập Đá
Chỉ có tiếng xe đoàn lê dương lăn lạo xạo trên những đốt lưng trần
Chỉ có tiếng còi tàu há mồm rúc vào mạch máu
Trước Phu Văn Lâu lá cờ vàng như tàu cải úa
Trước bến Văn Lâu...
Đau biết mấy lần mẹ hát khúc ca dao...
Lũ chúng tôi lớn lên
Con gái đi học về còn biết ra sông gánh nước
Con trai còn biết đọc Lục Vân Tiên và thơ Mụ Đội cho bà
Qua hoàng thành, cha ông gọi tên tôi ù ù trong họng súng thần công
Hịch Cần Vương tưởng còn vang qua chín cửa
Sắc nghìn xưa thấm từng trang sử
Đời bà con nghèo đọng giữa đáy truyền đơn
Nước mặn lên lúa héo ở bên cồn
Mẹ vẫn dặn nói “đổi nước ngọt” chứ đừng “bán nước”
Nắng tháng năm run rẩy những oan hồn
Người còn sống nhớ ngày thất thủ**
Ôi mùa phượng của lòng tôi cháy đỏ
Chúng tôi đi từ cửa ngoại ô này...
Mười lăm năm đâu phải một ngày xa
Người bạn cũ đã thành đồng chí
Đêm đêm khơi từng ngọn lửa
Kể tôi nghe chuyện mụ lý, ông cò
Những tấm lòng bền bỉ
Cứng như hòn đất chai
Mong đợi một ngày Giải phóng.
Có bao giờ như buổi sáng Xuân nay
Chúng ta bay, nghìn độ lửa, ta bay
Đất đuổi giặc, đất vươn dài bén gót
Mang Cá tan hoang, Phú Bài vỡ mặt
Ngoại ô mở rồi trăm lối ta băng băng
Trái tim hồng lắp đầu súng chống tăng
Ta đã lớn, ơi em, đồng chí
Dưới mái xưa nhìn theo ta ứa lệ
Sức trăm năm nay chuyển xuống lòng đường
Cả ngoại ô làm chiến lũy sông Hương
Bắn tàu giặc như lá vàng héo rụng
Em gái cứu thương, em trai cầm súng
Mẹ may cờ, em nhỏ đón văn công
Cửa Ủy ban rực rỡ cờ hồng…
Cảm ơn mẹ sinh con trên thành phố ngàn ngày
Nắng và mưa, mười lăm năm bỡ ngỡ
Nay con lại chào người dưới một vùng đạn lửa
Người đẹp vô cùng với khẩu súng trong tay
Dưới mái nhà xưa
Người chiến sĩ đánh Tây
Mười lăm năm lại có mặt trên bàn thờ
Bạn con đến thắp nén hương thơm ngát
Mắt cha vui phấp phới bóng trăm cờ...
Ngoại ô bừng bừng tiếng hát
Ngực căng phồng trấn giữ Thuận An.
1969
_____
* Cụ Trâu: một cụ già nghèo thường kể vè trên các ngã đường thành phố Huế.
** Ngày thất thủ Kinh đô: 23 tháng 5 âm lịch (1885).
(còn tiếp)
Nguồn: Thơ Nguyễn Khoa Điềm. Tuyển tập 40 năm do tác giả tự chọn. NXB Văn học sắp phát hành.
www.trieuxuan.info
|